Mua lại một phần hay toàn bộ một doanh nghiệp đang hoạt động tại nước tiếp
nhận đầu tư.
Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia góp vốn liên
doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi
ro theo tỷ lệ góp vốn.
Hình thức xây dựng-vận hành-chuyển giao (BOT) và một số hình thức tương tự
khác như BTO, BT là các loại hình đầu tư nhằm khuyến khích xây dựng các công
trình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng và công trình cung cấp năng lượng trong
lúc mà nhà nước tiếp nhận đầu tư còn nhiều khó khăn về mặt tài chính. Các hình
thức này sẽ dễ dàng được nhìn thấy ở các nước đang phát triển. Trong hình thức
BOT thì nhà đầu tư sẽ tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây dựng công trình như cầu đường,
tự tiến hành hoạt động kinh doanh như tổ chức thu phí và sau một thời gian khai
thác nhất định theo thỏa thuận và các công ty này đã hoàn vốn cung như một mức
lợi nhuận hợp lý thì họ sẽ tiến hành bàn giao lại cho nước sở tại công trình đã được
họ xây dựng.
Tại Việt Nam cũng tồn tại đầy đủ các hình thức của FDI nêu trên. Từ khi thực
hiện mở cửa nền kinh tế thì luồng vốn FDI đổ vào ngày càng nhiều, kể cả về mặt số
lượng cũng như chất lượng. Cụ thể là năm 2007, Việt Nam đã thu hút được một
lượng FDI kỷ lục là 20,3 tỷ USD và trong năm 2008 là 64 tỷ USD. Đây là một kết
quả ngoài sự mong đợi. Với sự có mặt của nhiều công ty đa quốc gia tại Việt Nam
như Coca Cola, Pepsi, Intel, Microsoft, Unilever, P&G, Nestle, Metro, PWC, Kao,
Avon, Mercedes Benz… cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi chính quốc
(Home Country) bằng nguồn vốn FDI. Các MNC sẽ tạo ra một mạng lưới các công
ty con (Subsidaries) trên phạm vi toàn cầu mà lẽ đương nhiên là giữa các công ty
con này với nhau và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có các mối quan
hệ ràng buộc về nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về kinh tế là quan trọng và rõ
nhất nhằm phục vụ cho tối đa hóa lợi nhuận của toàn bộ MNC.
2) Các nghiệp vụ mua bán nội bộ và khái niệm hoạt động chuyển giá của
MNC :
a) Mua bán nội bộ:
Dựa vào tính chất và các đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến
trên thị trường, chúng ta có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ ra thành các
nhóm như sau:
Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính đặc thù cao, hay
các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế riêng làm
cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp.
5
Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty con tại
các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia
(Sourcing Country) và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân
công cho sản xuất.
Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị cho
sản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang
phát triển.
Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền,
thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản
phẩm.
Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các
chuyên gia vào làm việc tại nước nhận chuyển giao.
Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực
Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữa công
ty mẹ và các công ty con.
b) Khái niệm hoạt động chuyển giá
Trong công tác quản trị tại các MNC thì nghiệp vụ mua bán nội bộ là rất cần
thiết và giúp cho các MNC giảm các rủi ro về thị trường, rủi ro về công nợ. Đi đôi
với các nghiệp vụ mua bán nội bộ này là việc định giá chuyển giao nội bộ và nó
được xem là một phương pháp quản trị ứng dụng được các nhà quản trị áp dụng
một cách bài bản và điêu luyện nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý.
Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ đã được các quốc gia thừa nhận và
tuân theo, tuy nhiên trong thực tế việc định giá chuyển giao này không được áp
dụng theo căn bản giá thị trường mà nó có thể được tính toán theo một mục đích
nào đó của MNC. Việc định giá chuyển giao nội bộ diễn ra theo một sự áp đặt giá
mang tính chất chủ quan của hai bên tham gia vào giao dịch. Vì vậy mà các trường
hợp này được gọi là hành vi chuyển giá.
Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, áp đặt giá cả mua bán lên các giao
dịch nội bộ không căn cứ trên giá cả thị trường, quy luật cung cầu giữa công ty mẹ
và công ty con hay giữa các công ty con với nhau trong cùng một MNC nhằm mục
đích cuối cùng là tối thiểu số thuế phải nộp.
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện ý đồ trốn tránh việc
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (Income Corporate Tax) tại các quốc gia có thuế
suất cao. Thông qua các nghiệp vụ chuyển giá, các MNC sẽ chuyển thu nhập ra khỏi
quốc gia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao mà MNC này có trụ sở. Chuyển
giá là một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh tế quốc
tế hội nhập, khi mà các MNC này có nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều quốc
6
gia khác nhau mà các công ty này mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho nhau.
Các hoạt động này có thể chứa đựng trong đó là các hoạt động “chuyển giá”, giá cả
của hàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu
hướng chủ quan mà không hề dựa trên chi phí thực tế tạo nên sản phẩm hay dịch vụ
được cung cấp. Thông qua hoạt động chuyển giá sẽ mang về cho các MNC một
khoảng lợi nhuận lớn trong khi các MNC này không cần phải nỗ lực nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộng phát triển thị trường mà chỉ cần những hoạt
động phù phép trên sổ sách kế toán.
Tuy nhiên, một nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến hoạt động chuyển giá xảy
ra đó là tính đặc thù của sản phẩm, có những sản phẩm không tìm thấy hay rất khó
tìm thấy các sản phẩm tương tự thay thế. Chúng ta thường tìm thấy đặc tính này đối
với các tài sản cố định vô hình như lợi thế thương mại, bản quyền sáng chế, phát
minh, bí quyết công nghệ… Chính do tính đặc thù cao này đã gây ra những khó
khăn khi áp dụng nguyên tắc ALP vào trong việc định và so sánh giá thị trường.
Mục đích cuối cùng của hoạt động chuyển giá là tối đa hóa lợi nhuận của MNC
bằng cách tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp mà MNC phải nộp cho các
chính phủ. Chính vì mục đích là tối thiểu hóa số thuế phải nộp nên MNC sẽ tiến
hành điều phối thu nhập của các công ty con tại các quốc gia có thuế suất cao sang
các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp.
Ví dụ: một doanh nghiệp sản xuất xe hơi tại Thái Lan với giá 9.000 USD. Chi
phí để quảng cáo và bán chiếc xe đó tại Việt Nam là 1.000 USD. Công ty đó có thể
nâng giá bán cho doanh nghiệp Việt Nam lên 10.000 USD, và bán lại xe tại Việt
Nam với giá 10.000 USD.
Về tổng thể, công ty đã có lời 1.000 USD và phải đóng thuế tại Thái Lan thay vì
Việt Nam. Nếu tại Thái Lan công ty đang được ưu đãi thuế, thì khoản lãi này sẽ
được miễn thuế toàn bộ. Như vậy, nếu giá mua linh kiện cao, lợi nhuận của công ty
tại Việt Nam sẽ giảm và Nhà nước Việt Nam sẽ thất thu thuế. Tuy nhiên lợi nhuận
của cả tập đoàn sẽ không đổi (vì lợi nhuận tại Việt Nam đã được chuyển sang cho
công ty con khác ở Thái Lan).
c) Biểu hiện của chuyển giá:
Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm
thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành
vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong
những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn
toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền
mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
7
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết
nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có
cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm
liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ
thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết
cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tồn tại sự khác nhau về chính sách
thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ
không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất
yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.
Cho nên, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa
các chủ thể có mối quan hệ liên kết. Để làm điều này họ phải thiết lập một chính
sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào
lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. Chúng ta cần phân biệt điều này với
trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng đằng
sau đó họ vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó nếu
giao dịch bị chuyển giá, họ sẽ không phải thực hiện vế sau của việc thanh toán trên
và thậm chí họ có thể định giá giao dịch cao. Các đối tượng này nắm bắt và vận
dụng được những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong
quy định thuế để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp. Như thế, vô hình chung,
chuyển giá đã gây ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế do xác
định không chính xác nghĩa vụ thuế, dẫn đến bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự cách
biệt trong ưu thế cạnh tranh.
Tuy vậy, thật không đơn giản để xác định một chủ thể đã thực hiện chuyển giá.
Vấn đề ở chỗ, nếu định giá cao hoặc thấp mà làm tăng số thu thuế một cách cục bộ
cho một nhà nước thì cơ quan có thẩm quyền nên định lại giá chuyển giao. Chẳng
hạn, giá mua đầu vào nếu được xác định thấp, điều đó có thể hình thành chi phí thấp
và hệ quả là thu nhập trước thuế sẽ cao, kéo theo thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế
TNDN) tăng; hoặc giả như giá xuất khẩu định cao cũng làm doanh thu tăng và kết
quả là cũng làm tăng số thuế mà nhà nước thu được. Nhưng cần hiểu rằng điều đó
cũng có nghĩa rằng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp liên kết ở đầu kia có khả năng
đã giảm xuống do chuyển một phần nghĩa vụ của mình qua giá sang doanh nghiệp
liên kết này.
Hành vi này chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có
quan hệ liên kết. Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá. Nhưng giao kết về
giá chưa đủ để kết luận rằng chủ thể đã thực hiện hành vi chuyển giá. Bởi lẽ nếu
giao kết đó chưa thực hiện trên thực tế hoặc chưa có sự chuyển dịch quyền đối với
đối tượng giao dịch thì không có cơ sở để xác định sự chuyển dịch về mặt lợi ích.
8
Như vậy, ta có thể xem chuyển giá hoàn thành khi có sự chuyển giao đối tượng giao
dịch cho dù đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán hay chưa.
Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá. Chúng ta cũng chỉ có thể
đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị
trường. Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng
để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá.
d) Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi
phải được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết. Điều 9 Công
ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem
là liên kết (associated enterprises) khi:
i. Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp
kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
ii. Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities)
khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
hoặc thông qua trung gian”.
Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnh
hưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xác định
mối quan hệ liên kết. Tính chất của những biểu hiện này không mang tính quyết
định. Như thế các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một
quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau. Từ đó, chuyển giá không chỉ diễn
ra trong các giao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao dịch quốc nội.
Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịch
quốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ
hơn. Trong khi đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên các nghĩa vụ
thuế hình thành từ các giao dịch trong nước ít có sự cách biệt. Vì thế, phần lớn các
quốc gia hiện nay thường chỉ quy định về chuyển giá đối với giao dịch quốc tế.
Theo đó, giao dịch quốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh
nghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượng tham gia là chủ thể không cư trú (non-
residents). Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cách biệt về mức thuế suất thuế TNDN
của các quốc gia. Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá từ doanh nghiệp liên kết cư
trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ở quốc gia có thuế suất
thấp. Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảm thu nhập cục
bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao. Trong hai trường hợp đều cho ra
những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhóm liên kết
tăng lên.
9
Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễn
giảm thuế. Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng
ưu đãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về
điều này.
e) Phương thức trốn thuế qua chuyển giá:
Thực ra, trốn thuế qua chuyển giá có thể được thực hiện một cách bài bản ngay
từ giai đoạn đầu tư thông qua việc tính giá trị công nghệ, thương hiệu (vốn vô
hình) cao.
Nâng phần vốn góp cao lên cùng tỉ lệ góp vốn cao, làm cho Tỷ lệ lợi nhuận
được chia cao hơn nhiều so với vốn thực.
Chưa hết, bằng cách tăng chi phí khấu hao (nghĩa là lợi nhuận giảm). Tức là:
Thu nhập chịu thuế giảm = Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ví dụ:
Khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì
mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế
giảm 100 USD; và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% như hiện
nay, Nhà nước sẽ thấp thu 25 USD.
Đến giai đoạn hoạt động, việc nâng giá vật tư, phụ tùng đầu vào cũng kéo theo
ngân sách bị thấp thu rất nhiều loại thuế.
Chẳng hạn, khi doanh nghiệp nâng giá lên 100.000 USD thì công ty mẹ không
phải nộp một đồng thuế GTGT nào (vì là hàng xuất khẩu), đồng thời được khấu trừ
thuế đầu vào.
Còn công ty con, phải nộp thuế với hàng nhập khẩu nhưng bù lại, được khấu trừ
khi bán sản phẩm.
Thế là đương nhiên cả "mẹ" và "con" đều không mất một đồng thuế nào trong
khi được hưởng trọn khoản tiền do nâng giá mà có.
Với thuế nhập khẩu:
Hàng nằm trong diện miễn giảm: số tiền được miễn giảm = số thất thu của Nhà
nước.
Nhưng ngay cả khi không nằm trong diện miễn giảm: số tiền nộp thuế cũng đã
được đưa vào chi phí và làm giảm thu nhập chịu thuế = một lượng tương đương.
Thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách.
Giả sử:
10
Với trị giá hàng hóa được nâng lên là 100.000 USD và thuế suất thuế nhập khẩu
là 30%
Thuế nhập khẩu phải nộp là 30.000 USD (nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm
30.000 USD).
Thuế thu nhập doanh nghiệp bị mất là: 30.000 x 25% = 7.500 USD
Thuế suất ở trong nước = nước ngoài:
Công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp
thuế là 25.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty
con giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 25.000 USD.
Đây chính là khoản mà Nhà nước ta bị thất thu.
Thuế suất nước ngoài < Việt Nam:
Thuế thu nhập DN ở Đài Loan là 20%
Thuế thu nhập DN ở Việt Nam là 28% (trước đây)
Chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hoá và dịch vụ cho
chi nhánh ở Việt Nam.
Nếu khoản nâng giá là 100.000 USD lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng
100.000 USD & thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD. Đồng thời lợi
nhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD.
Tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD. Như vậy thông qua chuyển
giá quốc tế công ty này đã "tiết kiệm" được 8.000 USD.
f) Các tác động của chuyển giá :
Dưới góc độ MNC
Hoạt động chuyển giá dưới góc độ của MNC sẽ được nhìn nhận theo hai hướng
khác nhau, đó là có thể giúp cho MNC dễ dàng thực hiện kế hoạch và mục tiêu kinh
doanh của mình về lợi nhuận và thuế. Nhưng một mặt khác, chuyển giá lại mang lại
nguy cơ MNC phải gánh chịu những hình phạt nặng nề của quốc gia sở tại và các
quốc gia có liên quan.
Dưới góc độ các quốc gia liên quan
Hoạt động chuyển giá không chỉ có tác động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận đầu tư
mà còn ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư. Các
MNC với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có thể thực hiện mọi phương thức chuyển
giá và gây ra hậu quả nghiêm trọng và lâu dài đối với nền kinh tế của cả hai quốc
gia xuất khẩu và tiếp nhận đầu tư.
11
II) Thực trạng chuyển giá tại Việt Nam:
1) Sơ lược tình hình chuyển giá của DN FDI:
Gần 70% doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tại
TPHCM, trong đó có hơn 90% DN trong lĩnh vực may mặc, báo cáo năm qua làm
ăn thua lỗ hoặc hòa vốn. Những số liệu này dù tạm tính vì số DN được Cục Thuế
TPHCM yêu cầu báo cáo nay chưa phản hồi hết nhưng cũng đủ để hạ màn một vở
kịch vốn là bổn cũ soạn lại.
Những năm trước, báo cáo tài chính của phần lớn DN trong khối này cũng ảm
đạm như vậy. Hồi năm 2005, Cục Thuế TPHCM đã tiến hành kiểm tra “thử” 50 DN
FDI báo cáo lỗ và phát hiện trong số đó nhiều DN khai man, truy thu thuế thu nhập
DN đến 60 tỉ đồng.
Đòn phép của nhiều DN FDI, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia là dùng
“chiêu” chuyển giá để nâng khống chi phí đầu vào, giảm thiểu doanh thu thực tế để
nộp thuế thu nhập DN ít đi. Tại những nước có mức thuế thu nhập DN cao như VN
(kể từ ngày 1-1-2009, từ 28% còn 25%), thủ thuật này được khai thác tối đa. Công
ty “mẹ” ở nước ngoài và công ty “con” tại VN thường thông đồng tăng khống giá
nguyên phụ liệu nhập khẩu hoặc lợi dụng những chính sách ưu đãi đầu tư nước
ngoài về mức chi quảng cáo, tiếp thị để hạch toán vào chi phí hợp lý. Nhờ đó, công
ty “con” lỗ ảo, còn công ty “mẹ” tất nhiên lời thật.
Không chỉ trốn thuế, những hành vi này còn dẫn đến mối họa lớn hơn. Đó là một
khi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, DN VN trong liên doanh bị kiệt sức, phải rút vốn,
nhường sân cho đối tác. Thực tế cho thấy không ít DN “con” tại VN đã bị DN “mẹ”
ở nước ngoài thôn tính theo kiểu này.
Tình hình khai lỗ của các doanh nghiệp FDI càng phổ biến và nghiêm trọng hơn
trong những năm đầu mở của kêu gọi đầu tư, khi mà luật pháp chưa được chuẩn bị
tốt để có thể bắt kịp với sự gia tăng nhanh chóng của FDI cũng như trình độ quản lý
của các cơ quan
Tình hình khai lỗ tại các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM
12
Năm Sốdoanh nghiệp
được khảo sát
Sốdoanh nghiệp
FDI kê khai lỗ
Tỷ Lệ (%)
1996 451 310 68,7%
1997 510 358 70,2%
1998 500 341 68,2%
1999 395 281 71,1%
2000 352 235 66,8%
2001 704 545 77,4%
Trung bình 71,1%
Nguồn: Cục Thuế TP.HCM
Thông qua số liệu trong bảng trên, chúng ta có thể thấy được 71,1% các doanh
nghiệp được khảo sát đã kê khai lỗ. Vậy trong số các doanh nghiệp này, có bao
nhiêu doanh nghiệp lỗ thiệt và bao nhiêu doanh nghiệp nào lỗ giả (thực hiện các
hành vi chuyển giá hay gian lận trong kê khai thuế).
Một nguồn số liệu khác từ Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư cũng tiến hành khảo sát các
doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, kết quả công bố
chỉ trong 6 tháng đầu năm năm 2005 trong 1.450 doanh nghiệp FDI được khảo sát
thì đã có đến 1.260 doanh nghiệp kê khai làm ăn thua lỗ, chiếm đến 87% các doanh
nghiệp được khảo sát. Các doanh nghiệp làm ăn có lãi chỉ có 190 doanh nghiệp
tương đương khoảng 13% các doanh nghiệp được khảo sát. Đứng trước những con
số thống kê trên cho thấy được tình hình nghiêm trọng của hành vi chuyển giá các
doanh nghiệp FDI. Tính đến tháng 12 năm 2005 đã có 116 doanh nghiệp liên doanh
chuyển sang hình thức công ty 100% vốn nước ngoài và tổng số vốn đầu tư lên đến
1,3 tỷ USD. Nguyên nhân chủ yếu của việc chuyển đổi hình thức sở hữu doanh
nghiệp này là do thua lỗ kéo dài và bên phía liên doanh Việt Nam không còn đủ khả
năng tài chính để tiếp tục hợp tác kinh doanh vì vậy phải bán phần vốn của mình lại
cho đối tác.
Các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ qua các năm do Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
khảo sát
Năm Số doanh nghiệp được
khảo sát
Số doanh nghiệp
khai lỗ
Tỷ lệ %
1995 525 390 74,3%
1996 654 481 73,6%
1997 860 576 67%
1998 981 702 71,5%
…
2003 525 390 74,3%
2004 654 481 73.6%
2005 1.450 1.260 87%
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao các doanh nghiệp FDI có tiềm lực tài chính
hùng hậu. Trình độ quản lý cao thì nguyên nhân dẫn đến thua lỗ là do đâu? Thật ra
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do các doanh nghiệp FDI dựa vào sự
chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia để thực hiện hành vi chuyển giá.
So với các nước trong khu vực thì thuế suất thuế TNDN tại nước ta vẫn còn cao hơn
so với các nước trong khu vực. Thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam trước thời điểm
năm 2003 là 32% và cuối năm 2003 chính phủ đã giảm xuống còn 28% cho đến hết
năm 2008. Bắt đầu từ năm 2009 thì thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt
Nam là 25 %.
13
Như vậy thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam so với thuế suất
thuế thu nhập doanh tại các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn cao, vì vậy
sẽ có một số hướng chuyển lợi nhuận như bảng thuế suất sau.
Thuế suất thuế TNDN tại các quốc gia vào thời điểm năm 2008
Quốc gia Thuế suất cao nhất
Hồng Kông 16,5%
Ireland 12,5%
Hungary 16%
Nga 24%
Đài Loan 25%
Hàn Quốc 27,5%
Úc 30%
Thái Lan 30%
Trung Quốc 25%
Pháp 33,33%
Mỹ 40%
Nhật Bản 40,69%
Việt Nam 28%
(Nguồn: KPMG 2008 khảo sát về Thuế suất thuế TNDN)
Căn cứ vào bảng thuế suất được khảo sát vào năm 2002 thì thuế suất tại Việt
Nam được xem là thuộc nhóm các quốc gia có thuế suất cao trong khu vực. Mặc dù
đến cuối năm 2003 chính phủ đã có sự điều chỉnh thuế suất từ 32% xuống 28%
nhưng trong thời gian này thì các quốc gia trong khu vực cũng điều chỉnh thuế suất
xuống mức thấp hơn. Như Singapore điều chỉnh thuế suất từ 20% xuống 19%,
Philippine điều chỉnh thuế suất từ 35% xuống 30% và gần đây nhất là Trung Quốc
điều chỉnh thuế suất từ 33% xuống mức thuế suất mới là 25% để tăng tính cạnh
tranh và chuyển hướng hoạt động chuyển giá. Sự cắt giảm thuế suất của các quốc
gia trong khu vực càng làm tăng thêm áp lực hoạt động chuyển giá của các MNC
lên Việt Nam.
Một trong những nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng chuyển giá xảy ra một
cách nghiêm trọng tại Việt Nam là do luật pháp chưa hoàn thiện và luật pháp
thường có một độ trễ so với tình hình thực tế kinh tế quốc gia đó. Các qui định pháp
luật còn nhiều chỗ chưa phù hợp và nhiều khe hở, vì vậy mà các MNC lách luật hay
trái luật để thực hiện các hành vi chuyển giá mà không bị phát hiện. Mặt khác năng
lực của cán bộ thuế còn nhiều hạn chế và cơ quan quản lý chưa xây dựng được một
cơ sở dữ liệu về giá cả của các giao dịch nội bộ để có cơ sở làm căn cứ để so sánh.
Năng lực về thẩm định giá của cán bộ vẫn còn hạn chế. Các yếu kém trên cần được
khắc phục để tránh làm mất nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét