Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mục lục
I. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
1. Vật chất
2. ý thức
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây
dựng nền kinh tế ở nớc ta hiện nay.
1. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ
biện chứng giữa kinh tế và chính trị.
2. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng
nền kinh tế mới ở nớc ta hiện nay.
Kết luận
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới
hiện nay ở nớc ta.
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang
tạo ra một thế lực mới để nớc ta bớc vào một thời kì phát triển mới Nhiều tiền đề
cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã đợc tạo ra, quan hệ giữa nớc
ta và các nớc trên thế giới ngày càng đợc mở rộng. Khả năng giữ vững độc lập
trong hội nhập với cộng đồng thế giới đợc tăng thêm. Cách mạng khoa học và
công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển
dịch kinh tế và đời sống xã hội.
Các nớc đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do u thế công nghệ và thị trờng
thuộc về các nớc phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trớc một
thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao, mà điểm xuất phát của nớc ta
quá thấp, lại phải đi lên từ môi trờng cạnh tranh quyết liệt.
Trớc tình hình đó, cũng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nớc
cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc,trong đó đổi
mới kinh tế đóng vai trò then chốt, giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời đổi mới kinh tế
là một vấn đề cấp bách, bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới của đất nớc ngày càng giàu mạnh.
Với ý nghĩa đó em đã chon đề tài "mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức trong nền kinh tế nớc ta hiện nay.
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
I. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.Vật chất
a. Định nghĩa vật chất
Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về
nó. Nhng theo Lênin định nghĩa :"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan đem lại cho con ngời trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác ".
Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thờng vì
khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập
vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan đợc đem lại cho con ngời
trong cảm giác, vật chất tồn tại độc lập với cảm giác, ý thức, còn cảm giác, ý thức
phụ thuộc vào vật chất, phản ánh khách quan.
Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học, Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật
chất là khái niệm rộng nhất, muốn phân biệt t cách là phạm tù triết học, là kết quả
của sự khái quát và trừu tợng với những dạng vật chất cụ thể, với những" hạt nhân
cảm tính".Vật chất với t cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ
thể có thể cảm thụ đợc. Định nghĩa vật chất nh vậy khắc phục đợc những quan
niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện
cụ thể của nó.
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có, không thể tiêu diệt đợc, nó tồn tại bên
ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con ngời, vật chất là một thực tại
khách quan. Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ, "Thợng đế"của
tôn giáo Vật chất không phải là lực l ợng siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó,
trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật, hiện tợng cụ thể, và do
đó các các đối tợng vật chất có thật, hiện thực đó có khả năng tác động vào giác
quan để gây ra cảm giác, và nhờ đó mà ta có thể biết đợc, hiểu đợc và nắm bắt sự
vật này. Định nghĩa của Lênin đã khẳng định đợc câu trả lời về hai mặt của vấn đề
cơ bản của triết học.
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định nh vậy một mặt muốn
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định của nó với vật chất,
và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con ngời.
Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn
phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.
Nh vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,
nó giúp chúng ta xác định đợc nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, có ý nghĩa
trực tiếp định hớng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào
vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới vi mô. Nó giúp chúng ta có
thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
b. Các đặc tính của vật chất
*Vận động là phơng thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của
vật chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là sự biến đổi nói
chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian. Ăngghen cho rằng vận
động là một phơng thức tồn tại vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, gồm tất
cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ. Vận động có 5 hình
thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội. Các hình thức vận động này có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, một hình thức vận động này thực hiện là tác động
qua lại với những hình thức vận động khác, trong đó vận động cao bao gồm vận
thấp nhng không thể coi hình thc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận
động thấp.
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất
không vận động, tức vật chất tồn tại. Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự
tồn tại của mình. Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau
của vật chất, chỉ có thể nhận thức đợc thông qua vận động mới có thể thấy đợc
thuộc tính của nó. Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ
thống hành tinh khổng lồ.
Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định
gồm những bộ phận nhân tố khác nhau, cùng tồn tại ảnh hởng và tác động lẫn
nhau gây ra nhiều biến đổi. Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong,
vận động vật chất là tự thân vận động.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bên
ngoài vật chất. Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt đợc do đó nó
dợc bảo toàn cả số lợng lẫn chất lợng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một
hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình
thức vận động khác thay thế. Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau
còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng, nhng điều đó không
loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tợng đứng im tơng đối, không có nó thì không có
sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật, hiện tợng phong phú và đa dạng.
Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tợng đối của các vật thể, khả năng
cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận
động là biến đổi của các sự vật hiện tợng thì đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn
tính quy định sự vật hiện tợng. Đứng im chỉ một trạng thái vận động, vận động
trong thăng bằng, trong sự ổn định tơng đối. Trạng thái đứng im còn đợc biểu hiện
nh là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định, cha biến đổi, chỉ là tạm
thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có xu hơng
phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm
cho các sự vật luôn biến đổi, chuyển hoá nhau.
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tợng vật chất có vị trí, có hình
thức kết cấu, có độ dài ngắn cao thấp. Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt
của các sự vật với nhau, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng. Còn thời gian
phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp
nhau theo một trình tự nhất định. Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình
vật chất, tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó, trình tự xuất
hiện và mất đi của các sự vật hiện tợng.
Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận
động, Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động.
Không gian và thời gian tồn tại khách quan, nó không phải bất biến, không thể
đứng ngoài vật chất, không có không gian trống rỗng, mà nó có sự biến đổi phụ
thuộc vào vật chất vận động.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tính thống nhất vật chất của thế giới
CNDT coi ý thức,tinh thần có trớc, quyết đinh vật chất, còn duy vật thì ngợc
lại. Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới
vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật
chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau nh liên hệ về cơ cấu tổ chức, lịch sử
phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất, do
đó nó tồn tại vĩnh cửu, không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó,
không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn
nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau.
2. ý thức
a. Kết cấu của ý thức
Cũng nh vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thc theo các trờng phái khác
nhau. Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản
phẩm của vật chất, là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con ngời thông qua lao
động và ngôn ngữ. Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức là chẳng qua chỉ là cái
vật chất đợc di chuyển vào bộ óc con ngời và đợc cải biến trong đó. ý thức là một
hiện tợng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức, tình cảm, ý chí
trong đó tri thức là quan trọng nhất, là phơng thức tồn tại của ý thức,vì sự hình
thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con ngời nhận
thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng đợc tích luỹ con ngời càng đi sâu vào
bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức
nhờ đó mà tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý
nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm, niềm tin Quan điểm đó
chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng. Tuy nhiên việc nhấn
mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai
trò tình cảm ý chí.
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc
lập có sẵn trong cá nhân, biểu hiện xu hớng về bản thân mình, tự khẳng định cái
tôi riêng biệt tách rời xã hội. Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hớng về nhận
thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế
giới khách quan con ngời tự phân biệt mình, đối lập mình với thế giới đó là sự
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhận thức mình nh là một thực thể vận động, có cảm giác, t duy có các hành vi đạo
đức và vị trí xã hội. Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi
hỏi con ngời nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn
mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gơng soi giúp cho con ng-
ời tự ý thức bản thân.
Vô thức là một hiện tợng tâm lý, nhng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở
ngoài phạm vi của ý thức. Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các
hành vi cha đợc con ngời ý thức, loại thứ hai liên quan đến các hành vi trớc kia
đã đợc ý thức nhng do lặp lại nên trở thàmh thói quen, có thể diễn ra tự động
bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hởng đến nhiều phạm vi hoạt
động của con ngời. Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con ngời giảm
bớt sự căng thẳng trong hoạt động. Việc tăng cờng rèn luyện để biến thành
hành vi tích cực thành thói quen, có vai trò quan trọng trong đời sống.
b. Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên
ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi
xuất hiện con ngời và bộ óc. Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói
chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trớc khi xuất hiện con ngời, rằng
hoạt động ý thức của con ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ
não ngời. Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não,
bộ não là khí quản của ý thức. Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện
khi bộ não bị tổn thơng thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên không thể
quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản
ánh. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh, nó phát triển
cùng với sự phát triển của tự nhiên. Sự xuất hiện của xã hộ loài ngời đa lại hình
thức cao nhất của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm
cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội.
Nguồn gốc xã hội
Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con ngời d-
ới ảnh hởng của lao động và giao tiếp QHXH.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lao động của con ngời là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo
tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con ngời. Nhờ nó
mà con ngời và xã hội loài ngời mới hình thành và phát triển. Lao động là ph-
ơng thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con ngời, đồng thời ngay từ đầu đã liên
kết con ngời với nhau trong mối quan hệ khách quan, tất yếu; mối quan hệ này
đến lợt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động, nhu cầu
"cần phải nói với nhau một cái gì". Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ đ-
ợc coi là cái vỏ vật chất của t duy, với sự xuất hiện của ngôn ngữ, t tởng con
ngời có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành tín hiệu vật
chất tác động tới giác quan của con ngời và gây ra cảm giác. Nhờ có nó mà
con ngời có thể giao tiếp, trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông
qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội, và ngợc lại. Chính nhờ trừu
tợng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức, chính
nhờ nó mà con ngời có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tợng đồng thời
tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.
C. Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản
ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài, là biểu thị nội dung
đợc từ vật gây tác động và đợc truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tính của nó
quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề, bị nó
quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.
ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt động sáng tạo cải biến
và thống trị tự nhiên của con ngời và đã trở thành mặt không thể thiếu của hoạt
động đó. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ
động nguyên xi mà gắn liền với cải biến, quá trình thu nhập thông tin gắn liền với
quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián
tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động, tác động vào thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, không
có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tạo. Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin, là sự thống nhất mặt khách quan
chủ quan của ý thức.
ý thức chỉ đợc nảy sinh trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới của con
ngời.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý
thức trớc hết là thức của con ngời về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang
diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa ngời và ngời trong quan hệ
xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các
quy luật của tồn tại xã hội đó ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý
thức xã hội, Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh
trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý
thức, ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo
thế giới quan của con ngời.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt
đối trong phạm vi hạn chế:trong trờng hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận
thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trớc, cái gì là cái có sau. Ngoài
giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tơng đối.
Nh vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT, để xác định bản tính và sự
thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức
trong khi trả lời cái nào có trớc cái nào quyết định. Không nh vậy sẽ lẫn lộn 2
đờng lối cơ bản trong triết học, lẫn giữa vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa
rời quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tơng
đối nh là những nhân tố, những mặt không thể thiếu đợc trong hoạt động của
con ngời, đặc biệt là hoạt động thực tiễn con ngời, ý thức có thức có thể cải
biến đợc tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, không có khả năng tự biến thành
hiện thực, nhng thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời,ý thức có thể cải
tiến đợc, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho
hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng
tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con ngời có ý thức
mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, bắt nó phục vụ con ngời. Nh
vậy tính tơng đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lập tơng đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con ngời là sự
thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần
trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những
nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá. Khẳng định tính tơng đối của sự đối
lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai
trò nh nhau trong đời sống và hoạt động của con ngời. Trái lại, Triết học Mác-
Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con ngời những nhân tố vật chất
và ý thức có tác động qua lại, song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ
nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.
Trong hoạt động của con ngời, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động của
con ngời vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể
tham gia vào hoạt động của con ngời, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc
nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ
trơng biện pháp mà con ngời đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn
lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trơng biện pháp đó. Hoạt
động nhận thức của con ngời bao giờ cũng hớng đến mục tiêu cải biến tự
nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống. Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con ng-
ời xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và
vào những điều kiện vật chất hiện có. khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực
tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai
trò của nhân tố tinh thần, tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác
động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa, trong hoạt động của
mình, con ngời không thể tạo ra các đối tợng vật chất, cũng không thể thay đổi
đợc những quy luật vận động của nó. Do đó, trong quá trình hoạt động của
mình con ngời phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những
mục đích,chủ trơng trong phạm vi vật chất cho phép.
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền
kinh tế nớc ta hiện nay.
1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện
chứng giữa kinh tế và chính trị :
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nh chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn
nhau. Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại
nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trờng hợp ý thức có tác dụng quyết
định đến sự thành bại của con ngời.Điều này thể hiện rõ trong các đờng lối chủ tr-
ờng,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng. Vai trò tích cực của ý thức chỉ đợc trong
một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và
vận động, theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, nếu tiêu cực thì sớm muộn
cũng bị đào thải, nhng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định.
Và ta thấy nếu kinh tế của một nớc giàu, xã hội phát triển cao nhng chính trị mất
ổn định, luôn đấu tranh giai cấp thì đất n ớc đó không thể yên ấm hoà bình đợc
và cuộc sống ngời dân tuy đầy đủ, sung túc nhng sẽ luôn lo âu. Do đó nếu chính
trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển, đất nớc
giàu mạnh.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế
CXNT - CHNL - PK - TBCN - CNXH. Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất
hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội,
bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh
thần của xã hội. hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội
bao gồm quan hệ chính trị, nhà nớc pháp quyền, đạo đức, khoa học, tôn giáo đều
hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định. Trong đó theo Mác
quan hệ sản xuất giữa ngời với ngời là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác
Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia
vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con ngời, thoả mãn các
nhu cầu của con ngời và xã hội. Sản xuất vật chất môi trờng tự nhiên, điều kiện xã
hội đòi hỏi thể lực, trí tuệ và nhân cách con ng ời phải phát triển thích ứng với
nó. Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế, sản xuất cho khoa học kĩ thuật
và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện. Đó chính là cơ sở
quyết định sự hoàn thiện của con ngời, chính trị, xã hội, là nhân tố qaun trọng
hàng đầu của LLSX. Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ
của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy
sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con ngời. Nói cho cùng nhu cầu của con
ngời về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con ngời trớc hết phải ăn
mặc, ở rồi đến vui chơi giải trí. Hoạt động nhận thức của con ngời trớc hết hớng tới
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con ngời
thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.
Nền kinh tế của một nớc là nền tảng để cho nớc đó tiếp tục phát triển các chủ
trơng biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất n-
ớc. Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi
ích cao cho xã hội và cho nhân dân. Tác dụng ngợc lại thể chế chính trị, ý thức của
một nớc rất quan trọng trong việc xây dựng đất nớc. Chính trị ổn định chính là
điều kiện phát triển kinh tế, mọi doanh nghiệp cũng nh nhân dân, các công ty các
tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.
Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi
chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách quan, tránh chủ nghĩa chủ quan
duy ý chí, đồng thời phát huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ
lực chủ quan và hoạt động của con ngời.
2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền
kinh tế mới ở nớc ta hiện nay
Nh chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nớc, nền kinh
tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng. Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém, cơ cấu
kinh tế mất cân đối, năng suất lao động thấp sản xuất nông nghiệp ch a cung cấp
đủ lơng thực cho dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu, ngoài
ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ. ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền
kinh tế bị đảo lộn, nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng
Trớc tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5
năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vợt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu
dạt 21tr tấn lơng thực 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha khai hoang, 1triệu 200ha rừng
mới 10triệu tấn than sạch ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về
công nghiệp nh cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền Nam. Những chủ
trơng chính sách sai lầm đó đã gây tổn hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân
đến hết 1980, nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt đợc 50-60%, nền kinh tế tăng trởng
chậm, tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông
nghiêp giảm 0,15%.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Đại hội Đảng lần V vẫn cha tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ, đồng thời
cũng cha đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985. Chúng ta cha khắc
phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế
lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lu thông. Nhìn chung vẫn cha
đạt đợc mục tiêu đại hội V đề ra.
Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự
trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh, bối cảnh quốc tế song chúng ta vẫn mắc
sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ, phát triển LLSX.
Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất, thấy rõ tác động
qua lại giữa kinh tế và chính trị trớc khi có công cuộc đổi mới. Phép BCDV khẳng
định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải.
Trớc tình hình kinh tế đó, Đảng và nhà nớc đã đi sâu nghiên cứu, phân tích
tình hình, lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới t duy về kinh tế. Đại hội
Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có: phải luôn luôn xuất phát từ thực tế,
tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan. Đảng đã đề ra đờng lối đổi mới,
mở ra bớc ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nớc ta.
Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình, tìm ra đúng nguyên nhân
khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phơng hớng nhiệm vụ trong việc đổi
mới, nhất là về kinh tế, thực hiện chơng trình kinh tế với 3 mục tiêu : lơng thực
-thực phẩm, hàng tiêu dùng, xuất khẩu, hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần,
thừa nhận kinh tế t sản sản xuất hàng hoá và kinh tế t bản t nhân, đổi mới cơ chế
quản lý. Trong quá trình thực hiện nghị quyết của Đảng, những diễn biến quốc tế
đã ảnh hởng xấu đến nền kinh tế nớc ta nhng Đảng, nhà nớc và nhân dân đã nỗ
lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đờng lối đổi mới. Tại đại hội
VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nớc ta sau hơn nhiều năm thực
hiện đổi mới đã đạt đợc các bớc tiến quan trọng. Tình hình hình chính trị ổn định
nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bơc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nớc, LLSX huy động tốt hơn, tránh đợc
lạm phát, đời sống của ngời dân đợc cảI thiện, cuộc khủng hoảng đã giảm bớt, sinh
hoạt dân chủ ngày càng phát huy.
Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức,
giữa kinh tế và chính trị, nhờ có đờng lối đổi mới, nền kinh tế ngày càng phát
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
triển, cuộc sống của ngời dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc
phát huy dân chủ trong xã hội. Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực nh : lạm phát
vẫn còn cao, nhiều cơ sở đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng lên, và
rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở đặc biệt đại hội cũng xác định "về quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng đợc
nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm, và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng
cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi
mới trong lĩnh vực chính trị."
Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công
cuộc đổi mới đất nớc cả về kinh tế lẫn chính trị. Đại hội VIII đã chỉ ra các mục
tiêu cần đạt đợc, cụ thể là phơng châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995, trong đó
nổi cộm nhất là phơng châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị, phơng
châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bớc đi vững chắc, lấy đổi mới làm
nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.
Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét: "nét nổi bật là
trong Đảng đã có sự đổi mới t duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng
ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII, bớc đầu hình thành hệ thống các
quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nớc ta ".
Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các
vấn đề đối nội đối ngoại. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá
cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế khắc phục đ ợc nhiều
tồn tại trong 3 năm qua. Lạm phát đợc đẩy lùi. Tổng sản phẩm GDP tăng bình
quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tơng đối
toàn diện sản lợng lơng thực 26% so với 5 năm trớc đó, tạo đIều kiện thuận lợi để
cuộc sống đầy đủ, phát triển đợc nhiều ngành nghề. Vấn đề lơng thực đã đợc giải
quyết tốt. Quan hệ kinh tế đối ngoại đợc mở rộng theo hớng đa dạng hoá, thị trờng
xuất nhập khẩu đợc mở rộng, nguồn vốn đầu t nớc ngoài tăng mạnh, tăng kim
ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-15 tỉ USD. Khoa học
công nghệ có bớc phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đờng lối chính sách
của Đảng, lĩnh vực văn hoá tinh thần đợc nâng cao, đời sống nhân dân đợc cải
thiện, quốc phòng an ninh đợc giữ vững.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét