Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành
một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị
trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh
số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh
đua.
Từ những định nghĩa và các cách tiếp cận không giống nhau trên có thể
rút ra các điểm chung sau đây:
Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong
môi trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:
- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể
có cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một
đối tượng mà chủ thể cùng hớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể
canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích phục vụ
một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể
làm ra và được người mua chấp nhận. Còn với các chủ thể cạnh tranh bên muc
là giành giật muc được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình.
- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ
thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ.
Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các
đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp
và thông kệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người muc,
hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có
lợi hơn cả đối với người mua.
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc
ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi
chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời
gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc
rộng (một nước, giữa các nước.
Như vậy có thể nhận thấy cạnh tranh không tồn tại trong nền kinh tế kế
hoạch hoá, mà chỉ có trong nền kinh tế thị trường.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh:
Cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trường, nó có tác động tới tất cả mọi
chủ thể, mọi khía cạnh trong nền kinh tế. Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều thừa nhận cạnh tranh và các quy luật của nó. Đặc biệt với nước ta, vai
trò của canh tranh có thể nhận thấy rõ trong thời kỳ nền kinh tế nước ta chuyển
đổi sang kinh tế thị trường.Chúng ta xem xét vai trò của cạnh tranh qua những
tác động tích cực và tiêu cực của nó tới kinh tế- xã hội nói chung, doanh nghiệp
và người tiêu dùng nói riêng.
Đối với kinh tế xã hội:
-Tích cực:
Để sản xuất ra của cải vật chất cũng như cung ứng dịch vụ cho người tiêu
dùng, các doanh nghiệp cần phải sử dụng tốt các nguồn lực xã hội. Các nguồn
lực đó có thể là nguồn khoáng sản, đất đai, nguồn nước, sinh vật, cũng có thể là
nguồn lực tài chính hoặc nguồn nhân lực, Các nguồn lực này đối với một quốc
gia là có hạn, khó hoặc không thể tái tạo được. Cạnh tranh khiến các quốc gia
cũng như doanh nghiệp tìm cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực đó, tạo ra nhiều
giá trị hơn cho xã hội.
Cạnh tranh biến nguồn lực đất nước thành các sản phẩm có giá trị. Chính
vì thế cạnh tranh góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá.
- Tiêu cực:
Nhằm vào lợi nhuận trước mắt nhiều chính phủ cũng như doanh nghiệp đã
dung túng, thực hiện các thủ đoạn cạnh tranh xấu như độc quyền, hối lộ, tung tin
đồn làm giảm uy tín đối thủ, làm hàng giả, hàng nhái, Các hành vi này gây tác
động xấu đến xã hội là nguyên nhân của thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, Bên
cạnh đó, cạnh tranh mà thiếu sự quản lý của chính phủ hoặc thiếu đạo đức kinh
doanh sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên.
Đối với doanh nghiệp:
- Tích cực:
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cạnh tranh làm cho các doanh nghiệp có động lực để luôn tự hoàn thiện,
nâng cao năng lực, đổi mới công nghệ, giúp cho doanh nghiệp thoát khỏi sức ỳ,
“ngủ trên chiến thắng”. Một doanh nghiệp cho dù thành công đến mấy trong thời
điểm hiện tại mà không chịu cập nhật, đổi mới thì cũng chưa chắc đã thành công
trong tương lai. Hơn nữa, cạnh tranh là tạo ra sự nổi trội, khác biệt của mình so
với đối thủ cạnh tranh, chính vì thế sự sáng tạo là hết sức quan trọng.Cạnh tranh
phát huy tinh thần năng động, ham học hỏi, tiết kiệm của doanh nghiệp.
- Tiêu cực:
Nếu doanh nghiệp cạnh tranh trong một môi trường không lành mạnh, môi
trường này có thể tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp. Nếu như doanh
nghiệp không bị cuốn vào môi trường đó thì cũng chịu những thiệt thòi, tổn thất
không công bằng. Trong một môi trường cạnh tranh không lành mạnh như độc
quyền, sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển.
1.1.3. Phân loại cạnh tranh:
Dựa vào những căn cứ khác nhau ta có các cách phân loại cạnh tranh khác
nhau. Dưới đây là một số cách phân loại cạnh tranh phổ biến:
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
Xét theo phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được chia làm hai loại sau:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản
xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ.
- Cạnh tranh giữa các ngành:
Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các nghành kinh tế với
nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phận bổ vốn
đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân.
Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh:
Theo thủ đoạn mà các doanh nghiệp sử dụng thì cạnh tranh bao gồm cạnh
tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Cạnh tranh lành mạnh. Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn
mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng
và công khai.
- Cạnh tranh không lành mạnh. Là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật pháp,
trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án ( như trốn thuế buôn lậu, móc
ngoặc, khủng bố )
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
Căn cứ vào các chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh có ba loại sau:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với
gái cao nhát, còn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được
hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.
- Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh
tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải
chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho
người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không
chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho
các đối thủ mạnh hơn.
Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Căn cứ vào tính chất, cạnh tranh bao gồm:
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên
thị trờng trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị
trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là
không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc
cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc
làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người
bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩn đều mang hình
ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người
bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp
dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện
nay.
- Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có nột hoặc một số ít người
bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó
trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.
1.1.4. Các công cụ sử dụng để cạnh tranh
Trên thương trường, cạnh tranh là điều tất yếu. Cách thức cạnh tranh cũng
muôn hình vạn trạng tuỳ thuộc vào năng lực, sức sáng tạo của từng doanh
nghiệp. Để tồn tại và cạnh tranh được các doanh nghiệp phải tạo nên ưu thế, sự
nổi trội của mình so với các đối thủ khác. Vậy những công cụ nào đã được các
doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo nên ưu thế đó? Sau đây là các công cụ được sử
dụng trong cạnh tranh. Tuy nhiên các công cụ này được xem xét trong môi
trường cạnh tranh lành mạnh, không xét đến các yếu tố bất hợp pháp.
1.4.1.1. Cạnh tranh bằng giá
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán
hay doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc
trao đổi hàng hoá đó trên thị trường.
Đây là công cụ cạnh tranh truyền thống và phổ biến, quyết định đến hành
vi mua. Xu hướng thích mua rẻ là xu hướng có tính quy luật trong ứng xử về giá
cả của người mua.Khi mọi điều kiện khác như nhau (chất lượng, thương hiệu,
dịch vụ, ) người mua luôn tìm đến những sản phẩm có giá bán thấp nhất. Đối
với doanh nghiệp, giá cả có một vai trò rất quan trọng, nó là khâu cuối cùng của
quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá, là yếu tố mang lại thu nhập cho doanh
nghiệp. Qua giá cả sản phẩm của mình và các đối thủ cạnh tranh , doanh nghiệp
có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách
định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường, một doanh nghiệp có
thể có các chính sách định giá sau: Chính sách định giá thấp, chính sách định giá
cao chính sách ổn định giá bán, chính sách định giá theo giá thị trường, chính
sách giá phân biệt và chính sách bán phá giá.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống của
người dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan
trọng nhất của doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá với
các công cụ khác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn.
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng chất lượng hàng hoá
Doanh nghiệp có thể lựa chọn cạnh tranh sản phẩm thông qua 3 con
đường: cạnh tranh bằng chất lượng, cạnh tranh qua mẫu mã, cạnh tranh cả bằng
chất lượng và mẫu mã.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều
kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện
ở nhiều mặt khác nhau tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng
mầu sắc hấp dẫn. Với mỗi loại sản phẩm khác nhau, tuy nhiên vấn đề đặt ra là
doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vũng và không ngừng năng cao chất lượng sản
phẩm. Đó là điều kiện không thể thiết nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng
lợi trong cạnh tranh, nói một cách khác chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn
đối với doanh nghiệp. Khi chất lượng không còn được đảm bảo, không thoả mãn
nhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp.
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quan
trọng của các doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản phẩm càng cao tức là
mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng
khả năng trong thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện
hiện nay, mức sống của người dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có
khả năng thanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả
đã và sẽ có xu hướng nhường vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh chất lượng, mẫu mã cũng có ảnh hưởng ngày càng lớn đến tính
cạnh tranh của sản phẩm. Với hai sản phẩm tương đương về chất lượng và giả
cả, người tiêu dùng đa số có xu hướng lựa chọn sản phẩm có mẫu mã đẹp
hơn.Như vậy, xét về khía cạnh nào đó mẫu mã sản phẩm tạo ra sự nổi trội, khác
biệt với các sản phẩm tương tự.
1.1.4.3. Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm
Một sản phẩm với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phải chăng nhưng
khó khăn cho người mua trong việc tiêp cận thì sức cạnh tranh của sản phẩm đó
chưa phải là cao. Thậm trí những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc hạ giá
thành, cải tiến sản phẩm trở nên vô nghĩa khi sản phẩm không được người tiêu
dùng biết đến hoặc không đến được tay người tiêu dùng.
Do vậy để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, doanh
nghiệp cần cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm. Nghệ thuật tiêu thụ
sản phẩm không chỉ đơn thuần là xây dựng mạng lưới bán hàng mà còn bao gồm
các hoạt động hỗ trợ như: tiếp thị, quảng cáo, tổ chức các hội nghị khách hàng,
tham gia các tổ chức liên kết kinh tế
Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng thậm chí
quyết định đến sự tồn tại sản phẩm trên thị trường.Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm
tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên các khía cạnh sau:
- Tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự quan tâm của
khách hàng đến sản phẩm.
- Cải thiện vị trí hình ảnh của thương hiệu, sản phẩm trên thị trường.
- Đồng thời giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ với các đối tác, phối hợp
với các chủ thể trong việc chống hàng giả, hàng nhái.
1.1.4.4. Các công cụ cạnh tranh khác
Khoa học kỹ thuật phát triển, những đòi hỏi của khách hàng với sản phẩm
ngày càng khắt khe hơn. Điều này khiến các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở
ba công cụ trên mà đa dạng hoá cho phù hợp với sản phẩm, thị trường, cũng như
tiềm năng của doanh nghiệp. Tiêu biểu trong số đó là cạnh tranh bằng dịch vụ và
phương thức thanh toán.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Dịch vụ bao gồm cả dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng. Người tiêu
dùng hiện nay có xu hướng sẵn sàng bỏ thêm tiền để có được sự yên tâm, thuận
tiện, dễ chịu. Các thương hiệu nổi tiếng thế giới bao giờ cũng đi kèm với chất
lượng dịch vụ cao, chăm sóc khách hàng chu đáo. Việc bán hàng không chỉ kết
thúc khi sản phẩm được đưa tới người tiêu dùng, được thanh toán mà còn cung
cấp dịch vụ sau bán hàng: bảo hành, khuyến mại, hướng dẫn sử dụng, giải quyết
kiến nghị,
Hiện nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của
các hình thức bán hàng mới:"thương mại điện tử". Với hình thức này người bán,
người mua có thể ở hai khu vực địa lý rất xa nhau hoặc không gặp mặt nhau. Do
vậy, họ cũng không thể thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Điều này lại khó
khăn hơn khi thanh toán một khối lượng tiền lớn. Chính vì vậy, phương thức
thanh toán gọn nhẹ, dễ dàng, nhanh chóng và an toàn tất yếu sẽ thu hút được
khách hàng, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá.
1.2. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH:
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Cũng như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh có nhiều khái niệm phụ thuộc
vào hoàn cảnh áp dụng. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) năng
lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các quốc gia hoặc khu
vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững.
Còn theo từ điển thuật ngữ kinh tế học năng lực cạnh tranh là khả năng
giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả
năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần doanh nghiệp.
1.2.2. Các loại năng lực cạnh tranh
Theo đề án quốc gia về "Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và
dịch vụ Việt Nam" (do Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt
Nam thực hiện) thì năng lực cạnh tranh được xem xét ở ba cấp độ: Năng lực
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh nghiệp và năng lực
cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là năng lực của một nền kinh tế có
thể đạt được sự tăng trưởng bền vững, đảm bảo ổn định kinh tế và nâng cao đời
sống của dân cư.
Năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh nghiệp là năng lực bù đắp chi phí
duy trì lợi nhuận và được thể hiện qua thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị
trường. Năng lực cạnh tranh cuả hàng hoá là khả năng duy trì và cải thiện vị trí
của một hàng hoá của một doanh nghiệp này so với hàng hoá khác cùng loại của
một doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài nhằm tạo ra sự hấp dẫn
và thu hút khách hàng.
Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có quan hệ mật thiết với nhau.Năng lực
cạnh tranh cấp quốc gia là tổng hợp năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh
nghiệp trong khi năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp lại được phản ánh
qua năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, có thể rút ra: nâng
cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá là cơ sở và điều kiện để nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp và quốc gia.
1.2.3. Lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh
Cho đến nay có nhiều phương pháp để đo lường, phân tích năng lực cạnh
tranh. Dưới đây là một số phương pháp thường được sử dụng.
Phương pháp 1: Phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh
về chi phí hay khả năng sinh lời trên một đơn vụ sản phẩm
Đây là phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh trong trạng thái động
dựa trên hệ thống các chỉ số. Các chỉ số này cho phép xác định mức độ đóng góp
của sản phẩm vào nền kinh tế. Khi phân tích năng lực cạnh tranh theo phương
pháp này cần tính đến một số dự báo như: biến động chu kỳ sản phẩm, mức độ
phổ biến công nghệ và tích luỹ kinh nghiệm, chi phí đầu vào, những thay đổi
trong chính sách của chính phủ và khuynh hướng nhu cầu,
Về mặt thực tế, phương pháp này khá phức tạp và khó thực hiện do phải
lượng hoá, dự báo nhiều yếu tố.
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phương pháp 2: Phân tích theo quan điểm tổng hợp
Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh theo phương pháp này cần giải đáp 3
vấn đề cơ bản, đó là:
- So sánh năng lực cạnh tranh hiện tại của sản phẩm.
- Những nhân tố thúc đẩy và những nhân tố hạn chế đến việc nâng cao
năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
- Những tiêu chí đặt ra cho chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của
sản phẩm.
Phương pháp này có ưu điểm là vừa chỉ ra được những nhân tố thúc đẩy
hay kìm hãm tính cạnh tranh.
Phương pháp 3: Phân tích theo "Quan điểm quản trị chiến lược" của Michael
Porter-Mô hình 5 lực lượng
Theo phương pháp này, đối với mỗi ngành, doanh nghiệp, năng lực cạnh
tranh đựoc xem xét theo 5 nhân tố:
- Đe doạ từ sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
- Đe doạ của hàng thay thế.
- Sức ép từ nhà cung ứng.
- Sức ép từ phía khách hàng.
- Cạnh tranh giữa các hàng trong ngành.
Đây là phương pháp nổi tiếng thế giới, được sử dụng nhiều trong phân tích
ngành và doanh nghiệp. Phương pháp này phân tích sâu những nhân tố tác động
chính đến năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp. (hình 1.1)
Phương pháp 4: Phân tích theo mô hình SWOT
Mô hình SWOT được hoàn thiện vào năm 1973 là kết quả nghiên cứu của
nhiều nhà kinh tế học người Mỹ và châu Âu. Khung phân tích của mô hinh này
bao gồm 4 phần chính thể hiện 4 nội dung chính của SWOT: Điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội, nguy cơ. SWOT giúp đánh giá chủ quan các dữ liệu được tổ chức
theo một trình tự lô-gíc nhằm giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, từ đó có thể thảo
luận và ra quyết định hợp lý và chính xác nhất. Đối tượng được đánh giá qua
Vũ Hương Liên Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế 46A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét