Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Tài liệu Đồ án tốt nghiệp - Nghiên cứu giải pháp điều khiển cấp điện tự động cho nhà máy từ trạm 110KV doc

PACTAPPR 1822 có năng suất trung bình là 600 tấn/giờ. Loại máy này
có thể đập được các cục đá vôi có kích thước tới 1 m và cho ra sản phẩm
có kích thưóc 70 mm. Sau khi đập nhỏ, đá vôi sẽ được cân và vận chuyển
bằng tải cao su để về kho đồng nhất sơ bộ và được rải thành hai đống,
mỗi đống 16 000 tấn theo phương pháp rải đống CHEURON và có mức
độ đồng nhất là 8:1.
Trong kho đồng nhất sơ bộ có máy đ
ánh đống loại BAH 17,3 - 1.0
- 600 với năng suất rải là 600 tấn/ giờ và hệ thống băng cào loại BKA
30.01.600 có năng suất từ 35 - 350 tấn/giờ.
Đất sét khai thác ở mỏ Khả Phong cách nhà máy 9.5 Km, sẽ được
vận chuyển bằng ô tô (20 tấn/xe) tới máy cán răng hai trục có năng suất
250 tấn/giờ. Loại máy này cho phép cán được cục đất sét có kích thước
đến 800 mm độ ẩm tới 15% và cho ra sản phẩm có kích thước 70 mm.
Sau đó đấ
t sét được cân và vận chuyển tới kho đồng nhất sơ bộ và rải
thành 2 đống, mỗi đống 7 000 tấn, theo phương pháp rải WINDROW với
mức độ đồng nhất là 8:1. Hệ thống cầu rải BEDECHI trong mỗi kho có
năng suất rải 250 tấn/giờ và hệ thống cầu xúc loại BEL C150/14 có năng
suất từ 15 - 150 tấn/giờ.
Quắng sắt khai thác từ Thanh Hoá và Hòa Bình.
Thạch cao mua từ Lào, Thái Lan hoặc Trung Quốc.

1.2.2 Nghi
ền nguyên liệu và đồng nhất
Các cầu xúc đá vôi, đất sét, quặng sắt, bô xít và đá silíc có nhiệm
vụ cấp liệu vào các két chứa của máy nghiền. Từ đó qua hệ thống cân
định lượng liệu được cấp vào máy nghiền. Máy nghiền nguyên liệu là loại
máy nghiền con lăn trục đứng hiện đại PFEIFFER MPS 4750, có năng
suất 320 tấn/giờ. Bột liệu đạt yêu cầu sẽ được vận chuyển t
ới si lô đồng
nhất bột liệu, có sức chứa 20000 tấn, bằng hệ thống máng khí động và
gàu nâng. Si lô đồng nhất bột liệu làm việc theo nguyên tắc đồng nhất và
tháo liên tục. Việc đồng nhất bột liệu được thực hiện trong quá trình tháo
bột ra khỏi si lô. Mức độ đồng nhất của silô này là 10:1.























1.2.3 Hệ thống lò nung và thiết bị làm lạnh Clinker
Lò nung của công ty xi măng Bút Sơn có đường kính 4.5 m, chiều
dài 72 m, với hệ thống sấy sơ bộ 2 nhánh 5 tầng cùng hệ thống calciner
buồng trộn. Năng suất c
ủa lò là 4000tấn Clinker/ngày đêm. Lò được thiết
Đá vôi
Đất sét
Phụ gia
xi sắt
Than
Máy đập
M
á
y
c
á
n
Máy đập
Két chứa
Định lượn
g
Nghiền sấy than
Dầu
Hâm sấy dầu
Thiết bị đồng nhất
Két chứa
Két chứa
Két chứa
Định lượng
Định lượng
Định lượng
Lò nung Clinker
Thạch cao
Máy đập
Máy nghiền + sấy
Phụ gia
Thiết bị làm lạnh Clinker
Máy đập Clinker
Máy nghiền
Xi lô chứa Xi măng
Xuất xi măng rời
Xi lô chứa ủ
Máy đóng bao
Xuất xi măng bao
Kho đồng nhất sơ bộ
Kho đồng nhất sơ bộ
Hình 1. Quá trình công nghệ sản xuất xi măng Porland
kế sử dụng vòi đốt than đa kênh ROTAFLAM đốt 100% than antraxit
trong đó đốt tại Calciner là 60% phần còn lại đốt trong lò. Clinker sau khi
ra khỏi lò được đổ vào thiết bị làm nguội kiểu ghi MBH- SA được làm
lạnh. Đập sơ bộ clinker thu được sau thiết bị làm lạnh vận chuyển tới 2 si
lô để chứa và ủ clinker. Có tổng sức chứa là 220 000tấn. Bột toả hoặc
clinker phế phẩm được đổ vào si lô bột toả có sứ
c chứa 2 000 tấn có thể
rút ra ngoài.

1.2.4 Nhiên liệu
Lò được thiết kế chạy 100% than antra xít, đầu MFO chỉ sử dụng
trong quá trình sấy lò và chạy ban đầu. Than được sử dụng trong lò là hỗn
hợp 40% than cám 3a và 60% than cám 4a. Máy nghiền than là loại máy
nghiền con lăn trục đứng PFEIFFER năng suất 30 tấn/giờ. Bột than min
được chứa trong 2 két than min, một két để dùng cho lò, một két dùng
cho calciner. Than mịn được cấp vào lò và calciner qua hệ thống cân định
lượng SCHENSK.

1.2.5 Nghiền s
ơ bộ clinker và nghiền xi măng
Clinker, thạch cao và phụ gia (nếu có) sẽ được chuyển lên két máy
nghiền bằng hệ thống băng tải và gầu nâng. Từ két máy nghiền, clinker
và phụ gia sẽ được đưa qua máy nghiền sơ bộ CKP 200 nhằm làm giảm
kích thước và làm nứt vỡ cấu trúc để phù hợp với điều kiện làm việc của
máy nghiền bi xi măng (kích thước bi lớn nhất trong máy nghiền bi là 70
mm). Sau đó clinker, phụ
gia (đã qua nghiền sơ bộ) và thạch cao sẽ được
cấp vào máy nghiền xi măng để nghiền mịn.
Máy nghiền xi măng là loại máy nghiền bi 2 ngăn làm việc theo
chu trình kín có phân ly trung gian kiểu SEPA. Xi măng bột được vận
chuyển tới bốn xi lô chứa có tổng sức chứa là 4x10000 tấn, bằng hệ thống
máng khí động và gầu nâng.

1.2.6 Đóng bao và xuất xi măng
Từ đáy các si lô chứa, phải qua hệ thống cửa tháo xi măng sẽ được
vận chuyển tới các két chứa của các máy đóng bao hoặc các hệ thống
xuất xi măng rời. Một hệ thống xuất xi măng rời gồm hai vòi xuất cho ô
tô, năng suất 100 tấn/giờ và một vòi xuất cho tầu hoả năng suất 150tấn
/giờ.
Hệ thố
ng máy đóng bao gồm bốn chiếc máy đóng bao HAVER
kiểu quay và hệ thống cân điện tử năng suất 100tấn/giờ. Các bao xi măng
qua hệ thống băng tải sẽ được vận chuyển tới các máng xuất xi măng bao
xuống tàu hoả và ô tô.
Công ty xi măng Bút Sơn bắt đầu đi vào sản xuất thử từ 29/8/1998
đến đầu tháng 11/1998 công ty đã đưa dây chuyền sản xuất vào vận hành
ổn định.
Đến tháng 4/1999, sau giai đoạn chạy thử để hiệu chỉnh các
thông số cơ, điện, công nghệ hoàn thành, công ty đã bước vào sản xuất
chính thức. Cũng kể từ đó lực lượng cán bộ kỹ thuật và công nhân của
nhà máy đã tự đứng ra đảm nhận toàn bộ việc vận hành của nhà máy mà
không cần có sự giúp đỡ của chuyên gia nước ngoài. Sản xuất của nhà
máy liên tục ổn định qua các n
ăm, 100% sản phẩm của nhà máy xuất ra
đều đạt TCVN. Sản phẩm xi măng Bút Sơn ngày càng được tín nhiệm
trên thị trường và được khách hàng ưa dùng. Sản lượng xuất và tiêu thụ
qua các năm cụ thể như sau:
Năm 1998: - Sản xuất 74.594,20 T clinker
41.314,00 T xi măng
- Tiêu thụ 13.218,50 T xi măng
Năm 1999: - Sản xuất 793.525,12 T Clinker
452.307,30 T Xi măng
- Tiêu thụ 296.676,85 T Clinker
457.848,60 T xi măng
Năm 2000: 11 tháng đầu năm 2000
- Sản lượng clinker sản xuất: 955.216,21 tấn đạt 100,02% kế hoạch cả
năm.
- Sản lượng xi măng xuất : 688.946,54 tấn đạt 105,99% kế hoạch cả năm.
- Tiêu thụ : 496.311 tấn Clinker
646.586 tấn xi măng.
Năm 2001 sản xuất 1.175.850,1 tấn Clinker.
800.000 tấn xi măng.

1.3 Hệ thống cân của nhà máy
1.3.1 Hệ cân cấp liệu cho máy nghiền thô
- Cấp đá vôi: ITEN 1214. Mức cân 35 – 350 T/h.
-
Cấp đá sét: ITEN 1206. Mức cân 10 – 100 T/h.
- Cấp quặng sắt: ITEN 1211. Mức cân 1 – 10 T/h.
- Cấp silicat: ITEN 1207. Mức cân 2 –20 T/h.
1.3.2 Cân cấp liệu cho lò
Có một cân sử dụng để cấp liệu cho lò là ITEN 318, mức cân 35 – 350
T/h (HASLER).
1.3.3 Cân cấp liệu cho nghiền than: gồm hai cân
- 1504A: Mức cân từ 3.5 – 35 T/h (HASLER).
- 1504B.
1.3.4 Cân cấp than min: gồm hai cân
- Cấp cho PRECALCINER: 1533, mức cân 10 – 100 T/h.
- Cấp cho lò nung: 1523, mức cân 0 – 11 T/h.
Do SHENCK chế tạo.
1.3.5 Cân cấp liệu cho máy nghiền xi măng: gồm 3 cân
- Cấp đá vôi: 1626. Mức cân 10 – 100 T/h.
- Cấp thạch cao: 1625. Mức cân 2 – 20 T/h.
- Cấp Clinker: 1622. Mức cân 30 – 300 T/h.
Do HASLER sản xuất.

1.4 Hệ thống cung cấp điện của nhà máy xi măng Bút Sơn
Nhà máy được cấp điện qua hai lộ 110 kV trên không từ Ninh
Bình, qua 2 dao cách ly 110KV - rồi qua hai máy cắt 110KV,50Hz dùng
khí SF6 cấp cho hai máy biến áp MS-TR-12-1 và MS-TR-12-2. Hai máy
biến áp có công suất 16MVAx2 điện áp 110. Điện áp được cấp sau 2 máy
biến áp cung cấp cho hai phụ tải dùng 3 sợi cáp 1x240mm (6/10KV) tới
hai máy cắt 3 pha ( 2000A,6KV). Điện áp qua hai máy cắt được cấp
xuống qua hai thanh cái BusA và BusB, chúng được liên lạc với nhau
bằ
ng máy cắt 6KV- 2000A.
Từ thanh cái 6KV trạm 110m, nguồn được phân phối tới 10 trạm
biến áp phân xưởng từ LS1 đến LS10 bằng 10 máy cắt hợp bộ. Các máy
cắt này có dòng định mức 1200A, dùng khí SF6. Các máy cắt được tác
động bởi hệ thống bảo vệ Sepam. Tại các phân xưởng nguồn 6KV được
cấp cho các động cơ cao áp(6KV) và các máy biến áp 6/0.4KV. Điện áp
0.4 KV được cấp cho các tủ MCC và AUX cấp cho phụ tải.
Hệ thống chiếu sáng của nhà máy
được cấp từ các MBA 50KVA
tại các phân xưởng và được đấu móc vòng với nhau. Ngoài ra nhà máy
còn dùng máy phát điện dự phòng Diezel có công suất 630KVA cung cấp
cho một số tải quan trọng như lò, giàn ghi, khi mất điện lưới. Hệ thống
điều khiển PLC của CCR khi mất điện được dự phòng bằng nguồn UPS.
Để bảo đảm cosϕ đạt 0.9, nhà máy đặt hai bộ tụ bù tại thanh cái
6kV, thuộc trạm 110kV, có công suất 810 kVar – 77 A và bốn b
ộ tụ bù
đặt tại thanh cái tủ MVSW ở các trạm LS1, công suất 540 kVar – 48A,
LS6 có công suất 1000 kVar – 96A, LS4 công suất 3150 kVar – 377A,
LS7 công suất 3000 kVar – 289A. Hệ thống bù cosϕ của nhà máy làm
việc tự động.

1.5 Một số liệu pháp nhằm ổn định chất lượng và giữ vững thị trường
Giám sát chặt chẽ và duy trì ổn định chất lượng ngay từ khâu
nguyên liệu đầu vào và trên toàn bộ dây chuyền làm cơ sở cho việc duy
trì ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Củng cố và hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản lý chất lượng trong
toàn dây chuyền. áp dụng có hiệu quả hệ
thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO9002 vừa được chứng nhận bởi QUACERT và
DNV (Na Uy).
- Thực hiện tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa thiết bị để đảm bảo
toàn bộ các thiết bị trong dây chuyền hoạt động ổn định đồng bộ
với năng suất cao và chất lượng tốt.
- Không ngừng nâng cao trình độ, tay nghề cho CBCNV. Đặc biệt là
đội ngũ cán b
ộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành
bằng cách tổ chức các khoá đào tạo tại công ty, hoặc liên kết đào
tạo với các trường đại học, các trung tâm đào tạo chuyên ngành, tổ
thăm quan, thực tập tại nước ngoài và tổ chức các buổi báo cáo
chuyên đề
- Đẩy mạnh công tác pha phụ gia vào xi măng để tăng hiệu quả sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm. Phấn đấu
đến năm 2000 đặt tỉ lệ pha
phụ gia từ 20 - 25%.
Rà soát lại toàn bộ các định mức vật tư cho sản xuất quản lý chặt
chẽ việc sử dụng vật tư sản xuất, phấn đấu giảm mức tiêu hao nguyên,
nhiên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, góp phần hạ giá thành sản phẩm
tăng tính cạnh tranh trên thương trường.


















Trạm biến áp 110 KV nhà máy xi măng
Bút Sơn

Trạm biến áp 110 KV, công ty xi măng Bút Sơn đặt tại đầu dây
chuyền sản xuất khu vực nhà máy. Trạm có hai máy làm việc độc lập, hai
lộ dây có công suất mỗi máy 16 MA. Toàn bộ thiết bị của trạm do
GECLASTHOM, cộng hoà Pháp, cung cấp.
Nhiệm vụ của trạm là hạ điện áp từ 110 KV xuống cấp 6 KV cung
cấp cho toàn bộ các dây chuyền sản xuất của nhà máy.

2.1 Sơ đồ cung cấp điện
Từ lưới điện quốc gia qua hai lộ đường dây trên không 110 kV,
điện áp đưa qua các thiết bị truyền dẫn và đóng cắt tới hai máy biến áp
(MBA) 110 kV. Hai MBA này hoạt động đồng thời và độc lập với nhau
2
để đưa ra điện áp 6 kV ở thứ cấp. MBA 110 kV của nhà máy là loại biến
áp tự động điều chỉnh điện áp dưới tải có dải điều chỉnh điện áp từ 96.8
kV ÷ 123.3 kV chia làm ±8 nấc điều chỉnh.
Điện áp 6 kV từ MBA đưa qua các thiết bị truyền dẫn và đóng cắt
đến thanh cái, được chia làm hai lộ, ở giữa có đặt máy cắt liên l
ạc để
đóng mạch thanh cái khi có sự cố một trong hai MBA. Từ thanh cái điện
áp 6 kV qua 10 máy cắt hợp bộ có I
đm
bằng 1250 A và 2500A cung cấp
điện cho các trạm LS. Các máy cắt 110 kV và máy cắt 6 kV đều dùng khí
SF
6
để dập hồ quang.

2.2 Thuyết minh nguyên lý cấp điện
2.2.1 Nguyên lí cấp điện.
Nhà máy ximăng Bút sơn được cấp điện từ Ninh Bình bởi hai lộ
175 và 176 có điện áp 110kV. Hai lộ này cấp điện cho hai máy biến áp
độc lập T1, T2 có công suất 16MVA x 2. Trên 2 lộ 110kV, hệ thống bảo
vệ chống sự cố gồm có các biến áp đo lường T
6-1
, T
6-2
, các biến dòng T
5-1
,
T
5-2
và chống sét van V
1
, V
2
. Ngoài ra trên các cột còn có hệ thống chống
sét thu lôi để bảo vệ cột và đường dây. Các thiết bị TU, TI được sử dụng
nhằm phát các sự cố chạm đất, đứt pha, đoản mạch đồng thời báo sự ổn
định trên đường dây. Trên mỗi lộ trước khi vào biến áp, các hệ thống dao
cách li và tiếp địa được liên động cứng với nhau và sự vận hành phụ
thuộc chặt chẽ vào trạng thái
đóng cắt của máy cắt Q 50. Dao cách li chỉ
có thể đóng mở nếu dòng tải trên dây là rất nhỏ (hoặc = 0) và dao tiếp địa
chỉ hoạt động khi dao cách li thay đổi trạng thái. Nếu dao cách li mở thì
lập tức dao tiếp địa liên quan đóng lại để nối đất an toàn. Trên sơ đồ hệ
thống có thể thấy rằng các cặp dao cách li và tiếp địa liên động với nhau
là: Q28-Q38, Q25-Q35, Q24-Q34.
Cặp Q28-Q38 nhằm bảo đảm an toàn khi sửa chữa bảo dưỡng
thanh cái 110KV, máy cắt Q50. Trong đó Q27 là dao cách li liên hệ giữa
hai thanh cái 110kv cấp cho hai máy biến áp độc lập.
Trên mỗi máy biến áp đều bố trí các hệ thống bảo vệ về hơi, áp
suất, nhiệt độ, chạm vỏ. Đầu ra của MBA sẽ tự động diều chỉnh mức điện
áp 6 kV. Bình thường khi không có sự cố , hai MBA sẽ làm việc độc lậ
p
với nhau cả về phía sơ cấp lẫn thứ cấp. Có nghĩa là dao cách li Q27 mở ra
và máy cắt phân đoạn600 cũng mở.Mỗi MBA sẽ cung cấp cho một số
phụ tải riêng của nhà máy.
Tuy nhiên nếu sự cố xảy ra trên 1 trong 2 lộ 175, 176 thì dao cách
li Q27 sẽ được nối lại để một lộ cấp cho cả 2 MBA, tất nhiên là Q27 sẽ
thực hiện khi Q50 của MBA có lộ sự cố cắt tải ra kh
ỏi hệ thống sau đó sẽ
đóng lại.
Còn nếu một trong hai MBA bị hỏng thì chỉ lộ kia hoạt động bình
thường nhưng máy cắt phân đoạn 600 đóng lại để cấp điện cho toàn nhà
máy. Một số phụ tải ít quan trọng sẽ bị cắt tạm thời để tránh quá tải cho
MBA.
Một trường hợp hãn hữu xảy ra nữa cũng được tính đến là đường
dây lộ này bị hỏng và MBA lộ kia bị sự cố. Khi đó lộ dây còn lại sẽ cấp
điện cho MBA chưa hỏng, máy cắt phân đoạn đóng lại, một số phụ tải sẽ
bị cắt tạm thời.
- Khi hệ thống 1 lộ bị hỏng cả dây và MBA thì chỉ lộ đó bị cắt ra
khỏi hệ thống, lộ còn lại vẫn hoạ
t động bình thường, máy catứ
phân đoạn vẫn đóng để cấp nguồn chung.
- Nếu phương án lộ này cấp điện cho MBA kia thì dao cách li Q27
sẽ nối thanh cái 110kv cấp nguồn cho MBA còn lại.
Khi hai lộ cùng mất điện, hệ thống tự động khởi động máy phát
điện cấp điện cho một số phụ tải thiết yếu như lò, giàn ghi,hệ thống làm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét