LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh dẫn vốn quan trọng đồng thời đóng
vai trò là thước đo đánh giá hoạt động của nền kinh tế, nơi Chính phủ thi hành nhiều
biện pháp quản lý đối với cả nền kinh tế. TTCK Việt Nam đã bước sang năm hoạt
động thứ 11, tuy nhiên, tương tự tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam, TTCK còn tồn tại
nhiều vấn đề bất cập và dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động kinh tế thế giới và
những thông tin vĩ mô, thông tin về chính sách của Nhà nước. Trong giai đoạn suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 (có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính Mỹ), thị
trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng nặng
nề, gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia.
Giai đoạn đầu năm 2009 đã có một số nghiên cứu về tác động của khủng hoảng
tài chính Mỹ tới TTCK Việt Nam nhưng những nghiên cứu này chủ yếu mang tính
chất thời điểm, chưa chỉ ra được những tác động khái quát trong cả thời kỳ. Bên cạnh
đó, từ năm 2009, kinh tế thế giới đã có nhiều biến động: sự phục hồi của các nền kinh
tế, khủng hoảng nợ châu Âu (bắt nguồn từ Hy Lạp). Do đó, việc nghiên cứu đề tài
"Phân tích ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới đến thị trường chứng khoán
Việt Nam từ năm 2009 tới nay" là một vấn đề cấp thiết hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận, lý thuyết cơ bản thị trường chứng khoán,
suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán.
Từ những lý thuyết chung, Khóa luận đưa ra những phân tích về tác động của suy
thoái kinh tế tới nền kinh tế vĩ mô Việt Nam nói chung và TTCK nói riêng, chỉ ra
những mặt hạn chế và bất cập trong nội tại TTCK và chính sách vĩ mô Việt Nam.
Trên cơ sở những tác động của suy thoái kinh tế tới TTCK, Khóa luận đề xuất 1
số giải pháp để hạn chế những tác động đó, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển và hoàn
thiện TTCK trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- 5 -
Khóa luận tập trung nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài
chính Mỹ tới TTCK Việt Nam thông qua những biểu hiện cụ thể về biến động giá và
chỉ số giá, khối lượng và giá trị giao dịch và tác động qua tâm lý các nhà đầu tư.
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các chứng khoán niêm yết trên hai sàn HoSE và
HaSTC trong thời gian từ đầu năm 2009 đến nay, những đánh giá về các thời kỳ
trước đó chỉ nhằm mục tiêu làm rõ những biến động của TTCK trong giai đoạn từ
năm 2009 tới nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin
từ các báo cáo của các tổ chức nghiên cứu kinh tế, các công ty chứng khoán Việt Nam
và thế giới về tình hình kinh tế và TTCK, từ đó đưa ra những nhận xét và đánh giá về
tác động trong cả thời kỳ và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế những tác động bất lợi
đó.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Khái quát về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới thị trường chứng
khoán.
Chương II: Phân tích tác động của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Chương III: Định hướng phát triển thị trường và các giải pháp đề xuất nhằm
hạn chế tác động của suy thoái đối với thị trường chứng khoán
Do tác giả còn hạn chế về hiểu biết và thời gian nghiên cứu nên Khóa luận có thể
còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự phê bình góp ý từ các thầy cô và
các bạn để có thể hoàn thiện Khóa luận tốt hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
- 6 -
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI
KINH TẾ TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Giới thiệu tổng quan về thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1.1. Định nghĩa
Có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường chứng khoán (TTCK), nhưng nhìn
chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán là một
thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán
nhằm mục đích kiếm lời.
1
Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra các
hoạt động làm thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Theo quan điểm tài chính, thị trường chứng khoán hay thị trường tài chính trực
tiếp là kênh dẫn vốn trong đó vốn được dẫn trực tiếp từ người sở hữu vốn sang người
sử dụng vốn, ở đó các chứng khoán (trái phiếu và cổ phiếu) trung và dài hạn (từ 1
năm trở lên) được mua bán.
2
Khái niệm "Thị trường tài chính" được hiểu theo nghĩa
chung nhất trong theo Frederic S.Mishkin (2007, tr.3) là " financial markets, markets
in which funds are transfered from people who have an excess of available funds who
have a shortage". Trên thị trường chứng khoán thì người thiếu hụt vốn, người huy
động vốn thường là các công ty, Chính phủ và các quỹ đầu tư còn người dư thừa vốn
hay các nhà đầu tư thường là các cá nhân, hộ gia đình, các công ty khác, Chính phủ
hay các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
Qua hai khái niệm trên ta thấy, bản chất của thị trường chứng khoán là nơi diễn ra
sự luân chuyển vốn (tiền) trực tiếp từ người dư thừa vốn đến người thiếu hụt vốn
(không qua các trung gian tài chính) thông qua các công cụ tài chính, cụ thể là các
loại chứng khoán trung và dài hạn. Trong đó, chứng khoán - hàng hóa của thị trường
chứng khoán
3
- được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
1 Đinh Xuân Trình (2008), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.8
2 Nguyễn Văn Tiến (2009), Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, tr.121
3 Sđd, tr.121
- 7 -
người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, là công cụ dẫn
xuất khác hình thành trên cơ sở những công cụ đã có. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: (i) Cổ phiếu,
trái phiếu, chứng chỉ quỹ; (ii) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,
quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Trong điều kiện hàng hóa của TTCK ngày càng phong phú, đa dạng, người ta
phân chia chứng khoán thành 5 nhóm chính: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
4
Sơ đồ 1.1: Các nhóm hàng hóa trên TTCK
Nguồn: Tổng hợp từ Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng
1.1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại TTCK, phụ thuộc vào căn cứ phân loại. Những căn cứ
phân loại phổ biến đối với TTCK được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 1.1 : Phân loại thị trường chứng khoán theo một số căn cứ chủ yếu.
Căn cứ Phân loại
Thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp
Khái
niệm
Là thị trường mua bán các chứng
khoán mới phát hành.
Là nơi giao dịch các chứng khoán
đã phát hành.
Vai trò
- Tạo vốn cho nhà phát hành, tăng
vốn cho nền kinh tế;
- Tạo hàng hóa cho TTCK.
- Đảm bảo tính thanh khoản cho
chứng khoán
Đặc điểm - Nơi duy nhất đem lại vốn cho - Vốn luân chuyển giữa các nhà
4 Ủy ban Chứng khoán nhà nước (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường
chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.55
- 8 -
Sự luân chuyển nguồn vốn
nhà phát hành;
- Giá chứng khoán do tổ chức phát
hành quy định;
- Chỉ tổ chức một lần.
đầu tư;
- Giá do thị trường quy định;
- Thị trường cạnh tranh tự do và
hoạt động liên tục.
Phương thức hoạt động
Thị trường tập trung Thị trường phi tập trung
Khái
niệm
Là thị trường giao dịnh chứng
khoán được thực hiện tại một
điểm tập trung là sàn giao dịch
Là thị trường không có trung tâm
giao dịch tập trung
Đặc điểm
- Thông qua trung gian
- Công khai tài chính
- Niêm yết chứng khoán
- Giao dịch theo nguyên tắc đấu
giá
- Giao nhận và thanh toán bù trừ
- Lưu ký tại sàn giao dịch
- Giao dịch trực tiếp hoặc thông
qua trung gian
- Chứng khoán không niêm yết
- Giá cả thỏa thuận
- Giao nhận và thanh toán theo
thỏa thuận
- Lưu ký tự do
Hàng hóa
Thị trường
Cổ phiếu
Thị trường
Trái phiếu
Thị trường các Công
cụ phái sinh
Hàng hóa
- Cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi
- Trái phiếu công ty
- Trái phiếu Chính phủ
-Trái phiểu đô thị
- Quyền mua cổ phần
- Chứng quyền
- Hợp đồng quyền
chọn
Nguồn: Tổng hợp từ Ủy ban chứng khoán Nhà nước
1.2. Một số đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán
1.2.1. Bản chất
- TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm
5
, chuyển vốn từ tư bản
sở hữu sang tư bản sản xuất, kinh doanh. Các nguồn vốn tiết kiệm được tập trung từ
những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để phân phối lại cho những chủ thể muốn sử
dụng nguồn tiết kiệm này theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo những dự
đoán của thị trường về khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro của các dự án sử
dụng nguồn tiết kiệm đó.
5 Ủy ban Chứng khoán nhà nước (2009), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường
chứng khoán, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.33
- 9 -
- TTCK là định chế tài chính trực tiếp nơi mà cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia
thị trường trực tiếp theo nguyên tắc đầu tư, không thông qua các trung gian tài chính,
do đó quyền sử dụng và quyền sở hữu nguồn vốn gắn chặt với nhau hơn, nâng cao
khả năng theo dõi và quản lý nguồn vốn.
Dòng vốn từ tiết kiệm đến đầu tư và mối quan hệ giữa các trung gian tài chính và
nội bộ thị trường tài chính có thể được tóm lược qua sơ đồ sau:
Các trung gian tài chính
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Thị trường vốn
cổ phần
Thị trường nợ
Thị trường hối đoái
Thị trường chứng khoán phái sinh
TIẾT KIỆM
ĐẦU TƯ
Sơ đồ 1.2: Quá trình lưu chuyển vốn trong nền kinh tế và mối quan hệ giữa
trung gian tài chính và các bộ phận của thị trường tài chính
Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Tóm lại, có thể nói TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ, nơi
mà các chứng khoán có thể mang lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời
gian nhất định. Các chứng khoán này được lưu thông trên TTCK theo giá thị trường
- 10 -
và có bề ngoài tương tự tư bản hàng hóa. Tuy nhiên, không giống các thị trường hàng
hóa khác, chứng khoán là quyền sở hữu về hàng hóa nên ta có thể nhận định TTCK là
hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
6
1.2.2. Chức năng
Dựa trên bản chất, TTCK có các chức năng chủ yếu như sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: đây là kênh huy động vốn quan trọng đối với
mỗi nền kinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế phát triển – nơi mà vốn đòi hỏi phải
được luân chuyển tự do trong cả nền kinh tế;
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK là một kênh đầu tư quan trọng ,
giúp đa số công chúng có thể sử dụng vốn nhàn rỗi một cách hiệu quả, thông qua việc
đầu tư vào TTCK hoặc đầu tư gián tiếp qua các định chế tài chính;
- Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán: đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách năng
động và hiệu quả
7
;
- Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế: TTCK được coi là "phong
vũ biểu" của nền kinh tế, thường thể hiện một cách chính xác và nhạy bén tình hình
các công ty nói riêng và cả thị trường nói chung;
- Giúp chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô: Chính phủ có thể huy động vốn nhằm bù
đắp thiếu hụt ngân sách, đồng thời các chính sách, quy định của Chính phủ có thể tác
động tới nền kinh tế thông qua TTCK;
- Hội nhập kinh tế thế giới: Thông qua TTCK, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của các Công ty nước ngoài hay mua Trái phiếu do Chính
phủ các nước phát hành, từ đó tạo điều kiện cho mỗi quốc gia hội nhập kinh tế thế
giới sâu rộng hơn.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động
Ngoài nguyên tắc Cạnh tranh tự do, Công bằng là nguyên tắc cơ bản của nền kinh
tế thị trường nói chung, TTCK hoạt động dựa trên 3 nhóm nguyên tắc cơ bản:
- Công khai: do đặc tính là hàng hóa trừu tượng nên TTCK đòi hỏi phải có hệ thống cơ
sở thông tin tốt đảm bảo: Chính xác, Kịp thời và Dễ tiếp cận.
6 Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia, tr.46
7 Bạch Đức Hiển (2007), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, tr.13-14
- 11 -
- Trung gian: các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp từ các nhà phát hành mà mua
từ các nhà bảo lãnh phát hành.
8
- Đấu giá: Bao gồm 3 hình thức đấu giá dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường:
+ Đấu giá trực tiếp: các nhà môi giới gặp nhau trực tiếp thông qua một chuyên gia
chứng khoán làm trung gian tại quấy giao dịch để thương lượng.
+ Đấu giá gián tiếp: các nhà môi giới thương lượng thông qua hệ thống điện thoại
và mạng máy tính.
+ Đấu giá tự động: đấu giá qua máy chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của
các công ty chứng khoán thành viên, các lệnh mua – bán được khớp tự động khi
có lệnh phù hợp. Hiện tại, đây là hình thức giao dịch chủ yếu trên thế giới.
1.2.4. Chủ thể
Các chủ thể tham gia vào TTCK được chia thành 4 nhóm lớn:
(i) Nhà phát hành: là những người huy động vốn – cung cấp hàng hóa cho
TTCK.
- Chính phủ, chính quyền địa phương phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
địa phương, tín phiếu.;
- Công ty là nhà phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty;
- Các tổ chức tài chính phát hành nhiều loại công cụ tài chính tùy thuộc vào mục
đích hoạt động của họ.
(ii)Nhà đầu tư: những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường, bao gồm
cả nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức – các định chế đầu tư như các
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ lương hưu và các quỹ bảo
hiểm xã hội khác. Các tổ chức đầu tư tận dụng kinh nghiệm và sự đa dạng hóa
danh mục đầu tư để giảm rủi ro.
(iii) Các tổ chức kinh doanh: bao gồm các Công ty chứng khoán với nghiệp vụ tự
doanh, bảo lãnh phát hành, môi giới, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư và
các Ngân hàng thương mại đầu tư vào TTCK nhằm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro
trên cơ sở đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Tại Việt Nam, các công ty chứng khoán phải có số vốn nhất định và đảm bảo thực
hiện những quy định cụ thể khi thực hiện mỗi nghiệp vụ kể trên còn các Ngân
hàng thường thành lập công ty chứng khoán là công ty con để đầu tư và bảo lãnh
phát hành chứng khoán.
8 Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia, tr.58
- 12 -
(iv) Các tổ chức có liên quan: bao gồm các Cơ quan quản lý (thường là các Ủy ban
chứng khoán Nhà nước), Sở giao dịch, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ,
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và
Tổ chức tài trợ chứng khoán.
1.3. Các tiêu chí chủ yếu đánh giá hoạt động của thị trường chứng khoán
1.3.1. Giá và chỉ số giá
- Giá chứng khoán ở đây được hiểu là giá đóng cửa của mỗi mã chứng khoán
được niêm yết và giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán. Giá chứng
khoán phản ánh giá trị thị trường của mỗi loại chứng khoán, đồng thời xu hướng tăng
giảm của giá chứng khoán phản ánh sự phát triển và đánh giá của thị trường nói
chung về công ty niêm yết.
- Về chỉ số giá, theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Cơ sở khoa học và thực
tiễn xây dựng chỉ số giá chứng khoán và một số gợi ý cho Việt Nam" (UBCKNN,
1999), mục tiêu cơ bản của việc xây dựng chỉ số giá nói chung và chỉ số giá chứng
khoán nói riêng là xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự biến động của giá theo thời
gian. Hiện nay, các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp tính chỉ số giá sau:
(i) Chỉ số giá Passcher: là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là
số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán. Đây là loại chỉ số giá chứng khoán
thông dụng nhất, các chỉ số KOSPI (Hàn quốc); S&P500 (Mỹ); FT-SE 100 (Anh);
TOPIX (Nhật); CAC (Pháp); TSE (Đài loan); Hangseng (Hồng Kông); các chỉ số của
Thuỵ Sỹ và Việt Nam đều áp dụng phương pháp này.
(ii) Chỉ số giá Laspeyres: là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số
là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Có rất ít nước áp dụng phương pháp này, tiêu
biểu là chỉ số FAZ, DAX của Đức.
(iii) Chỉ số giá bình quân Fisher: là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá
Passcher và chỉ số giá Laspayres. Phương pháp này khắc phục được yếu điểm của hai
phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2
thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán.
- 13 -
(iv) Chỉ số giá bình quân giản đơn: áp dụng khi mức giá của các cổ phiếu tham
gia niêm yết khá đồng đều tức là độ lệch chuẩn thấp. Các chỉ số Dow Jone (Mỹ);
Nikkei 225 (Nhật); MBI (Italia) áp dụng phương pháp này.
(v) Chỉ số giá bình quân nhân giản đơn: áp dụng khi độ lệch chuẩn và phương
sai khá cao. Các chỉ số: Value line (Mỹ); FT-30 (Anh) được tính theo phương pháp
này.
Quyền số thường được dùng trong tính toán chỉ số giá cổ phiếu là số chứng
khoán niêm yết. Riêng ở Đài Loan thì họ dùng số chứng khoán trong lưu thông làm
quyền số, bởi vì tỷ lệ đầu tư của công chúng rất cao ở đây (80 - 90%).
Ngoài ra, khi tính chỉ số giá cần quan tâm tới hai yếu tố:
- Chọn rổ đại diện: Ba tiêu thức quan trọng để xác định sự tiêu biểu của cổ phiếu
để chọn vào rổ đại diện là số lượng cổ phiếu niêm yết, giá trị niêm yết và tỷ lệ giao
dịch, mua bán chứng khoán đó trên thị trường (khối lượng và giá trị giao dịch).
Sở giao dịch chứng khoán New York có trên 3000 cổ phiếu niêm yết, nhưng chỉ
số tổng hợp Dow Jones chỉ bao gồm 65 cổ phiếu mà vẫn phản ánh được xu thế, động
thái của quá trình vận động của giá cả (trong đó, chỉ số Dow Jones công nghiệp -
DJIA gồm 30 cổ phiếu, Dow Jones vận tải – DJTA bao gồm 20 cổ phiếu và Dow
Jones dịch vụ - DJUA gồm 15 cổ phiếu). Những cổ phiếu trong rổ đại diện này không
còn tiêu biểu bị thay thế bởi cổ phiếu tiêu biểu hơn (tháng 11/1999, sàn New York đã
thay 4 cổ phiếu trong rổ đại diện).
Đối với Việt Nam – một TTCK mới ra đời, do số lượng các cổ phiếu niêm yết
chưa nhiều nên rổ đại diện nên bao gồm tất cả các cổ phiếu. Tuy nhiên cũng nên chú
ý đến khối lượng và giá trị giao dịch. Nếu một cổ phiếu nào đó trong một thời gian
dài không có giao dịch hoặc giao dịch không đáng kể thì nên tạm loại khỏi phạm vi
tính toán.
- Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị: Các yếu tố như thêm, bớt hay thay
đổi thành phần trong rổ đại diện; nhập, tách cổ phiếu; thưởng cổ phần sẽ làm cho
chỉ số giá không phản ánh chính xác sự biến động của riêng giá. Để trừ khử ảnh
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét