Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay

- Hình thành thể chế XHHGD (văn bản, chế định pháp luật).
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHGD.
- Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai và thực hiện XHHGD.
1.3. GIÁO DỤC MẦM NON TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1.3.1. Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
1.3.1.1. Vị trí, vai trò của Giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục Quốc dân.
Tầm quan trọng của giáo dục mầm non là ở chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho
việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Niềm tin
và hy vọng của từng gia đình và cả xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước
trông chờ ở sự phát triển hàng ngày ở lứa tuổi măng non này. Chính vì vậy, hội
nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2 khoá VIII đặt ra mục tiêu đến năm
2020 phải “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ
em trong độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”.
1.3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Điều 21,22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu giáo
dục mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến sáu tuổi”, "Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp
trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố
đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một”.
1.3.2. Quản lý giáo dục mầm non.
Quản lý giáo dục mầm non là công tác quản lý trong hệ thống quản lý
giáo dục, có mạng lưới quản lý chuyên môn từ cấp Bộ xuống các trường, cơ sở
giáo dục mầm non theo ngành
1.4. XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON
1.4.1. Bản chất của công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
Bản chất của xã hội hoá giáo dục mầm non là lôi cuốn mọi lực lượng xã
hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục mầm non để thực hiện chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục cho trẻ em trong độ tuổi. Xã hội hoá giáo dục mầm non cũng
phản ánh bản chất của luận đề “Giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả cho sự
nghiệp giáo dục” (Education for- All for Education) viết tắt là EFA - AEF.
Để thực hiện có hiệu quả xã hội hội hoá giáo dục mầm non cần quán triệt
đầy đủ bốn vấn đề sau:
- Cộng đồng hoá trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện xã hội
hoá giáo dục mầm non.
- Đa dạng hoá các loại hình giáo dục mầm non.
5
- Đa phương hoá thu hút các nguồn lực cho giáo dục mầm non. Nhà
nước – nhân dân, trung ương - địa phương, ngành giáo dục – các ngành hữu
quan, trong nước – ngoài nước.
- Thể chế hoá chủ trương XHH giáo dục thành các quy định, chế tài đối với
nghĩa vụ, trách nhiệm của các lực lượng xã hội đối với việc tham gia vào GDMN.
1.4.2. Vai trò của xã hội hoá giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay
Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ
chức giáo dục mầm non bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì
quá khả năng kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho
các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em. Vì vậy xã hội hoá
giáo dục mầm non nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội.
- Xã hội hoá giáo dục mầm non góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các
điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học.
- Việc huy động các nguồn lực cho giáo dục mầm non đã góp phần tạo
nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc, giáo dục.
- Xã hội hoá giáo dục mầm non sẽ tạo ra sự công bằng, dân chủ trong
hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non.
1.5. NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ CÔNG TÁC XHH GIÁO DỤC MẦM NON
1.5.1. Nguyên tắc lợi ích đối với mọi chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm
thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non
1.5.2. Nguyên tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng
tham gia quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non
1.5.3. Nguyên tắc Dân chủ - Tự nguyện - Đồng thuận
1.5.4. Nguyên tắc tuân thủ pháp lý
1.5.5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất theo Ngành - Lãnh thổ
1.5.6. Nguyên tắc kế hoạch hoá mọi hoạt động
1.6. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON.
1.6.1. Quản lý nâng cao nhận thức của các lực lượng xã hội trong việc
thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non. Những công việc phải tiến hành là:
tuyên truyền, phổ biến các văn bản của Đảng, Nhà nuớc, của Ngành giáo dục về
XHH giáo dục mầm non thông qua tập huấn, hội nghị, hội thảo, toạ đàm, tư
vấn, xây dựng góc tuyên truyền, biên soạn tài liệu,…Mục đích giúp cho các lưc
lượng trong xã hội nắm được, hiểu và vận dụng vào phát triển GDMN.
1.6.2. Quản lý phát huy tác dụng của trường mầm non vào đời sống cộng
đồng, bao gồm: Xây dựng kế hoạch phát triển có tính khả thi; tổ chức thực hiện
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; phổ biến kiến thức nuôi dạy con
6
cho các bậc cha mẹ; xây dựng hệ thống trường điểm, trường chuẩn chất lượng,
tạo mối quan hệ tốt giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng xã hội trong việc
chăm sóc giáo dục trẻ.
1.6.3. Huy động tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trình tổ chức
giáo dục. Cần tập trung: xây dựng và hoàn thiện dần cơ chế phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc tổ chức tham gia cùng làm
giáo dục; phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách nhà nước và tiềm năng
xã hội; mở rộng khả năng đóng góp của mọi người cho GDMN; tổ chức các
hoạt động, phong trào để tạo động lực trong việc huy động tiềm năng xã hội để
phát triển GDMN; phát huy truyền thống họ tộc, lễ hội và cá nhân; đẩy mạnh
hợp tác quốc tế về GDMN.
1.6.4. Xây dựng và vận hành cơ chế quản lý: Tăng cường công tác chỉ
đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đồng thời phát huy vai trò chủ động nòng
cốt của ngành giáo dục và trường mầm non; tổ chức việc phối hợp của các ban
ngành, đoàn thể tham gia vào phát triển GDMN; củng cố và phát huy diễn đàn
Đại hội nhân dân và XHH giáo dục mầm non.
Như vậy, nội dung quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non là rất
phong phú. Nhưng trong điều kiện thời gian và khả năng, đề tài chỉ đi sâu
nghiên cứu một số nội dung quản lý về quản lý công tác XHH giáo dục mầm
non ở tỉnh Nam Định. Tập trung vào nội dung tuyên truyền, cung cấp thông tin
để nâng cao nhận thức về XHH giáo dục mầm non, xây dựng kế hoạch phát
triển giáo dục mầm non, huy động sự đóng góp của các lực lượng xã hội và vận
dụng cơ chế điều hành nguồn ngân sách, thu hút các tiềm năng xã hội cho phát
triển GDMN.
1.7. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON.
Nhiều nước trên thế giới đã coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
và đã đầu tư rất lớn cho giáo dục. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho
thấy sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục là phổ biến, thể hiện được nội
hàm của xã hội hoá giáo dục.
7
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ việc nêu tổng quan của vấn đề nghiên cứu, khẳng định một số khái niệm cơ
bản về công tác quản lý, quản lý xã hội hoá giáo dục, quản lý giáo dục mầm non,
những nguyên tắc cơ bản trong quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non, những kinh
nghiệm xã hội hoá giáo dục mầm non của các nước trên thế giới đã chỉ ra những vấn đề
lý luận mang tính định hướng và việc vận dụng cho quản lý công tác xã hội hoá giáo
dục mầm non tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KT- XH TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.1 Tình hình phát triển KT-XH
Nam Định là một tỉnh duyên hải, nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, với
diện tích là 1.669,36 km
2
. Dân số Nam Định là 1.947.156 người.
2.1.2. Tình hình phát triển Giáo dục mầm non tỉnh Nam Định
2.1.2.1. Những kết quả đạt được
- Quy mô giáo dục mầm non phát triển đều khắp ở các địa phương, số trẻ
đến trường có tỷ lệ cao so với bình quân chung của cả nước.
- Chất lượng chăm sóc giáo dục: các trường mầm non tập trung chỉ đạo và thực
hiện chất lượng giáo dục toàn diện, cơ bản đã đạt được kết quả rõ nét.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha
mẹ; sự phối hợp các lực lượng trong xã hội, gia đình và nhà trường trong công
tác chăm sóc giáo dục trẻ được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả
- Đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên mầm non (GVMN):
đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non (GVMN) yêu nghề, mến trẻ, tích
cực học tập nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: các trường mầm non được tập trung xây
dựng mới với tốc độ nhanh, tiếp cận với công trình đạt chuẩn, hiện đại.
2.1.2.2. Những khó khăn bất cập cần tập trung giải quyết.
- Quy mô giáo dục mầm non: trường mầm non khu vực nông thôn chiếm
đa số (91,7%) nhiều nơi còn các nhóm lớp quy mô nhỏ, phân tán, diện tích mặt
bằng chật hẹp, không đủ điều kiện lại đan xen giữa các khu dân cư gây khó
khăn cho việc đầu tư theo yêu cầu.
- Chất lượng chăm sóc giáo dục: những khu lớp nhỏ lẻ, chất lượng chăm
sóc giáo dục còn yếu kém, công trình vệ sinh, bếp nuôi ăn chưa đạt yêu cầu.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí cho hoạt động chuyên môn:
toàn tỉnh còn 42 trường mầm non (chiếm 16,4%) có cơ sở vật chất yếu kém,
bàn ghế không đúng quy cách, thiếu giá, tủ đồ dùng học tập, bảng và đồ chơi
8
ngoài trời. Cơ sở vật chất nhiều nơi xuống cấp: còn 2.333 phòng học là nhà cấp
4 (chiếm 60,8%), trong đó 98 phòng hết niên hạn sử dụng, 28 phòng học nhờ.
- Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên: hiện còn 2 CBQL chưa đạt chuẩn
(chiếm 0,4%). Các trường mầm non nông thôn còn 17 CBQL chưa được biên
chế nhà nước và đa số chỉ có 1 giáo viên trên một lớp mẫu giáo. Trình độ chuyên
môn, năng lực sư phạm của một số giáo viên còn hạn chế, tuyên truyền vận động
thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục ở địa phương và tham mưu đẩy mạnh các
hoạt động của nhà trường còn lúng túng. Còn 13% giáo viên chưa đạt chuẩn.
- Cơ chế điều hành và chế độ chính sách: chức năng, nhiệm vụ và trách
nhiệm của các cơ quan tham gia quản lý giáo dục mầm non chưa mạnh, còn
chồng chéo, thiếu chủ động.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM
NON TỈNH NAM ĐỊNH.
Để đánh giá khách quan kết quả công tác quản lý xã hội hoá giáo dục
mầm non của tỉnh Nam Định, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng ở 90
xã, phường, bao gồm 32 trường có phong trào GDMN tốt, chiếm 35,5%, 37
trường khá, chiếm 41,2% và 21 trường trung bình, chiếm 23,3%. Chúng tôi đã
xây dựng bộ phiếu phỏng vấn cho 341 người gồm 4 đối tượng: Lãnh đạo Đảng,
Chính quyền địa phương (81/229 người, chiếm 35,4% gồm 27 đ/c là Bí thư
Đảng bộ xã - Phường, 34 đồng chí là Chủ Tịch UBND và 20 đồng chí là Phó bí
thư, phó chủ tịch UBND xã - phường). Cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD)
mầm non (87/ 256 người, chiếm 34% ; trong đó có 20 chuyên gia giáo dục mầm
non Sở và phòng GD-ĐT, 63 hiệu trưởng, 4 phó hiệu trưởng các trường mầm
non công lập, dân lập trên địa bàn 9 huyện và 1 thành phố). Cha mẹ học sinh
(chủ yếu là trưởng phó ban phụ huynh : 86/ 256 người, chiếm 33,6%); Giáo
viên mầm non (87/670 người, chiếm 13%).
Chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn sâu 11 đồng chí lãnh đạo địa
phương của huyện Nam Trực và Thành phố Nam Định, 10 đồng chí Hiệu
trưởng trường mầm non của huyện Ý Yên để tìm hiểu những nhận xét của họ về
năng lực của CBQL giáo dục mầm non trong việc thực hiện công tác xã hội hoá
giáo dục.
9
2.2.1. Nhận thức về công tác XHH giáo dục mầm non của các đối tượng
điều tra ở tỉnh Nam Định
2.2.1.1. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHH giáo dục mầm non của
các đối tượng điều tra.
10
Bảng 2.3. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD mầm non
Đối tượng (N = 260) Cha mẹ HS
( n = 86)
Cán bộ quản lý
(n = 87)
Giáo viên
( n = 87)
TS % TS % TS %
Rất quan trọng 67 78,0 81 93,1 72 82,7
Quan trọng 15 17,5 6 6,9 13 15,0
Ít quan trọng 3 4,5 0 0 2 2,3
Không quan trọng 0 0 0 0 0 0
Theo bảng số 2.3 cho thấy: Các đối tượng khảo sát đều nhận thức rõ về
tầm quan trọng của công tác XHHGD, và xếp chúng ở vị trí rất quan trọng
(CMHS: 78%; CBQL: 93,1%; GV: 82,7%). Tuy nhiên còn 4,5% CMHS và 2,3%
GV cho là ít quan trọng.
2.2.1.2 Nhận thức về nội dung công tác xã hội hoá giáo dục mầm non
Với câu hỏi: “ Công tác XHH giáo dục chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật
chất cho giáo dục mầm non”, 341 người tham gia trả lời bằng phiếu hỏi đã đánh dấu
vào các ô cho sẵn theo ba mức độ nhận thức của cá nhân: đồng ý, phân vân và không
đồng ý. Kết quả tổng hợp theo bảng 2.4.
Bảng 2.4. Nhận thức của đối tượng khảo sát về nội dung công tác XHHGD
Chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho GDMN
Đối tượng ( N= 341)
Mức độ nhận thức
CMHS
(n = 86)
CBQL
(n = 87)
GVMN
(n = 87)
LĐĐP
( n = 81)
TS % TS % TS % TS %
Đồng ý 4 4,6 6 6,9 7 8,0 5 6,2
Phân vân 19 22,1 8 9,2 10 11,5 6 7,0
Không đồng ý 63 73,2 73 83,9 70 80,5 70 86.4

Kết quả khảo sát trên đã cho thấy: số người không đồng ý chỉ coi XHH
giáo dục là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non chiếm tỷ
lệ cao (CMHS: 73,2%; CBQLGD: 83,9%; GV: 80,5, LĐ ĐP: 86,4%), tuy nhiên
vẫn còn 4,6% CMHS, 6,9% CBQL, 8% GVMN và 6,2% LĐĐP đồng ý cho rằng
XHHGD chỉ là huy động tiền của và CSVC cho GDMN. Còn 22,1 CMHS
11,5%GVMN, 9,2 CBQL và 7% LĐĐP phân vân chưa rõ, chưa hiểu đúng vấn đề
này. Đặc biệt là cán bộ quản lý và lãnh đạo địa phương là chủ thể quản lý công
tác XHH giáo dục mầm non nhưng vẫn còn một số người chưa hiểu đúng bản
chất của XHHGD. Nhận thức này đã dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện
công tác XHH giáo dục mầm non sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau.
2.2.1.3. Nhận thức về mục tiêu của XHH giáo dục mầm non.
11
Trong nhận thức của những người tham gia khảo sát đã nắm được bản
chất của công tác xã hội hoá giáo dục, xác định những mục tiêu quan trọng như:
mục tiêu số 1,4,6 đều được đánh giá rất quan trọng với tỷ lệ cao (87,7% ;
89,2%, 83%) số còn lại là quan trọng. Mục tiêu “Tận dụng mọi điều kiện sẵn có
phục vụ cho giáo dục” và “Giảm bớt ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục”
thì các ý kiến đều đánh giá quan trọng, nhưng tỷ lệ cũng không cao (41,1%
-51,5%). Có một số ý kiến cho rằng mục tiêu để giảm gánh nặng cho nhà nước
là ít quan trọng và không quan trọng (16,2%-15%), trong đó ý kiến của cha mẹ
và giáo viên là ngang nhau, CBQL giáo dục cũng không đồng tình với mục tiêu
XHHGD là để bớt đi gánh nặng cho nhà nước (8,1%)
2.2.1.4. Nhận thức về việc xác định vai trò chủ thể thực hiện công tác XHH giáo
dục mầm non.
Biểu đồ 2.1. Xác định vai trò chủ thể thực hiện công tác XHH giáo dục mầm non
Đa số đối tượng nghiên cứu cho rằng: XHHGD là nhiệm vụ của mọi tổ
chức, gia đình và công dân (CMHS: 80%; CBQLGD: 96,5%; GVMN: 88,8%).
Tuy nhiên 20% CMHS; 3,5% CBQLGD; 11,2% GVMN cho rằng XHHGD là
của ngành giáo dục.
2.2.1.5. Nhận thức về lợi ích của xã hội hoá giáo dục mầm non
Qua bảng 2.6 cho thấy, số người được khảo sát cho rằng: đồng ý các tiêu
chí về lợi ích mà xã hội hoá mang lại cho sự phát triển giáo dục mầm non khá
cao. Nhất là các tiêu chí: xã hội hoá giáo dục đã làm cho xã hội, gia đình cùng
chia sẻ với nhà trường trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục; xã hội hoá
giáo dục làm cho chất lượng giáo dục mầm non được nâng cao; xã hội hoá giáo
dục là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo cơ hội cho trẻ phát triển
nhân cách.
12
Tuy nhiên, lợi ích từ XHHGD để đời sống giáo viên được cải thiện, để
giảm ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục thì còn nhiều người không đồng
ý (Cha mẹ: 9,4% - 29%; CBQL: 10,3% - 26,4%; Giáo viên: 13,8% -26,4%) và
có tới 20 người không có ý kiến về 2 vấn đề này.
Tóm lại, về mặt nhận thức, các lãnh đạo địa phương, cán bộ quản lý, giáo
viên, cha mẹ trẻ tham gia khảo sát đều thấy rõ tầm quan trọng, mục tiêu, nội
dung, lợi ích mà xã hội hoá giáo dục mầm non mang lại cho trẻ thơ, cho ngành
giáo dục, cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, ở một số người nhận thức về
XHHGD còn chưa đầy đủ, đôi chỗ còn lệch lạc.
2.2.2. Thực trạng quản lý công tác XHH giáo dục mầm non tỉnh Nam Định
2.2.2.1. Đánh giá việc thực hiện các chức năng quản lý công tác XHHGDMN
Biểu đồ 2.2. Đánh giá việc thực hiện các chức năng quản lý công tác XHH
Giáo dục mầm non tỉnh Nam Định

Kết quả ở biểu đồ 2.2 cho thấy: quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở
Nam Định chưa cao. Thực hiện tốt mới chỉ có 50% ở chức năng kế hoạch hoá,
49,2% ở chức năng tổ chức, điều hành chỉ đạo. Chức năng kiểm tra giám sát
đạt tốt với tỷ lệ thấp (37%) số còn lại cơ bản chỉ đạt khá và trung bình. Hai chỉ
số này chiếm 61,7%. Vẫn còn cán bộ quản lý giáo dục đánh giá công tác này ở
địa phương là yếu (1,3%).
2.2.2.2. Mức độ thực hiện các nội dung XHHGDMN của các lực lượng
tham gia công tác XHHGDMN
13
Với câu hỏi: “ Đồng chí đã tham gia công tác XHH giáo dục mầm non ở
địa phương như thế nào?”, các khách thể được khảo sát tự đánh giá đã tích cực
tham gia thực hiện các nội dung của XHH giáo dục mầm non, nhất là những nội
dung gắn liền với yêu cầu công việc của mình (CBQLGD: Tuyên truyền vận
động XHH giáo dục mầm non, huy động các nguồn lực xây dựng CSVC cho
trường lớp mầm non, chỉ đạo quản lý, thực hiện tốt mục tiêu, chương trình chăm
sóc – giáo dục trẻ; GVMN: Làm tốt mối quan hệ giáo viên - cha mẹ trẻ - địa
phương, xây dựng môi trường giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội; Cha mẹ
trẻ: Thực hiện tốt nội dung chăm sóc - giáo dục con theo yêu cầu của nhà
trường, của cô giáo, nhất là trong việc thực hiện đóng góp tiền của mua sắm đồ
dùng học tập, xây dựng CSVC, học phí…)
2.2.2.3. Mức độ thực hiện công tác XHHGD của CBQL giáo dục mầm non
Bảng 2.9. Mức độ thực hiện công tác XHHGD của CBQL giáo dục mầm non
TT Nội dung
Mức độ đánh giá (điểm)
Tổng
số
Điểm
TB
5 4 3 2 1 15
1 Tích cực thực hiện 70 180 60 4 0 314 3,88
2 Thực hiện đủ 70 200 42 6 0 318 3,93
3 Vận động 65 128 99 6 0 298 3,68
4 Sáng tạo 45 84 96 38 11 274 3,38
5 Tư vấn cho lãnh đạo 60 160 69 10 1 300 3,70
6 Bám sát cơ sở 70 140 84 6 1 301 3,72
7 Thực hiện công khai dân chủ 85 168 63 2 0 318 3,93
8 Mềm dẻo, thuyết phục 75 136 75 14 0 300 3,70
9 Hiệu quả 55 152 84 8 0 299 3,69
Cộng 595 1.348 672 94 14 2.722 3,37
Kết quả ở bảng trên cho thấy: thực hiện nhiệm vụ XHH của cán bộ quản
lý giáo dục mầm non theo mức điểm trên mới đạt trung bình 3,73 điểm, trong
đó: thực hiện đầy đủ, công khai dân chủ (3,93), tích cực thực hiện (3,88), mềm
dẻo thuyết phục (3,7). Tuy nhiên vẫn còn tiêu chí đánh giá thực hiện trung bình
và kém. Kết quả đánh giá này tương đồng với kết quả mức độ thực hiện các nội
dung XHH giáo dục mầm non.
2.2.2.4. Mức độ tham gia, phối hợp của các lực lượng xã hội trong công tác
XHH giáo dục mầm non
Đánh giá mức độ đạt loại tốt chiếm tỷ lệ khá cao (67,4%), trong đó, sự
chỉ đạo chặt chẽ, nhạy bén của ngành giáo dục (76,1%); chất lượng của CBQL
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét