Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
Dân chủ ở cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay
1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là xu hớng và khát vọng giải phóng, hớng tới tự do và làm
chủ của con nguời từ bao đời nay. Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của dân
chủ, hơn 75 năm qua, Đảng và nhân dân ta đã phấn đấu, hy sinh quên mình để
làm nên những kỳ tích vẻ vang trong lịch sử dân tộc. Với bản lĩnh chính trị vững
vàng, ngày nay Đảng và nhân dân ta vẫn đang kiên định con đờng đi lên
CNXH- con đờng hớng đến một xã hội mới mà ở đó tất cả mọi quyền lực
thực sự thuộc về nhân dân.
Thực tiễn đổi mới đã chứng tỏ rằng, dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã hội
đã trở thành một động lực to lớn quyết định trực tiếp sự thành công của sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nớc. Là một nớc nông nghiệp với đa số dân c sinh sống ở
nông thôn, việc giải quyết những vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn
luôn là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới đất nớc trong giai đoạn hiện
nay. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã tiến hành nhiều chính sách về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đổi mới HTCT, quyền lực chính trị của cộng đồng
c dân nông thôn đang từng bớc đợc thực hiện, xã hội nông thôn thực sự đang
chuyển mình theo hớng dân chủ và tiến bộ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
đợc, chúng ta còn mắc phải một số sai lầm, khuyết điểm cần phải khắc phục. Những
sai lầm khuyết điểm ấy có thể đợc xem xét từ khía cạnh nhận thức đến thực hiện dân
chủ trong thực tế, đã ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển xã hội, tới quá trình vơn
tới tự do, dân chủ chân chính của mỗi ngời và xã hội. Đặc biệt ở cơ sở làng xã- nơi
trực tiếp thực hiện mọi chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc.
Chính vì thế, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khóa VIII)
đã ra Chỉ thị số 30-CT/ TW ngày 18/02/1998 về việc xây dựng và thực hiện
QCDC ở cơ sở và Chính phủ ra Nghị định số 29- NĐ/CP, ngày 11/05/1998 về
việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và nhiều chỉ thị, nghị định, thông
t chỉ đạo, hớng dẫn việc triển khai thực hiện khác nhằm tiếp tục phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động. Chủ trơng của Đảng, Nhà nớc ta về xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở đợc coi là một giải pháp mang tính đột phá
trong quá trình dân chủ hóa ở nớc ta. Tuy nhiên, những đổi thay đó vẫn cha
thật sự đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển của xã hội nông thôn Việt Nam trong
thời kỳ mới. Những kết quả của quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở cũng cha đạt
đợc những tiêu chí mà Đảng, Nhà nớc và xã hội mong đợi. Quá trình triển khai
thực hiện Quy chế cũng đã xuất hiện nhiều mặt bất cập cần đợc bổ sung, điều
2
chỉnh để Quy chế phát huy tác dụng tốt hơn.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở nông thôn Việt Nam đang là một đòi hỏi bức
xúc trong quá trình phát triển của đất nớc. Vì thế, cần phải thờng xuyên
nghiên cứu lý luận, chú trọng tổng kết thực tiễn, ra sức khắc phục những thiếu
sót trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Dân chủ là một vấn đề bức xúc, nhạy cảm trong đời sống của nhân loại, từ
lâu đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt động chính trị cũng nh các
nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong và ngoài nớc.
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà t tởng, nhà hoạt động chính trị cũng đã tranh
luận, đề xuất những mô hình nhà nớc mang tính chất dân chủ.
Lịch sử các học thuyết chính trị thời kỳ cách mạng t sản đã cho thấy
dân chủ là một khuynh hớng chủ đạo đợc các nhà t tởng tiến bộ quan tâm
nghiên cứu và đề xuất những mô hình nhà nớc, chế độ chính trị mà họ xem là
"hợp lý, có hiệu quả". Các cuộc cách mạng t sản là một tất yếu của cuộc đấu
tranh chống lại chế độ chuyên chế phong kiến vì dân chủ trong tiến trình phát
triển của nhân loại.
Tuy nhiên, quan điểm và cách làm của các nớc phơng Tây về dân chủ
thờng rơi vào sự tuyệt đối hoá các quyền tự do cá nhân- thực chất là chủ nghĩa
tự do t sản. Các nhà kinh điển của CNXH khoa học đã luận chứng phê phán,
làm rõ bản chất của dân chủ t sản, chỉ ra những giới hạn có tính lịch sử của
nền dân chủ t sản, đã nêu lên mô hình, cách thức để có thể tạo lập nền dân
chủ vô sản- dân chủ XHCN. Thắng lợi Cách mạng Tháng Mời Nga và sự ra đời
của hệ thống các nớc XHCN sau chiến tranh thế giới II là căn cứ sinh động để
khẳng định tính đúng đắn của hệ thống nguyên lý, lý luận chính trị của chủ
nghĩa Mác- Lênin.
Nhng, ra đời trong đối đầu với CNTB, chống lại sự dã man của CNTB
nên CNXH theo mô hình Xôviết có những đặc trng đối lập với CNTB. Nếu
CNTB dựa trên chế độ t hữu thì CNXH là công hữu; nếu CNTB là thị trờng tự
do, thì CNXH là kế hoạch hóa; CNTB đem quân xâm lợc các nớc lạc hậu
hình thành hệ thống thuộc địa, thì CNXH giúp các nớc này chống đế quốc
giành độc lập dân tộc; CNTB gây chiến tranh để chia lại thị trờng thì CNXH
chống chiến tranh Và, nếu dân chủ t sản là hình thức, thì dân chủ XHCN là
dân chủ thực chất, dân chủ gấp hàng triệu lần dân chủ t sản. Hơn nữa, phải
thoát khỏi vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, luôn có nguy cơ bị tiêu diệt bởi
chiến tranh đế quốc, CNXH đã phải thiết lập một xã hội đồng nhất, thống nhất
3
để tạo sức mạnh chống thù trong giặc ngoài. Những giả định mang tính đối lập
nêu trên giữa CNTB và CNXH phần lớn có tính ớc lệ, giáo điều, chủ quan và t
biện. Trong thực tế, CNXH hiện thực đã không thực hiện đợc đầy đủ những
bản chất u việt của CNXH, đã rơi vào tình trạng lạc hậu về lý luận, trì trệ xơ
cứng trong thực tiễn. Chính vì thế, mô hình CNXH Xôviết bộc lộ những khuyết
tật và bị tha hóa. Đó là nguyên nhân nội tại cùng với tác động bên ngoài với sự
phá hoại của CNĐQ dẫn đến khủng hoảng toàn bộ hệ thống XHCN.
Có một thực tế là, việc nghiên cứu về dân chủ ở các nớc XHCN trong
một thời gian dài có khuynh hớng tập trung vào luận chứng về tính u việt của
dân chủ XHCN so với dân chủ t sản nhng do nhiều nguyên nhân, trớc hết là
nguyên nhân chủ quan chi phối, nên ở nhiều nớc XHCN những u việt đó cha
đợc bộc lộ và phát huy đầy đủ, bản chất của chuyên chính vô sản không đợc
nhận thức đúng, cha thật sự quan tâm đến dân chủ, thậm chí tình trạng vi phạm
dân chủ còn diễn ra khá phổ biến và nghiêm trọng. Cùng thời gian đó, ở các
nớc TBCN, thể chế dân chủ t sản đã từng bớc đợc điều chỉnh. Đó là những
điều chỉnh về luật pháp, chính sách và cơ chế. Dù bản chất của nhà nớc và nền
dân chủ t sản là không thay đổi, trớc sau nó vẫn phục vụ cho lợi ích và quyền lực
của giai cấp t sản. Song, giai cấp t sản trong khi thực thi quyền lực của mình,
một cách tất yếu nó cũng phải đáp ứng và thoả mãn đến một mức nhất định những
lợi ích chung của xã hội; nhờ đó, một cách khách quan, các tầng lớp dân c trong
xã hội cũng thụ hởng đợc những quyền và lợi ích của mình thông qua những
điều chỉnh, cải cách thể chế trong xã hội t sản, dù là có mức độ và hạn chế. Và tất
nhiên sự điều chỉnh đó đã tác động không ít đến thái độ, tình cảm, t tởng của
quần chúng nhân dân lao động ở nhiều quốc gia khác nhau khiến cho cuộc đấu
tranh giữa hai con đờng XHCN và TBCN nói chung và hai nền dân chủ- dân chủ
t sản và dân chủ XHCN nói riêng ngày càng phức tạp hơn.
Cho đến nay, dân chủ vẫn là một vấn đề nằm ở trung tâm cuộc đấu tranh t
tởng và lý luận trên thế giới. Dân chủ vẫn là vấn đề luôn có tính thời sự bức xúc
trong cuộc đấu tranh của quần chúng lao động ở các quốc gia dân tộc, hớng tới phát
triển và tiến bộ xã hội.
Những nhà xã hội dân chủ không tán đồng cả quan điểm dân chủ t sản
lẫn quan điểm dân chủ XHCN. Chủ thuyết của họ đề cao những giá trị tự do,
bình đẳng, đoàn kết, dân chủ. Đó cũng chính là những giá trị mà nhân loại đã và
đang hớng tới. Trào lu t tởng trung dung này nhằm điều hòa mâu thuẫn giai
cấp, hy vọng tạo nên sự đồng thuận xã hội. Các nhà xã hội dân chủ mong muốn
nhân đạo hóa CNTB ở mức độ nhất định, tạo những nhân tố tiền đề cho quá độ
4
lên xã hội dân chủ nhân đạo. Tuy nhiên, trào lu này không có sự nhất quán về thế
giới quan, nó luôn dao động lập trờng, vừa mong muốn cải thiện môi trờng xã
hội của ngời lao động, lại vừa mong muốn bảo lu trật tự xã hội TBCN, tính tiên
phong của giai cấp tiên tiến mất dần trong các phong trào xã hội và kết cục, nhà
nớc cũng vẫn nghiêng về giới chủ trong hòa giải giữa giới chủ và lao động.
CNXH dân chủ trên thực tế đã không tránh khỏi mâu thuẫn và những ảo tởng, nó
vẫn chỉ là sự biện hộ cho giai cấp t sản và CNTB hiện đại.
Ngoài những quan điểm, những khuynh hớng xã hội dân chủ, hoặc
khuynh hớng phủ nhận thành quả của CNXH hiện thực nói chung và nền dân
chủ XHCN nói riêng xuất hiện trong cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu trong
những thập kỷ 80 đầu Thế kỷ XX vừa qua, khuynh hớng bảo vệ quyền lực chính
trị của giai cấp công nhân, mở rộng dân chủ XHCN trên cơ sở cải cách, đổi mới
kinh tế, làm cho quan hệ sản xuất XHCN phù hợp với lực lợng sản xuất, xây
dựng nhà nớc pháp quyền XHCN vẫn là trung tâm chú ý của nhiều học giả,
nhiều chính đảng Cộng sản cầm quyền.
Những năm gần đây, vấn đề thực hiện dân chủ trong Đảng và trong xã
hội đã từng trở thành đề tài đợc đặc biệt quan tâm trong nghiên cứu về cải cách
thể chế chính trị ở Trung Quốc. Khi bàn tới dân chủ, những nhà nghiên cứu
Trung Quốc luôn khẳng định bản chất giai cấp của dân chủ, khẳng định vai trò
của Đảng cộng sản trong HTCT XHCN. Mặt khác, các tác giả đó cũng chỉ rõ
những thiếu sót trong tổ chức, vận hành HTCT đã làm hạ thấp vai trò của Đảng
Cộng sản trong lãnh đạo xã hội. Nhiều công trình khoa học đã tập trung nghiên
cứu nhằm cải cách và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN mang màu sắc
Trung Quốc. Ngoài chủ trơng thực hiện dân chủ từ cơ sở mà lâu nay Đảng Cộng
sản và Nhà nớc Trung Quốc đã và đang thực hiện có hiệu quả, một số chủ
trơng và đờng hớng t duy mới đã xuất hiện nh: "thuyết cấp tiến" và "thuyết
ôn hoà" trong "thuyết dân chủ trong đảng" với ý tởng tr
ớc hết thực hiện từng
bớc việc dân chủ hoá trong nội bộ đảng cầm quyền, dần dần gia tăng cờng độ
xây dựng dân chủ trong xã hội và lấy đó làm cơ sở để chuyển hoá chính trị hiện
đại hoá Trung Quốc. Có những học giả thậm chí còn đề nghị hợp pháp hoá việc
cạnh tranh giữa các phái bên trong đảng, thông qua việc trớc tiên thực hiện dân
chủ trình tự trong giới tinh hoa (elit) chính trị của Đảng Cộng Sản, từ đó đặt cơ sở
cho dân chủ xã hội rộng rãi hơn trong tơng lai. Cho dù là thuyết cấp tiến chủ
trơng hình thành "nhóm phái dân chủ trong đảng" đối với các chính khách nhằm
hạn chế tệ tham nhũng hay thuyết ôn hoà ủng hộ lý luận quyền uy của Đặng Tiểu
Bình về dân chủ trong đảng và về cải cách thể chế thì nhìn chung, họ đều nhất trí
5
rằng nền dân chủ Trung Quốc áp dụng con đờng bên trong thể chế sẽ có lợi hơn
nhiều so với con đờng bên ngoài thể chế. Họ kêu gọi cần phải cải cách thể chế
chính trị mạnh hơn nữa.
Cho đến nay, thực tế cho thấy con đờng chuyển đổi của Trung Quốc tối
u hơn so với con đờng chuyển đổi của Nga và các nớc Đông Âu. Cùng với
xây dựng nền kinh tế thị trờng XHCN, Trung Quốc đang xây dựng nhà nớc
pháp quyền (pháp trị) và mở rộng dân chủ, bớc đầu thực hiện dân chủ ở cơ sở
(cấp xã). Song, thể chế chính trị dân chủ ở Trung Quốc đang đứng trớc hai thách
thức lớn: một là, tình trạng tham nhũng phát triển làm giảm uy tín của Đảng, Nhà
nớc Trung Quốc, làm suy thoái đạo đức cán bộ; hai là, công cuộc cải cách đã
đạt đợc thành tựu to lớn nhng nông thôn Trung Quốc vẫn còn rất lạc hậu. Lực
lợng nông dân đông đảo với hơn 900 triệu ngời ở Trung Quốc luôn đóng vai
trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc, song họ vẫn luôn chịu
nhiều thiệt thòi trong phát triển. Trung Quốc đang quyết tâm chuyển đổi mô hình
quản lý tập trung quyền lực sang thôn dân tự chủ và tự quản nhằm tránh nguy cơ
bạo loạn từ nông dân.
ở nớc ta, dân chủ và dân chủ hoá đã trở thành một trong những nội dung
cơ bản đợc đề cập trong các văn kiện của Đảng và Nhà nớc, đặc biệt thể hiện rõ
trong thời kỳ đổi mới.
Những thành tựu nghiên cứu lý luận về dân chủ đợc thể hiện ở những
công trình của nhiều tác giả và tập thể tác giả. Các công trình này đã tập trung vào:
- Khẳng định những giá trị nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và t tởng
Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và dân chủ XHCN nói riêng. Qua đó chỉ rõ sự
khác nhau về bản chất của dân chủ t sản và dân chủ XHCN; đánh giá một cách
khách quan những thành quả, những tiến bộ mà CNTB đã tạo dựng đợc trong
tiến trình xây dựng chế độ chính trị t
sản, cũng nh chỉ ra những giới hạn do bản
chất giai cấp t sản của nền dân chủ ở các nớc t bản phát triển Có thể nói tới
một số công trình tiêu biểu trong hớng nghiên cứu này:
"Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp thực hiện quyền lực nhân dân ở nớc
ta", Tạp chí Cộng sản số 4/1990 của tác giả Đào Trí úc; "Dân chủ t sản và dân
chủ XHCN", Nxb ST, H, 1991 của tác giả Thái Ninh- Hoàng Chí Bảo; "Từ học
thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin đến đổi mới HTCT ở nớc
ta hiện nay", Tạp chí Triết học, số 2-1993 của tác giả Phạm Ngọc Quang; "Dân
chủ- di sản văn hoá Hồ Chí Minh", Nxb Sự thật, Hà Nội, 1997 - tác giả Nguyễn
Khắc Mai; "T tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc của dân, do dân, vì dân", Nxb
6
CTQG, H, 1998- Tác giả Nguyễn Đình Lộc; "Chính trị của CNTB- hiện tại và
tơng lai"- tác giả Nguyễn Đăng Thành, Nxb CTQG, HN, 2002; "Góp phần nhận
thức thế giới đơng đại" NxbCTQG, H, 2003, GS Nguyễn Đức Bình- GS, TS Lê
Hữu Nghĩa- GS, TS Trần Hữu Tiến (Đồng chủ biên)
- Nêu rõ những thành tựu và những hạn chế, thậm chí là những sai lầm
trong nhận thức và những khuyết tật trong xây dựng và thực hiện nền dân chủ
XHCN ở các nớc XHCN nói chung và ở Việt Nam nói riêng trong thực tế.
Hớng nghiên cứu này đợc thể hiện ở các công trình tiêu biểu sau đây: "Dân
chủ trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam", Tạp chí Thông tin lý luận số 7/1989 của
tác giả Hoàng Chí Bảo. "CNXH hiện thực- khủng hoảng, đổi mới và phát triển"
của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nxb CTQG, H,1993; "Dân chủ và tập trung dân
chủ- Lý luận và thực tiễn", Nxb Khoa học xã hội, H, 2001 của tác giả Nguyễn
Tiến Phồn
- Bổ sung những nhận thức mới, và đề xuất những cách làm mới để xây
dựng và thực hiện dân chủ phù hợp với đặc điểm lịch sử, truyền thống của dân
tộc, đặc điểm của thời kỳ quá độ cũng nh đặc thù của từng cấp độ, vùng miền,
nhóm dân c ở nớc ta. Điều này đợc thể hiện ở các công trình sau đây:
"Dân chủ hoá ở nông thôn- một yêu cầu hàng đầu của tiến bộ xã hội", Tạp chí
Cộng sản, số 5-1990 của tác giả Trần Ngọc Hiên; "Tổng quan về dân chủ và cơ
chế thực hiện dân chủ: Quan điểm lý luận và phơng pháp nghiên cứu", Tạp chí
Thông tin lý luận, số 9/1992 của tác giả Hoàng Chí Bảo; Trong chơng trình
nghiên cứu cấp Nhà nớc giai đoạn 1991- 1995 mang mã số KX.05 về "Hệ
thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta" có các đề tài: "Cơ chế
thực hiện dân chủ trong HTCT ở nớc ta hiện nay", mã số KX.05.05; "Đặc
điểm, nội dung và phơng thức lãnh đạo của Đảng trong HTCT", mã số
KX.05.06; "Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một hệ giải pháp đồng bộ thống nhất",
Báo Đại đoàn kết ngày 1-12-1997 của tác giả Trần Quang Nhiếp; "Dân chủ một
đề tài thời đại", Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1998 của tác giả Đỗ T; "Để thực
hiện QCDC ở cơ sở", Tạp chí cộng sản số 2/1999 của tác giả Trần Quang
Nhiếp; "Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ", Tạp
chí Quản lý nhà nớc, số 1/1999 của tác giả Lê Minh Châu; "Thực hiện Quy chế
dân chủ ở cấp xã- Những vấn đề lý luận và thực tiễn"- Dơng Xuân Ngọc (chủ
biên), Nxb CTQG, HN, 2000 và cuốn sách tham khảo Dân chủ và việc thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb CTQG, Hà Nội- 2003 do TS Lơng Gia
Ban chủ biên đã thể hiện đợc những khía cạnh cơ bản của vấn đề dân chủ theo
7
quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta,
đồng thời nêu rõ những nguyên tắc lý luận cũng nh quan điểm của Đảng về
xây dựng cơ chế thực hiện dân chủ, những yếu tố đảm bảo cho quá trình thực
hiện dân chủ trong đời sống xã hội ta hiện nay.
Đặc biệt, ba công trình nghiên cứu trong những năm gần đây đã công bố
dới dạng chuyên khảo: "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay"; " Thực hiện
QCDC và xây dựng chính quyền cấp xã ở nớc ta hiện nay"; " Thể chế dân chủ và
phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay" do Nxb CTQG, HN, lần lợt xuất bản
năm 2001, 2003, 2005 đợc tập thể các nhà khoa học của Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh thực hiện (Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và Giáo s Hồ Văn Thông
đồng chủ biên) là những công trình khoa học đi sâu nghiên cứu về đời sống cộng
đồng làng xã Việt Nam truyền thống và hiện tại, vấn đề xây dựng chính quyền cấp
xã, đa ra những căn cứ lý luận và thực tế cho việc xây dựng và từng bớc hoàn
thiện thể chế dân chủ ở cơ sở nông thôn nớc ta hiện nay.
Cùng với những công trình thể hiện trên sách, báo, tạp chí, đã có nhiều
luận án tiến sĩ viết về chủ đề này nh: Dân chủ hóa trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, 1991 của tác giả Hồ
Tấn Sáng; Đổi mới và kiện toàn HTCT ở cơ sở nông thôn ngoại thành Hà Nội
(cấp xã) trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, 1993 của tác giả Lu Minh
Trị; Con đờng phát triển nông thôn theo định hớng XHCN ở đồng bằng sông
Cửu Long nớc ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, 2000 của tác giả Nguyễn Minh
Châu; Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân
Việt Nam thời kỳ đổi mới, Luận án tiến sĩ, 2002, tác giả Nguyễn Văn Long; Vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân ở nớc ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, 2005, tác giả Nguyễn Thị Hiền Oanh
Ngoài ra, còn có rất nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài nghiên cứu đăng
trên các tạp chí khoa học về dân chủ và dân chủ hoá ở nớc ta.
Các công trình nghiên cứu đó từ những hớng tiếp cận và phạm vi nghiên
cứu khác nhau đã cố gắng làm rõ bản chất, nội dung, tính chất, cơ chế thực hiện
dân chủ XHCN cũng nh vai trò của việc mở rộng quyền làm chủ của nhân dân
đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, những công
trình đó cha đi sâu khai thác những quan điểm của chủ nghĩa mác- Lênin và t
tởng Hồ Chí Minh về dân chủ ở nông thôn, đối với nông dân. Một số ít công
trình đã nghiên cứu vấn đề dân chủ ở cơ sở trên địa bàn nông thôn, nhng nông
thôn miền Trung- Tây Nguyên vẫn đang là địa bàn còn cha đợc quan tâm
8
mấy. Những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về dân chủ ở cơ sở nông
thôn vẫn cha nhiều, thành tựu nghiên cứu còn khá khiêm tốn. Việc đa ra những
giải pháp nhằm thực hiện dân chủ ở nông thôn đáp ứng nhu cầu dân chủ của
nông dân thời kỳ mở của hội nhập ở các công trình trên còn nhiều ý kiến khác
nhau. Có những kiến nghị phù hợp nhng vẫn cha đợc thực thi Với đề tài
này, tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu nhằm
khắc phục những chỗ còn thiếu hụt đó.
3. Giới hạn của đề tài
Thực hiện QCDC ở xã gắn liền với đổi mới và nâng cao chất lợng HTCT ở
cấp xã đang là vấn đề quan trọng đợc Đảng và Nhà nớc ta đặc biệt quan tâm trong
sự nghiệp xây dựng nền dân chủ XHCN ở nớc ta hiện nay. ở nớc ta, nông thôn
gắn liền với nông nghiệp và nông dân là cả một địa bàn rộng lớn. Số lợng làng- xã
ở nông thôn chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong tổng số đơn vị cơ sở của quản lý Nhà nớc ta
hiện nay. Xã lại đa dạng về loại hình, quy mô diện tích, số lợng dân c với các dân
tộc và tôn giáo. Vì lẽ đó, mặc dù nghiên cứu về dân chủ ở cơ sở nhng tác giả sẽ tập
trung chủ yếu vào nghiên cứu vấn đề thực hiện dân chủ ở loại hình cơ sở xã trên địa
bàn nông thôn Việt Nam. Để giới hạn vấn đề, tác giả chỉ chọn một số địa phơng ở
khu vực miền Trung làm điểm khảo sát, lấy đó làm điểm khu biệt, giới hạn của đề
tài nghiên cứu. Cùng với những số liệu, những kết quả nghiên cứu kế thừa từ những
công trình của các tác giả đi trớc, tác giả đã tiến hành khảo sát trực tiếp ở những địa
bàn đợc chọn làm điểm nghiên cứu. Tác giả hy vọng rằng, những kết quả nghiên
cứu của mình sẽ góp phần làm rõ vai trò của dân chủ ở cơ sở trên địa bàn nông thôn
nớc ta, thúc đẩy việc thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn; đồng thời góp phần làm trong sạch,
lành mạnh HTCT ở cơ sở nông thôn. Có thể xem đây là điều kiện và nội dung hợp
thành của sự phát triển bền vững ở từng địa phơng và trên cả nớc.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu
Trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận về dân chủ và đánh giá thực
trạng dân chủ ở nông thôn nớc ta hiện nay, làm rõ tính đặc thù, nội dung và
giải pháp thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn nông thôn trong quá trình xây
dựng và thực hiện dân chủ XHCN ở nớc ta.
4.2. Nhiệm vụ
Để đạt đợc mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích lý luận về dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn nớc
ta trong thời kỳ đổi mới.
9
Hai là, phân tích thực trạng dân chủ và những đặc điểm của quá trình dân
chủ hoá ở nông thôn nớc ta qua hơn 7 năm triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở.
Ba là, xác định một số quan điểm và giải pháp chủ yếu để tiếp tục nâng cao
nhận thức về dân chủ ở cơ sở, thực hiện và phát huy dân chủ ở nông thôn nớc ta.
5. Cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án đợc triển khai dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về dân chủ; dựa trên quan điểm của Đảng ta
trong lãnh đạo, chỉ đạo việc thực thi dân chủ cho nhân dân ở nớc ta.
- Cơ sở thực tiễn: xuất phát từ thực tiễn dân chủ hoá và thực hiện QCDC
ở cơ sở nông thôn Việt Nam để luận chứng những vấn đề có liên quan đến việc
thực hiện nhiệm vụ của luận án.
- Phơng pháp luận và các phơng pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng
tổng hợp những nguyên tắc phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú trọng sử dụng phơng pháp lôgíc và
lịch sử; phân tích và tổng hợp, kết hợp với phơng pháp so sánh và điều tra xã
hội học để nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu.
6. Cái mới về mặt khoa học của luận án
- Luận chứng về vai trò, tác dụng, nội dung, ý nghĩa của dân chủ, dân
chủ ở cơ sở và QCDC ở cơ sở cũng nh những đặc điểm của dân chủ hoá ở nông
thôn Việt Nam trong công cuộc đổi mới.
- Đánh giá thực trạng dân chủ và thực hiện QCDC ở nông thôn nớc ta.
- Đề xuất những kiến nghị về cải cách thể chế nhằm thực hiện dân chủ ở
cơ sở nông thôn và kiến nghị về bổ sung, hoàn thiện nội dung cũng nh đổi mới
cách thực hiện để QCDC ở xã phát huy đợc vai trò của nó trong việc đảm bảo
dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nông dân ở nông thôn.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Góp phần phát triển hớng nghiên cứu mới về lý luận và tổng kết thực
tiễn về dân chủ ở nớc ta từ góc độ cơ sở và HTCT ở cơ sở nông thôn.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên
cứu về dân chủ cơ sở, QCDC ở cơ sở nông thôn trong các trờng Đại học, Cao
đẳng và các trờng Chính trị trong cả nớc, cho các đối tợng rộng rãi có quan
tâm tới đề tài nghiên cứu này.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án đợc
kết cấu thành 3 chơng, 7 tiết.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét