Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

240904

“Không lộ vuốt nanh cùng nọc độc
Mà xé thòt người nhai ngọt xớt!”
Cả “Truyện Kiều” là một bản cáo trạng cái xã hội phong kiến áp bức; nàng
Thuý Kiều tài tình xinh đẹp, thanh q bò đem bán như món hàng, như thú vật đắt
tiền nào đó. Mã Giám Sinh đến mua đã tàn nhẫn:
“Cò kè thêm bớt một hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”
Thì mò Bạc Hạnh đem Kiều bán đi còn tàn nhẫn hơn:
“Xem người đònh giá vừa rồi
Mối hàng một đã ra mười, thì buông!”
(Trước khi “buông” thì phải nắm thật chặt! Một vốn bốn lời, năm lời, sáu lời,
bảy lời vẫn không buông. Một mười lời, tức thì buông ra không chút quyến luyến,
không thương tiếc!)
- Câu chuyện về cuộc đời cô Kiều là một hiện thực vó đại, là một cuốn tiểu
sử của một xã hội thối nát. Sau cảnh vu oan, tra tấn, hối lộ vỡ lòng là một dây kéo
theo những oan khốc, cảnh buôn người, cảnh làm gái lầu xanh, đánh đập, cảnh lừa
gạt một phụ nữ, cảnh đánh ghen lạ đời, cảnh lừa giết một anh hùng… Cái xã hội gì
mà “đầu trâu mặt người ào ào như sôi” mà “khốc quỷ kinh thần mọc ra” còn như
“thây vô chủ bên sông” thì bất kể ngày đêm, lúc nào cũng sẵn có! Cái uy quyền gì
mà người ta đến mách cho một vài tin tức thì đã “đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”
cốt lập thâm mưu về sau! Cái thứ “mặt sắt” Hồ Tôn Hiến gì mà cũng “ngây vì tình”
ng trang bằng rượu, khiến ông tơ hồng phải động theo, vơ lấy tơ mà xe nhăng xe
nhít. Còn đồng tiền thì thật đáng kinh tởm, dính đầy máu và nước mắt của người
lương thiện: Tú BÀ “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”, bọn quan lại thì đòi trám
miệng, nhăng nhít như đám ruồi nhặng bu vào miếng thòt:
“Là gì cái thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”
Những mụ Tú Bà giờ đây không còn nữa nhưng ai có một lần đọc qua
“Truyện Kiều” thì mụ vẫn có sống mãi trong tâm trí người đọc với cái cơn nổi tam
bành có một không hai cùng cái giọng the thá:
“Này này sự đã giả nhiên
Thôi đà cướp sống chồng mi đi rồi!”
Bảo rằng: đi dạo lấy ngưới
Đem về rước khách kiếm lời mà ăn
5
Tuồng vô nghóa, ở bất nhân
Buồn mình trước đã tần mần thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
(bù lu, bù loa) Thôi thôi vốn liếng đi đơi nhà ma!
(nanh nọc) Con kia đã bán cho ta
Nhập gia phải cứ phép nhà ta đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!
Cớ sao chòu tốt một bề
(đay nghiến) Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!
“Phải làm cho biết phép ta!”
Chập bì tiên, rắp sấn vào ra tay!
Trời đất ơi! Tú Bà nói chưa đầy nửa phút mà bọt mép của mụ văng ra mãi
đến ngàn năm! Tưởng như “mưa bay” tới tấp vào mặt ấy, mụ nói cứ như xé rách cả
trang giấy viết của Nguyễn Du ấy! Tuy nhiên xã hội ta vẫn chưa diệt hết hạng
người áy, chứng cứ sống dai khiến người ta nhớ như in dáng điệu không lẫn vào đâu
“Thoắt trông nhờn nhợt màu da/Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao” của mụ! Không còn
cô Hoạn Thư trong cái cách sai tay chân đi đốt nhà, bắt người về hành hạ nhưng cái
mưu mô của mụ thì quả là sâu sắc, khi ta cợt nghó đến vẫn còn “sởn da gà”. Nhân
vật Hoạn Thư là một sáng tạo thật ly kì, thật hiếm có nhưng lại rất thật! Nhưng nếu
cuộc đời ta đang xây dựng không còn những anh Thúc Sinh thì không bao giờ còn
mụ Hoạn Thư! Cái anh Thúc Sinh sợ vợ, không chút khí phách đàn ông nhưng lại
tốt bụng hiền lành. Còn cái tên “Sở Khanh, thật đúng với cái tên của hắn. Từ anh
Sở Khanh cưỡi ngựa chuồn mất trong “Truyện Kiều” đến những anh Sở Khanh
trong đời thường không đi ngựa mà đi bộ, đi xe đạp hay ô tô mà người ta vẫn cứ
nhớ cái “Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!” Bỡi nó rất điển hình cho tính “anh
hùng rơm” của gã, chỉ biết đấm ngực kêu thời nhưng rốt cuộc chỉ là cái mắt mo mà
nàng Kiều muốn lờ đi.
Nếu nói về cách sử dụng ngôn từ, ca dao , tục ngữ một cách nhuần nhuyễn
trong tác phẩm “Truyện Kiều” thì không thể tìm người thứ hai ngoài Nguyễn Du.
Tôi lấy ví dung trong đoạn trích” Chò Em Thuý Kiều”
“ Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làm thu thuỷ nét xuân sơn
6
Hoa ghen tha thắm liểu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”
Chỉ trong sáu câu thơ mà Nguyễn Du sử dụng một điển tích và hai hình ảnh
ẩn dụ. Nguyễn Du sử dụng điển tích “nghiêng nước nghiêng thành” để phụ hoạ làm
nổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều, khiến nười ta cũng phải say mê đến nổi mất thành,
mất nước.
“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”, lại một hình ảnh ẩn dụ miêu tả vẻ đẹp trời cho
của nàng, đôi mắt đẹp, trong sáng như nước mùa thu, lông mày như nét của mùa
xuân. Chả thế mà đến thiên nhiên cũng phải “Hoa ghen”, “liễu hờn”. Các bức
tranh của Nguyễn Du mang cái đặc tính và nhưựoc điểm của văn chương cổ điển: tả
người một cách tuyệt đối hoá, tất phải đẹp nhất và tài nhất, đàn ông thì văn chương
nết đất, thông minh tính trời còn đàn bà thì “sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”.
Tuy nhiên, Nguyễn Du có phóng đại về nội dung, mà hình thức văn thì kiệm, ít lời
nhiều chất thể nên người đọc vẫn còn thấy phải chăng.
Còn Thuý Vân:
“Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
“Thốt” cũng có nghóa là nói, nhưng nếu để “Hoa cười ngọc nói” thì chữ “
Nói” bò ảnh hưởng của chữ cười, thế thì hoá ra “Cười nói” mà cười nói nói chẳng
hoá ra nói nhiều. Chữ “ Thốt” là thỉnh thoảng mới nói ( Lấy từ câu tục ngữ “ Biết
thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe” ) đáng mới nói, nghó rồi mới thốt ra, có
thể mới “ Đoan trang”. Thuý Vân cũng rất đẹp, điều đó không còn bàn cãi gì nữa,
nhưng lại đẹp một cách phúc hậu “Khuôn trăng đầy đặn” nói nôn na ra là “Phinh
phính đôi má bánh đúc”, cho nên “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” thua
xong, nhường xong là yên ổn. Còn Thuý Kiều cũng rất đẹp nhưng đẹp theo lối
“Chim sa cá lặn” ( Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ). Hoa cũng phải ghen,
liễu cũng phải kém Thuý Kiều, chúng nó “hờn”, “ghen” và chúng sẽ trả thù và
nàng Kiều sẽ phải lắm phen long đong, lận đận, truân chuyên với chúng! Thật là
một kết quả dự báo gần như là chính xác đối với thời điểm đó!
- Điển tích mà Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm của mình không phải lời
ít, mà ngược lại rất phong phú đằng khác. Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng
Bích”, mở đầu là câu “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân”. Điển tích mà Nguyễn Du
sử dụng ở đây là điển tích “Khoá xuân toả nhò Kiều” nói về việc vua Tần cho bắt
nhốt hai người con gái đẹp nhất là Đại Kiều và Tiểu Kiều vào trong cung để họ
phải chết mòn mỏi. Không biết là hữu hay vô ý mà cô Kiều của chúng ta lại có tên
giống hệt người con gái trong điển tích. Há chẳng phải Nguyễn Du có ý rằng nàng
7
Kiều sau lần tự tử không chất, bò mụ Tú giam vào lầu Ngưng Bích như “cá cắn
câu”, “chim vào lồng” đó sao? Hay điển tích “Sân Lai” trong câu “Sân Lai cách
mấy nắng mưa” (Lão Lai Tử dù đã có tuổi nhưng vẫn còn mặc áo sặc sỡ để mua vui
cho cha mẹ) cũng thể hiện được sự hiếu thuận của nàng Kiều, một lòng hướng về
cha mẹ hay sao? Còn trong đoạn:
“Nàng rằng: nghóa nặng nhìn non
Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”
“Sâm Thương” chính là sao Kim, một hành tinh trong hệ Mặt Trời, nhưng
người xưa cho là hai ngôi sao, một ở phía đông và một ở phía tây, sao này mọc, sao
kia lăn. Nguyễn Du dùng “Sâm Thương” để chỉ sự cách biệt không bao giờ gặp
nhau giữa Thuý Kiều và Thúc Sinh. Thúc Sinh đi rồi, Kiều không thể nào làm “vẹn
chữ lòng”. “Người cũ” và “cố nhân” đều đồng nghóa với nhau và đều chỉ Thúc
Sinh, thể hiện sự biết ơn của nàng trước hành động nghóa hiệp của Sinh: cứu nàng
ra khỏi lầu xah lần thứ nhất.
- Do có cả một thời gian chỉ sống giữa nhân dân cho nên Nguyễn Du có hẳn
cảmột kho tục ngữ, ca dao để vận dụng vào trong thơ của mình. Ví như đoạn Thuý
Kiều gợi nhắc đến Hoạn Thư trong lúc đối thoại với Thúc Sinh trong đoạn trích
“Thuý kiều báo ân, báo oán”
“Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng thoả nghóa sâu cho vừa”
Nhắc đến Thúc Sinh, Kiều không thể không nhớ đến ả Hoạn Thư, cái kẻ đã
cho bọn ưng, Khuyển đốt nhà, bắt cóc nàng về để đánh ghen. Khi cái anh chàng sợ
vợ kia đã nói thực lòng mình:
“Liệu mà cao chạy xa bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi”
thì cũng chính là lúc mà nàng Kiều bắt đầu cho một đời làm a hoàn, hoa nô cho nhà
họ Hoạn. Ả năm lần bảy lượt hành hạ Kiều một cách khốc liệt nhất, bắt nang đánh
đàn cho hai vợ chồng ả nghe, nhưng thực ra:
“Cùng trong một tiếng tơ đồng
người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”
8
Kiều hầu rượu cho vợ chồng Hoạn Thư:
“Vợ chòng chén tạc chén thù
Bắt nàng đứng chực tri hồ hai nơi”
“Hai nơi” chứ không phải “một nơi” đâu! Tức là phải đi đi lại lại để phục vụ
rượu cho vợ chồng ả, hết bên chồng lại bên vợ. Mới chỉ có bấy nhiêu thôi mà ta
cũng có thể đánh giá được bản chất của ả, một kẻ “quỷ quái tinh ma:, toàn dùng
những thủ đoạn cay nhất, độc nhất để đánh ghen. Song, “phen” này thì ả đừng thoát
khỏi tay Kiều (kẻ cắp bà già gặp nhau), Kiều sẽ trả thù, trả thù tất cả những gì mà
ả đã “ban” cho nàng (Mưu Sâu cũng trả nghóa sâu cho vừa). Lạinói thêm về ả Hoạn
Thư, nhất là về thế ghen đặc biệt của Hoạn Thư, Nguyễn Du đặt trong ý nghó của
Thuý Kiều, khi vợ chồng Thúc Sinh đã vào chung gối loan phòng, và nàng đã thức
đêm suy nghó:
“Bây giờ mới rõ tăm hơi
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!”
Người ta nói nhà sư, nhà báo, nhà giáo, nhà văn; còn Nguyễn Công Trứ gọi
các kép đàn, đào hát là “một lũ nhà tơ – ngồi chờ quan lớn”, trong khi dưới con mắt
của Nguyễn Du là một “nhà ghen” (vốn dòng họ Hoạn ghen gia/con quan lại bộ,
tên là Hoạn Thư). Là một “ghen gia” đã thành “nhà” rồi! Cái thể thức đánh ghen
của Hoạn Thư thật là là một sáng tạo ít có trong văn học thế giới, trước hết là một
sáng tạo của Thanh Tâm Tài Nhân và là của Nguyễn Du. Và cái cuộc đánh ghen ấy
là:
“Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao”
Thành ngữ “Giết người không dao” để ám chỉ những kẻ tàn nhẫn, khốc liệt
mà “giết người” đến độ “không dao” thì quả là một “cao thủ” hiếm có. Đối với
Hoạn Thư cũng vậy, ả cho người nhà đến bắt Kiều về để đánh ghen mà đánh ghen
một cách rất cay độc, lúc thì bắt làm hoa nô, lúc thì hầu rượu, đánh đàn cho vợ
chồng Thúc Sinh nghe, lúc thì làm người chép kinh ở gác Quan m. Mọi mưu kế
của ả đều toan tính trong bụng:
“Lo gì việc ấy mà lo
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”
Lại thêm một thành ngữ nữa “Kiến bò miệng chén” ám chỉ cái cách hành hạ
dã man, không chút thương tiếc của Hoạn Thư dành cho Kiều. Có câu chép “Lại bò
đi đâu”. Từ “lại” nghóa là “mà lại” – Kiến trong miệng chén mà lại bò đi đâu? Còn
từ “có” nghóa là: không thể bò đi đằng nào được “đã bỏ vào hòm, khoá rồi, có ai
lấy được!” “Có bò đi đâu” là cái tư thế chòm chõm nắm chắc trong tay văn tự
9
ruộng của anh nông dân của tên đòa chủ giống như Hoạn Thư đã giữ chắc được
Thuý Kiều trongtay mà không lo sợ gì cả.
Nàng Thứy Kiều bò Hoạn Thư truyền gọi ra lạy mừng Thúc Sinh mới về:
“Phải rằng nắng quáng đèn loà
rõ ràng ngồi đó chăng là Thúc Sinh?”
Nàng Kiều không giơ hai tay lên dụi mắt, nhưng Nguyễn Du thực chất miêu
tả nàng như vậy. Tản Đà chú giải: “Nắng quáng đèn loà” cũng như nói rõ “Rõ nàng
mở mắt mà ngờ chiêm bao” và hạ cữ “chăng” tức là nghi vấn thì hợp lý hơn chứ
dùng chữ “chẳng” hơi thiên về khẳng đònh e không hợp Nàng Kiều vừa bước vừa
nghó, đến khi gần rồi mới “cúi đầu nép xuống sân mai một chiều” thì anh chàng
Thúc Sinh của chúng ta mới ngã người:
“Sinh đà phách lạc hồn xiêu
thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?”
Câu này sử dụng chữ “chẳng” mới hợp lý, đúng theo luật âm thanh của thơ
lục bắt. Từ “chăng” mà đưa tới “chẳng” thì bút pháp quả thật tài tình! Còn từ “đà”
tương với từ “đã”, nhưng trong câu:
“Vửa nhà dù tính về sau
Thì đà em đó, lọ cầu chò đây”
Có bản chép “thì còn em đó”, “đa”ø là đã có rồi . nếu Kim Trọng muốn lấy
vợ, thì còn em đó, có thể lấy được. Đằng này Kim Trọng đã lấy Thuý Vân rồi thì
còn đặt từ “còn” vào đấy chi nữa!
Còn khi miêu tả về “bà chò” Tú Bà, Nguyễn Du có viết:
“Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao”
không nên sửa “ăn chi” thành “ăn gì” nghe không hay, vả lại nếu đọc “ăn gì” thì có
tới 3 dấu huyền ở những vò trí nặng nề. Về phần đẫy đà, mụ Tú bà có hai dấu
huyền đè nặng xuống và về phần cao lớn của mụ thì mấy tiếng “ăn chi cao” đã
khiến mụ dong dỏng phần nào. Và cái đoạn mụ Tú Bà nổi cơn tam bành, rút roi đa
đònh sấn lại đánh Thuý Kiều như tôi đã nói nói ở trên cho thấy Nguyễn Du không
những là một nhà thơ mà còn là một nhà viết kòch giỏi. Tưởng như xỉa xói văng
nước bọt, nói thật nhanh không kòp thở, không hề hạ giọng mà một mực đưa lên cao
trào. Thật là một con người ăn để “đẫy đà”, có hơi để mà xỉa xói, chèn ép chò em!
“Chẳng ngờ: gã mã Giám Sinh
vẫn là một đứa phong tình đã quen”
Tản Đà bình luận: chữ “gã” ở đây thật mới, mà nghó ra không thể đặt chữ gì
hơn. chữ “đứa” cũng mới, đi cùng với chữ “gã” thiệt hay. Chữ “gã” là một “y”
10
(theo tiếng Nam bộ), ngồi thứ ba chưa phải là khinh, nhưng rõ ràng không trọng
chút nào, chữ “đứa” thật sự đã khinh bỉ.
Trước lớp báo ân báo oán, Nguyễn Du hãy còn bắt Bạc Hạnh thề và lần này
thì tác giả còn vẽ cảmột cảnh bày biện thờ cúng:
“Một nhà dọn dẹp linh đình
Quét sân, đặc trác, rửa bình, thắp nhang
Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng
Quá lời nguyện hết Thành Hoàng, Thổ Công”
Dọn dẹp thì rất sang trọng, công phu, thề thì rất nhanh, chỉ trỏ bông lông bao
la cho qua chuyện, Mã Giám Sinh, Tú bà thề còn mượn đến “ cấp cao” là trời đất
còn Bạc bà, Bạc hạnh cuối mẻ thề chỉ mượn đến “ cấp dưới” là Thành Hoàng, Thổ
Công, nhưng lại “ quá lời” một sống hai chết ! Nguyễn Du không chỉ dựng lên một
mẻ thề mà dựng lên một cảnh tương phản giữa hình thức bày biện kỹ lưỡng, rềnh
ràng với nội dung thề thốt qua loa, đó là điều vô lí không thể hiểu được trong xã hội
suy tàn. Sự tương phản ấy vừa có ý nghóa xã hội sâu sắc, vừa là một sự trào phúng,
đả kích “ Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công” là một sáng tạo nên tiếng
cười trong ca dao lẫn người bình dân Việt Nam. Nãy giờ quên mất anh chàng sở
khanh:
“ Sở khanh lên tiếng rêu rao
Nọ nghe rằng có con nào ở đây”
Có bản chép “ rằng nghe mới có”. Đang tự nhiên một câu hay “ Nọ nghe
rằng có con nào ở đây” chỉ một cái nhạc điệu câu thơ, với cái tiếng “ nọ” ( này nọ,
kia nọ, phủ lý nọ) cũng đủ thấy giọng sở khanh muốn cà khia! Người ta thường nói
“ nay nghe”, do đó cũng có thể nói là “ nọ nghe”, mặt khác, bảo “ con nào” là rất
khinh bỉ, đó là một con chẳng ai thèm biết, lại thêm tiếng “ đây” vào nữa thì đủ độ
“ nọ, nào, đây”. Chỉ có thể không hiểu biến hoá ấy thì mới sử dụng “ Rằng nghe
mới có”, một câu trơn tuột, không cá thể hoá !
“ Vắng nhà được buổi hôm nay
Dấy lòng gọi chút sang đây tạ lòng”
Thử thay đổi từ “ sang “ bằng “ ra “ thì đôi trai gái chẳng còn ra thể thống gì
nữa. Đúng là “ liễu ngõ tường hoa tường rồi, liễu mọc ngay ở ngõ, hoa thời ngay
trên tường, có sát sạt như thế thò mới “ ra đây” một cách chóng váng như thế.
“sang đây tạ lòng” là phải cất công đi sang, vả lại lần Kiều đến thăm Kim Trọng thì
ít nhất đường đủ dài để mà “ sang” chứ không phải làm một cái “ xoẹt” mà “ ra
đây” ngay tức khắc ! Với lại “ tạ lòng” kia mà, muốn tạ lòng thì không khí phải
trang trọng, phải sang đây chứ đừng “ ra đây” ( hơi mất lòch sự ).
11
Kiều tạ ơn trước Từ Hải :
“ Khắc xương ghi dạ xiết chi
Dễ đêm gan góc đền nghì trời mây”
“ Khắc xương ghi dạ” cũng đồng nghóa với “ chạm xương chép dạ”. Nhưng
“khắc xương” là khắc vào xương, nghó cũng hơi quá mà lại thay bằng “ chạm” vào
xương thì quả là một thứ tiểu xảo lố bòch “ khắc ơn” thì nghe nói chứ “ chạm ơn” thì
chưa bao giờ, chả lẽ lại chạm vào xương “ Ghi dạ” là vừa “ ghi” là động tác vừa
nói, vừa ghi lại kết quả chứ “ chép” thì chẳng hoá ra “ photocoppy” một cách y
chăng hay sao ?
“ Cậy em em có chòu lời
Ngồi lên cho chò lạy rồi sẽ thưa”
Nhờ cậy mà không áp đặt vì đây là duyên không thể áp đặt : tình duyên cho
nên dù là chò em thân thiết nhưng Kiều đặt Vân vào một mối quan hệ ngang hàng,
bình đẳng, có khi còn hơn thế nữa. “ cậy” là tin cậy, nhờ cậy. Nó đòi hỏi sự gắng
gỏi, nhọc lòng, người được trao phải dốc kiệt sức mới mong làm được. Chỉ cần thay
một từ đồng nghóa như từ “ nhờ” thì câu thơ mất ngay trọng lượng. Từ “ chòu” cũng
vậy, từ “ nhận” chẳng hạn cũng nhận lấy kết quả như trên. y là chưa nói đến từ
“Thưa” (hàm nghóa rộng là “ Nói “ ) bình thường, “ Thưa” dùng dể giao tiếp giữa
kẻ dưới với người bề trên nhưng vào hoàn cảnh này thì đối với nàng Kiều, ai giúp
được mình thì đó là người trên bất kể là chi hay em. Với từ “ lạy” ở câu dưới, không
phải là vái lạy mà lạy van xin, kết hợp với từ “cậy “ nó tạo thnàh một câu hoàn
chỉnh : “ Chò xin em, chò lạy em, em có thương chò thì giúp chò hoàn thành lời đính
ước giữa chi với Kim Trọng”. Chỉ cần hai câu mà Thuý Kiều đã nhờ em mình làm
hộ công việc, thật là dài!
Báo thể thao và văn hoá số ra ngày 29 – 7 – 2006 có viết : “ Trước đây nhà
thơ Tế Hanh từng có bài thơ, đại ý kể lại chuyện : Trong một lần về Nghi Xuân –
Hà Tónh – quê hương đại thi hào Nguyễn Du, khi ông hỏi một bà ụ rằng nhà cụ
Nguyễn ở đâu, bà cụ ngơ ngác hỏi lại : “ Nguyễn Du nào?” ông mới nói : Người đã
viết “ Truyện Kiều”, tức thì bà cụ “ à lên” bảo : “ Thế thì đi đường này, bác theo
tôi”. Và tác giả bài thơ kết luận : “ Người ta có thể quên đến người làm thơ, nhưng
đừng để quên thơ”. Đấy, hẳn mọi người đã thấy được sức lan toả của “ Truyện
Kiều” trong tầng lớp bình dân, hàng trăm câu Kiều đã thành tục ngữ từ lúc nào
không hay. Không những “ Trăm năm tính cuộc vuông tròn/phải dò cho đến ngọn
nguồn lạch sông”, “Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay”, “ Mặt mo đã thấy ở
đâu dẫn vào”, “ Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”… màn hững tình tứ tinh vi,
khuất khúc nhất của con người “ Vui là vui ngượng kẻo mà’’, “ Chiều lòng gọi chút
xướng tuỳ mảy may”, “ Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa”… cũng đã
thành tục ngữ. Cho đến phòng cảnh trong “ Truyện Kiều” cũng trở thành tục ngữ
12
bởi những từ ngữ mà Nguyễn Du sử dụng hầu hết đều quá ư gần gũi với nhân dân,
có khi sử dụng những âm từ gần gúi với nhân dân và bởi dễ học thuộc lòng nên
người ta mới đem ra nói! Đến khi, kết thúc “ Truyện kiều”, Nguyễn Du vẫn cho là :
“Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”
Tác giả cho rằng đó chỉ là “ lời quê”, là do “ chắp nhặt dông dài” để “ mua
vui một vài trống canh” mà thôi. Thực sự, muốn bình luận những vần thơ, ý thơ sâu
sắc, được tác giả dày công sàng lọc, chọn lọc thì cũng phải bỏ ra nhiều công sức.
Nhưng Nguyễn Du lại hồn nhiên “ Nãy giờ tôi làm việc không đáng kể” trong khi
người bình luận đã thấm mệt, như chưa đổ một tí mồ hôi nào cả ! Như chừng còn có
thể viết một truyện dài như thế nữa ! Người mua bao đường kiếm sắc sảo mà chỉ
như đi vài bước sơ sài mua vui. Chứng tỏ viết “ Kiều” đối với tác giả chưa phải đã
cạn hết sức lực, chưa cạn ý tình ! Quả thật, cuộc sống gần với nhân dân đã góp vào
“Truyện Kiều” một sức mạnh không nhỏ để có thể tạo nên tiếng vang còn vang
đến tận bây giờ.
2) Thơ Hồ Xuân Hương mang đậm chất dân gian :
Có thể nói Hồ Xuân Hương là một hiện tượng hết sức độc đáo trong lòch sử
văn học Việt Nam. Mặcd ù có những quan điểm đánh giá Hồ Xuân Hương hết sức
khác nhau, như cho rằng “ thi trung hữu quỷ”, rằng thơ bà “ tục tóu” hoặc Hồ Xuân
Hương “ nhà thơ cách mạng” “ bà chúa thơ nôm”…nhưng tất cả các nhà nghiên cứu
đều thống nhất một quan điểm thơ Hồ Xuân Hương rất đậm đà sắc thái dan gian Hồ
Xuân Hương đã vận dụng tuyệt dối mọi hình thức vốn có của văn học dân gian vào
thơ của mình về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.
1) Chất dân gian trong thơ của Hồ Xuân Hương về nội dung được bà thể
hiện ở 3 hệ thống đề tài như : về loại người “ có học”, về nhà chùa và về người
phụ nữ.
a. Về đề tài người có học :
Dân ta hiếu học và kính trọng người học, người học dốt không phải là đối
tượng để dân gian đả kích. Họ ghét là những kẻ “ xấu nói tốt, dốt nói chữ”. Thà dốt
đặc còn hơn hay chữ lóng. Như vậy thực chất đối tượng phê phán của dân gian là
bọn đạo đức giả : dốt nát nhưng hay hợm mình khoe khoang, trong bụng chẳng mấy
chữ mà ngạo. Bà Hồ Xuân Hương đã bắt được cái cảm và cái nghó đó của dân gian
và thể hiện ra bằng thơ. Bà gọi lũ hay chữ lỏng ấy là đàn thằng ngọng trong bài thơ:
“ Một đàn thằng ngọng nỉ xem chuông. Chúng bảo nhau rằng : ấy ái uông”
Vì thế mà Hồ Xuân Hương tỏ ra khinh bỉ, xem thường bọn người ấy :
“ Khéo léo đi đâi lũ ngẩn ngơ
13
Lại đây cho chò dạy làm thơ”
Đó là những hang mạt trong giới “ có học”. Nhân cách các bậc hiền triết
quân tử cũng chẳng còn gì “ phường lối tóc” tuy chữ nghóa có nhiều hơn dù cho
chúng văn chương chữ nghóa “ bề bề” ra đấy nhưng khi thấy người ta chẳng may
nằm “ hớ hênh ra” thì cũng như gà mắc tóc. Điều đó mâu thuẫn giữa phép tắc, nhu
cầu thường tình của tạo hoá khiến chúng không thể dứt ra được.
“Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong”.
( Thiếu nữ ngủ ngày)
Ở đây, tiếng cười của Xuân Hương không phải là tiếng cường chỉ có tiêu
huỷ. Mà ở đây bà muốn khẳng đònh một cái gì đó trong sự phủ đònh này. Điều ấy
rất giống với tiếng cười dân gian. Rõ ràng là cái nghó, cái cảm của Hồ Xuân Hương
và cái cảm, cái nghó của dân gian đã hoà cùng một nhòp.
b. Về đề tài nhà chùa :
Dân gian quan niệm khác với Nho giáo, họ không ghét đạo phật, thậm chí
còn ngưỡng mộ, nhưng dân gian lại ghét cay ghét đắng bọn buôn thân bán Phật.
Có lẽ thờ Phật mà còn đònh bán cả Phật đường, nào thanh cao, não bạt, hộ
pháp, thậm chí bán cả chùa để lấy tiền nộp chep cưới vợ. Hồ Xuân Hương khai thác
đề tài này theo cảm hướng dân gian đó. Bà thấy chùa chiền, sư sãi sao mà kỳ quặc.
“ Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
vãi nấp sau lưng sáu, bảy bà”
Quán Sứ, trung tâm tu hành lớn nhất giữa thàng Thăng Long chẳng còn tôn
nghiêm chút nào :
“ Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chầy kinh tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo
Sáng banh không kẻ khuya tang mít
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu…”
Hay “ Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vò gì một chút tẻo tèo teo”
Thế là bà buông ra một lời chửi đổng rất dân gian và cũng rất Hồ Xuân
Hương.
14

Xem chi tiết: 240904


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét