Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Tăng cường hoạt động tài chính thông qua phân tích tài chính tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện

Chuyên đề tốt nghiệp
trọng của nợ và vốn của chủ (vốn tự có) do chủ nợ và cổ đông cung ứng. Nhà
quản lý tài chính phải cân nhắc, tính toán để quyết định doanh nghiệp nên vay
bao nhiêu? Một cơ cấu giữa nợ và vốn của chủ như thế nào là tốt nhất? Nguồn
vốn nào là thích hợp đối với doanh nghiệp?
Thứ ba: nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày
như thế nào? Đây là quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt
chẽ tới quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngắn
hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ. Nhà quản lý
tài chính cần phải xử lý sự lệch pha giữa các dòng tiền. Quản lý ngắn hạn các
dòng tiền không thể tách rời với vốn lưu động ròng của doanh nghiệp. Vốn
lưu động ròng được xác định là khoản chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ
ngắn hạn. Một số vần đề về quản lý tài sản lưu động sẽ được làm rõ như:
doanh nghiệp nên nắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ? Doanh nghiệp sẽ tài trợ
ngắn hạn bằng cách nào? Mua chịu hay vay ngắn hạn và trả tiền ngay? Nếu
vay ngắn hạn thì doanh nghiệp nên vay ở đâu và vay như thế nào?
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh
nghiệp, nhưng đó là ba vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất. Quản lý tài chính
doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về phân tích tài chính trong doanh nghiệp.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải hội tụ đủ các
nguồn lực cần thiết như: vốn, lao động, nguyên vật liệu … Các yếu tố nguồn
này lại không phải là vô hạn, chúng có giá do đó nếu sử dụng không hợp lý,
kém hiệu quả sẽ nảy sinh rủi ro mất khả năng thanh toán thậm chí phá sản.
Muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra tính
khoa học, hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải cập nhật tình
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
5
Chuyên đề tốt nghiệp
hình hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là tình hình tài chính của doanh
nghiệp, từ đó tăng cường công tác quản lý và hoạt động tài chính cho doanh
nghiệp, luôn sẵn sàng phương án kinh doanh thích hợp, phương án xử lý rủi
ro kịp thời là điều kiện sống còn cho bất cứ doanh nghiệp nào. Do đó, để làm
được như vậy cần phải tiến hành hoạt động phân tích tài chính.
Phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất là đánh giá, xem xét, nghiên cứu
các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hưu cơ, biện chứng giữa các bộ phận
cấu thành của sự vật, hiện tượng đó. Trên cơ sở đó nhận thức được bản chất,
tính chất và hình thức phát triển của các sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phát triển, thông tin cho quản
lý chưa nhiều, chưa phức tạp, do đó công việc phân tích được tiến hành đơn
giản, chỉ là những phép tính cộng trừ, kiểm điếm, đánh giá, nhìn lại mình
trong quá khứ để phục vụ cho việc ra quyết định trong tương lai. Như vậy
công việc phân tích kinh tế chỉ là một trong những phần việc của người quản
lý, phục vụ riêng cho người quản lý.
Khi xã hội phát triển, nền kinh tế được mở rộng và các mối quan hệ
kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi con người (các nhà quản lý
cũng như các đối tượng sử dụng thông tin kinh tế khác) cần nhận thức được
tính chất, hình thức phát triển của các sự kiện, hiện tượng kinh tế. Đáp ứng
yêu cầu này phân tích kinh tế được ra đời và trở thành một hệ thống lý luận
độc lập và ngày càng phát triển.
Sự ra đời của phân tích kinh tế cùng với vai trò ngày càng quan trọng
của tài chính trong doanh nghiệp đã thúc đẩy hình thành lý luận về phân tích
tài chính.
Tài chính doanh nghiệp bản chất là các mối quan hệ phân phối dưới
hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Xét về hình thức tài chính doanh
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
6
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong
quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là tổng hòa các phương pháp cho phép đánh giá tình
hình tài chính đã qua và hiện nay cũng như dự đoán tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó giúp cho nhà quản trị đưa ra được các
quyết định quản lý chuẩn xác. Đồng thời giúp các đối tượng quan tâm đưa ra
được các quyết định hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ đã lựa chọn.
1.2.2. Sự cần thiết phải tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ phải có một lượng vốn nhất định bao gồm
vốn cố định, vốn lưu động, và các loại vốn chuyên dùng khác. Nhiệm vụ của
doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả
nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và pháp luật.
Thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp doanh nghiệp và các cơ
quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định đúng
đắn các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài
chính. Từ đó có các giải pháp hữu hiệu để ổn định, tăng cường sự vững mạnh
của hệ thống tài chính doanh nghiệp.
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Phân tích tài chính giúp nhà quản
lý đánh giá được tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
từ đó có thể đưa ra các dự báo tài chính, các quyết định tài chính một cách
phù hợp. Mặt khác, thông qua phân tích tài chính nhà quản lý có thể kiểm soát
kịp thời mọi hoạt động, đề ra các biện pháp có thể khai thác có hiệu quả các
tiềm năng, đồng thời khắc phục được các tồn tại và vướng mắc trong doanh
nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư: Thông qua phân tích tài chính có thể đánh giá
được khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp
năng sinh lời của doanh nghiệp. Thông qua phân tích các chỉ tiêu, các nhà đầu
tư có thể thấy được hiệu quả đồng vốn mình bỏ ra có sinh lời hay không,
doanh nghiệp đã và sẽ sử dụng số vốn đó như thế nào, mức độ rủi ro đồng vốn
của các nhà đầu tư bỏ ra cao hay thấp, từ đó giúp các nhà đầu tư có quyết định
đúng đắn về vấn đề cho vay vốn, thu hồi nợ hay đầu tư vào doanh nghiệp.
- Đối với các nhà quản lý Nhà nước: Phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp giúp cho các nhà quản lý đánh giá được điểm mạnh yếu của
doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra cơ chế chính sách tài chính thích hợp, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp quản lý và hoạt động kinh doanh, hướng dẫn
trợ giúp các doanh nghiệp phát huy lợi thế, khắc phục yếu điểm, tăng tích luỹ
cho doanh nghiệp cũng như cho nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính đối
với các đối tượng sử dụng thông tin mà việc phân tích tài chính doanh nghiệp
là hết sức cần thiết và không thể thiếu được trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay.
1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp tiếp cận, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính,
các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp.
Về lý thuyết thì có rất nhiều phương pháp phân tích nhưng trên thực tế
người ta thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp so sánh và phương
pháp tỷ lệ.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế,
được áp dụng từ khâu đầu tới khâu cuối của quá trình phân tích từ khi sưu tầm
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
8
Chuyên đề tốt nghiệp
tài liệu đến khi kết thúc phân tích. Đây là phương pháp tương đối đơn giản và
hiệu quả. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý đến điều kiện so sánh,
tiêu thức so sánh và kỹ thuật so sánh.
• Điều kiện so sánh:
+ Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu.
+ Các đại lượng, các chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung và phương
pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.
• Tiêu thức so sánh: Tuỳ thuộc vào mục đích của cuộc phân tích,
người ta có thể lựa chọn một trong các tiêu thức sau đây:
+ Để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đặt ra: tiến hành so sánh tài
liệu thực tế đạt được với tài liệu kế hoạch, dự toán hoặc định mức.
+ Để xác định xu hướng cũng như tốc độ phát triển: tiến hành so sánh
giữa số liệu thực tế kỳ này với số liệu thực tế kỳ trước.
+ Để xác định vị trí, sức mạnh của công ty: tiến hành so sánh giữa số
liệu của công ty với các doanh nghiệp khác cùng loại hoặc với giá trị trung
bình của ngành kinh doanh.
Số liệu của kỳ trước được chọn làm căn cứ so sánh được gọi là gốc so
sánh.
• Về kỹ thuật so sánh:
+ So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định chênh lệch giữa trị số của
chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy sự
biến động về số tuyệt đối của hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
+ So sánh về số tương đối: là xác định số % tăng giảm giữa thực tế so
với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích.
Khi phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng phương pháp phân tích
theo chiều dọc hoặc phân tích theo chiều ngang.
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
9
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Phân tích theo chiều ngang là việc so sánh cả về số tuyệt đối và số
tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên báo cáo tài chính, qua
đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu.
+ Phân tích theo chiều dọc là việc xem xét, xác định tỷ trọng của từng
chỉ tiêu trong tổng thể quy mô chung, qua đó thấy được mức độ quan trọng
của chỉ tiêu trong tổng thể.
1.2.3.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được dựa trên ý nghĩa, chuẩn mực của các tỷ lệ đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ
yêu cầu phải xác định được các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài
chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì tỷ lệ tài chính đợc
phân chia thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản
theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh tiền tệ có những nhóm chỉ tiêu tài chính như sau: nhóm
chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính, nhóm chỉ
tiêu về khả năng huy động vốn, sử dụng vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh
lời …
Khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ta nên kết hợp cả hai
phương pháp trên để có thể thu được kết quả chính xác nhất, thấy rõ thực chất
hoạt động tài chính cũng như xu hướng biến động của từng chỉ tiêu tài chính
qua các giai đoạn.
1.2.4. Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.2.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp qua bảng
cân đối kế toán.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp cho người sử
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
10
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thường,
tốt hay xấu. Việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết dựa
vào bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một
cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm
nhất định dưới hình thái giá trị theo hai cách phân loại là tài sản và nguồn
hình thành tài sản.
Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái
giá trị và tuân theo nguyên tắc cân đối là tổng tài sản phải bằng tổng nguồn
vốn.
Phần tài sản phản ánh số vốn và kết cấu các loại vốn của đơn vị hiện có
tại thời điểm lập báo cáo đang tồn tại dưới hình thái vật chất như tài sản cố
định, vật liệu, sản phẩm, hàng hoá …; các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới
hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của
doanh nghiệp.
Phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh
nghiệp. Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn trong tổng số nguồn vốn hiện có
phản ánh khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính ổn định, chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phần nguồn vốn thể hiện trách
nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư, cổ
đông, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các đơn vị kinh tế khác, với khách
hàng và với cán bộ công nhân viên.
Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu
trên bảng cân đối kế toán ta đánh giá trên các mặt sau:
• Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại
tài sản qua việc so sánh số cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt đối và số tương
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
11
Chuyên đề tốt nghiệp
đối của tổng tài sản, của từng loại tài sản. Qua đó, ta có thể thấy được sự biến
động của quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi loại tài sản đều có vai trò riêng nên khi xem xét sự biến động của
tài sản ta cần chú ý đến tác động của nó tói quá trình kinh doanh. Cụ thể là:
- Sự biến động của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến
khả năng ứng phó với các khoản nợ đến hạn.
- Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng lớn của quá trình
sản xuất kinh doanh từ khâu dự trữ sản xuất đến khâu bán hàng.
- Sự biến động của khoản phải thu chịu ảnh hưởng của công việc
thanh toán và chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới
việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Sự biến động của tài sản cố định cho thấy quy mô và năng lực sản
xuất hiện có của doanh nghiệp.
• Thứ hai: Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không? Cơ cấu vốn đó
tác động thế nào đến quá trình kinh doanh?
Để làm được điều này, trước hết phải xác định tỷ trọng của từng loại tài
sản trên tổng tài sản, so sánh tỷ trọng từng loại giữa số cuối kỳ với số đầu
năm để biết được sự biến động của cơ cấu vốn.

Giá trị từng loại vốn (nguồn vốn)
Tỷ trọng từng loại vốn = x 100
Tổng vốn (nguồn vốn)
Trước khi đưa ra bất kỳ nhận xét nào về sự biến động tỷ trọng các loại
tài sản ta phải xét tới tính chất ngành nghề kinh doanh cảu doanh nghiệp, tác
động của từng loại tài sản tới quá trình kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong kỳ. Để xác định như thế nào là một cơ cấu vốn hợp lý cho các
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
12
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp là điều rất khó khăn. Mỗi doanh nghiệp phải dựa vào tình hình,
khả năng huy động vốn thực tế cảu doanh nghiệp mà mình xác định ra một cơ
cấu hợp lý nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất trong khi vẫn đạt được hiệu
quả mong muốn.
Cơ cấu vốn có tác động rất lớn tới quá trình sản xuất kinh doanh. Một
doanh nghiệp có được một cơ cấu vốn hợp lý, tránh ứ đọng vốn, dư thừa vốn
hay thiếu hụt vốn là một doanh nghiệp có công tác quản trị tài chính tốt, thể
hiện tình trạng tài chính lành mạnh.
• Thứ ba: Khái quát xác định mức độ độc lập về mặt tài chính của
doanh nghiệp qua việc so sánh từng loại nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm cả
về số tuyệt đối và số tương đối, xác định tỷ trọng từng loại nguồn vốn trên
tổng nguồn, so sánh chúng giữa cuối kỳ và đầu năm.
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng thì
cho thấy khả năng đảm bảo về mặt tài chính của công ty là cao, mức độ phụ
thuộc của công ty vào các chủ nợ là thấp và ngược lại.
Các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ đóng vai trò trung gian tài chính
huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trên thị trường để cho vay. Đối với các doanh
nghiệp loại này nguồn vốn chủ sở hữu là điều kiện pháp lý cơ bản đồng thời
là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với
khách hàng. Chính vì vậy quy mô vốn tự có là yếu tố quyết định quy mô huy
động vốn (huy động vốn <= 20 lần vốn tự có theo pháp lệnh về ngân hàng
trước kia).
Khả năng an toàn của vốn tự có (nguồn vốn chủ sở hữu) hay khả năng
chịu đựng được các rủi ro của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có thể
đánh giá thông qua:
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ số 1:
Vốn tự có
H1 =
Tổng số tiền huy động
Theo pháp lệnh của ngân hàng nhà nước trước đây, các yếu tố tín dụng
không được huy động quá 20 lần vốn tự có, nghĩa là H1>=5%
Chỉ số 2:
Vốn tự có
H2 =
Tổng giá trị tài sản có
Trong quá trình đổi mới tổ chức và quản lý của các trung gian tài chính,
Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ban hành “Quy chế đảm bảo an toàn kinh
doanh tiền tệ tín dụng đối với các tổ chức tín dụng”, trong đó quy định “tổ
chức tín dụng phải duy trì thường xuyên tỉ lệ tối thiểu giữa vốn tự có với tổng
giá trị tài sản có ở mức 5% nghĩa là H2> hoặc =5%.” Chỉ số 2 xác định độ an
toàn của vốn tự có đối với quy mô hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
(Quyết định số 107/QĐ-NHS ngày 09-06-1992).
1.2.4.2. Đánh giá khái quát tình hình tà chính của doanh nghiệp qua báo
cáo kết quả kinh doanh
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty thì ngoài việc
đánh giá thông qua bảng cân đối kế toán ta cần xem xét báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình
hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước
trong một thời kỳ nhất định. Số liệu trên báo cáo này cung cấp thông tin tổng
hợp về phương thức kinh doanh, về việc sử dụng tiềm năng vốn, lao động, kỹ
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét