Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần

A. Lời Mở Đầu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu để thành
lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn còn phản
ánh nguồn lực tài chính của doanh nghiệp để đầu tư vào một loại hình sản xuất,
kinh doanh. Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu vốn để vận hành và phát triển.
Tuy nhiên, nguồn vốn tự có không đủ để đảm bảo nhu cầu phát triển sản xuất
kinh doanh. Doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn cung ứng vốn để đảm bảo vốn
ổn định và đủ mạnh. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải huy động và sử
dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lý
tài chính và chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Có thể nói rằng vốn là yếu tố quan trọng và quyết định tới sự tồn tại của doanh
nghiệp. Nhưng điều mà các nhà quản lý và thực sự quan tâm đó là làm sao có đủ
vốn để sản xuất kinh doanh.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn nên các quy định về
vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Do đó, tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của
công ty cổ phần là cần thiết và có ý nghĩa trong việc góp phần thúc đẩy sự phát
triển của loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
B. Nội Dung
I. Khái quát một số vấn đề về huy động vốn trong công ty cổ phần
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một
lượng vốn nhất định tuỳ thuộc vào quy mô, lĩnh vực mà doanh nghiệp đó hoạt
động. Lượng vốn này bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các nguồn vốn
chuyên dụng khác.
Đối với một doanh nghiệp cổ phần thì nguồn vốn do các cổ đông thành viên
đóng góp là điều kiện tiên quyết để thành lập công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở
hữu công ty theo tỷ lệ vốn góp và chịu trách nhiệm hữu hạn bằng gía trị cổ phần
mà họ nắm giữ. Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn của công
ty cổ phần là vấn đề hết sức phức tạp. Vốn của công ty cổ phần có thể được tiếp
cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc
hình thành vốn, vốn của công ty cổ phần được chia thành: vốn chủ sở hữu (vốn
tự có) và vốn tín dụng (vốn vay).
Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ
nguồn đóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận
của công ty.
1
Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác
nhau: vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát
hành trái phiếu.
Điều quan trọng là công ty cổ phần phải có một tỉ lệ vốn vay trên vốn cổ phần
hợp lí để phản ánh thế mạnh tài chính của công ty, vừa tạo niềm tin cho các đối
tác của mình.
II. Các hình thức huy động vốn trong công ty cổ phần
Khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005: "Công ty cổ phần có quyền phát hành
chứng khoán các loại để huy động vốn". Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu
là công cụ riêng của công ty cổ phần, nó đem đến ưu thế rất lớn cho công ty cổ
phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thể huy động được một nguồn vốn
lớn do mở rộng đối tượng huy động; có thể giảm chi phí huy động vốn do tiếp
cận trực tiếp với người đầu tư;
1. Phát hành cổ phiếu
a) Khái quát về hình thức phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu của một hoặc một số cổ phần của công ty đó, hay đó chính là
một loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành chứng nhận việc góp vốn
vào công ty của các cổ đông. Cổ phiếu là bằng chứng chứng minh quyền sở hữu
cổ phần của cổ đông công ty. Luật doanh nghiệp 2005 đã có những quy định cụ
thể về cổ phiếu tại khoản 1, Điều 85
(1)
.
Ngoài số vốn ban đầu đã bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp, trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, mở rộng quy mô, doanh nghiệp có
thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu bổ sung, đây là một
nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng cho doanh nghiệp trong việc huy động
vốn.
- Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần cho người
đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty. Kết quả của việc chào bán cổ
phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ
làm tăng vốn điều lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động.
2
Việc phát hành cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có
trong công ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông. Do vậy, việc
quyết định loại cổ phần, tổng số cổ phần của từng loại được chào bán sẽ do Đại
hội đồng cổ đông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm,
phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán.
- Về giá chào bán cổ phần, Luật doanh nghiệp 2005 quy định rất chặt chẽ, đảm
bảo quyền lợi cho đa số cổ đông. Ngoài quy định về "giá không được thấp hơn
giá thị trường tại thời điểm chào bán" như tại Luật doanh nghiệp 1999, Luật
doanh nghiệp 2005 còn bổ sung "hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần
tại thời điểm gần nhất" và ngoại trừ các trường hợp sau: Cổ phần chào bán lần
đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập; Cổ phần chào bán cho
tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty; Cổ phần chào bán
cho người môi giới hoặc người bảo lãnh (trong trường hợp này, số chiết khấu
hoặc tỉ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của số cổ đông đại diện cho
ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Điều lệ công ty có thể quy
định thêm các trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó).
Giá thị trường của cổ phần là giá giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc giá
do một tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định. Trên thực tế ở nước ta hiện
nay, đa số công chúng đều chưa hiểu hết về việc bán đấu giá qua thị trường
chứng khoán. Do đó, để thu hút đầu tư, các công ty cổ phần đã kinh doanh hiệu
quả và ổn định nên áp dụng phương pháp bán theo giá cố định. Giá cố định là giá
bình quân gia quyền được xác định từ kết quả bán đấu giá. Bán theo giá này vẫn
đảm bảo được nguyên tắc bán cổ phần theo giá thị trường và không hề có ưu đãi
cho các nhà đầu tư.
- Người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm cổ phần
được thanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào
sổ đăng kí cổ đông. Sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ
phiếu cho người mua. Pháp luật ràng buộc trách nhiệm của những người quản lí
công ty khi có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu nhằm bảo vệ tối đa
lợi ích của người sở hữu cổ phiếu đó: "Trường hợp có sai sót trong nội dung và
hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó
không bị ảnh hưởng. Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra
3
đối với công ty" (Khoản 2 Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005). Công ty có thể bán
cổ phần mà không trao cổ phiếu. Trường hợp này, các thông tin về cổ đông được
ghi vào sổ đăng kí cổ đông là đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ
đông.
"Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt Nam,
ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu
trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty
và phải được thanh toán đủ một lần" (Theo Điều 89 Luật doanh nghiệp 2005).
b)Những quy định của pháp luật về phát hành cổ phiếu:
Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần. Có thể chia thành các trường hợp:
phát hành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát hành cổ
phiếu trong quá trình hoạt động của công ty.
- Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên khi thành lập công ty:
Khi thành lập, công ty cổ phần phải huy động vốn góp của các cổ đông. Pháp
luật quy định các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng
số cổ phần phổ thông được quyền chào bán. Trong trường hợp các cổ đông sáng
lập không đăng kí mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn
lại phải được chào và bán hết trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp
Giấy chứng nhận kinh doanh. Vì vậy, tối thiểu các cổ đông sáng lập phải cùng
nhau nắm giữ 20% số cổ phiếu dự tính phát hành, số cổ phiếu còn lại sẽ được
phát hành để huy động đủ số vốn điều lệ. Các cổ đông sáng lập phải thực hiện
nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ phần, loại cổ phần dự kiến chào bán.
Luật doanh nghiệp 2005 quy định rõ trách nhiệm của các cổ đông sáng lập về
tính chính xác, trung thực đối với giá trị tài sản góp vốn được giới hạn trong
phạm vi các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch
giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn kết thúc định giá.
Những người cam kết mua cổ phần còn phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở
hữu tài sản góp vốn vào công ty theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật
doanh nghiệp 2005.
(2)
- Phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty:
4
Trong quá trình hoạt động, cổ phiếu cũng trở thành một trong những phương tiện
để huy động vốn rất hiệu quả. Việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng độ tín
nhiệm cho công ty. Cổ phần là lớp nệm bảo vệ cho các chủ nợ, nhờ vậy khả năng
vay nợ được mở rộng. Hơn nữa, vốn chủ sở hữu tăng tạo ra một lá chắn chống
lại sự phá sản của công ty. Thực chất việc phát hành cổ phiếu trong trường hợp
này là việc công ty chào bán cổ phần để huy động vốn.
Theo pháp luật Việt Nam, phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phương
thức:
Thứ nhất: Phát hành riêng lẻ : là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể
được bán cho phạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông
thường bán cho những người trong công ty.
Luật doanh nghiệp 2005 lần đầu tiên đưa ra quy định về việc công ty phát hành
thêm cổ phần phổ thông và chào bán cổ phần đó cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ
cổ phần hiện có tại công ty tại khoản 2, Điều 87, Luật Doanh nghiệp.
(3)
Quy định này thực sự có một bước phát triển hơn so với Luật doanh nghiệp
trước đó. Tuy nhiên trình tự thủ tục, điều kiện, chào bán cổ phiếu riêng lẻ Luật
doanh nghiệp 2005 không trực tiếp quy định mà do Chính phủ sẽ có hướng dẫn
cụ thể.
Thứ hai: Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là phương thức phát hành trong
đó cổ phiếu được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư
với khối lượng cổ phiếu phát hành đạt được một tỉ lệ quy định nhất định và phải
dành một tỉ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ.
Theo Khoản 6 Điều 87 Luật doanh nghiệp: “điều kiện, phương thức và thủ tục
chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của Luật chứng
khoán…” Ngoài ra, công ty còn phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin
và chịu sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Điều đó xuất phát từ lí
do để cổ phiếu hay trái phiếu của công ty phát hành ra không phải là sản phẩm
của trò lừa đảo hoặc của chủ thể có dự án đầu tư kém hiệu quả, gây lãng phí cho
nền kinh tế, đồng thời để bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.
5
- Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc tạo hàng hóa để giao dịch trên
sở giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung). Phát hành cổ phiếu ra công
chúng được chia làm 2 trường hợp: Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng là
việc phát hành trong đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán cho công
chúng đầu tư. Phát hành thêm cổ phiếu là việc phát hành cổ phiếu bổ sung cho
công chúng đầu tư.
Công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải đáp ứng các yêu
cầu về vốn, thời gian hoạt động, đội ngũ quản lí, hiệu quả sản xuất kinh doanh và
tính khả thi của dự án sản xuất trong tương lai được quy định rõ trong Khoản 1
Điều 12 Luật chứng khoán 2006:
"Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi,
đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán
được Đại hội đồng cổ đông thông qua"
Việc quy định như trên nhằm đảm bảo chất lượng và số lượng cổ phiếu phát
hành của công ty cổ phần để có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nếu
công ty cổ phần có số vốn điều lệ quá nhỏ, làm ăn không có lãi thì không tạo
niềm tin cho người đầu tư và cổ phiếu của công ty niêm yết trên trung tâm giao
dịch chứng khoán sẽ không có tính thanh khoản cao.
- Sau khi công ty cổ phần đã hội đủ các điều kiện trên thì công ty lập hồ sơ gửi
Ủy ban chứng khoán Nhà nước để xin được cấp giấy phép phát hành. Hồ sơ
đăng ký được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 13 Luật chứng khoán 2006.
(4)
Trong thời gian Ủy ban chứng khoán Nhà nước xem xét cấp giấy phép phát
hành, công ty cổ phần và các đối tượng liên quan chỉ được sử dụng trung thực và
chính xác các thông tin trong bản cáo bạch đã gủi Ủy ban chứng khoán Nhà
nước để thăm dò thị trường. Tổ chức phát hành không được trực tiếp hoặc gián
tiếp thực hiện các hoạt động mang tính quảng cáo, chào mời công chúng đầu tư
mua cổ phiếu và phân phối cổ phiếu ra công chúng dưới bất cứ hình thức nào.
6
- Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 30 ngày, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước xem xét và cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công
chúng. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn
bản và nêu rõ lý do (Khoản 1 Điều 20 Luật chứng khoán 2006)
(5)
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra
công chúng có hiệu lực, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát
hành trên một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp (Khoản 3 Điều
20 Luật chứng khoán 2006).
Sau khi nhận được giấy phép phát hành cổ phiếu và công bố, công ty cổ phần
tiến hành phân phối cổ phiếu, được quy định trong Điều 21 Luật chứng khoán
2006
(6)
. Trước khi hoàn thành việc phân phối cổ phiếu ra công chúng, trong
những trường hợp cụ thể, công ty phát hành có thể bị đình chỉ đợt phát hành
(Điều 22 Luật chứng khoán)
(7)
. Trong trường hợp đó, người đầu tư có quyền hủy
bỏ việc mua cổ phiếu hoặc trả lại cổ phiếu đã mua và công ty phát hành và các tổ
chức liên quan phải hoàn trả tiền cho các nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu.
2. Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng.
2.1 Phát hành trái phiếu
a) Khái quát về hình thức phát hành trái phiếu
Phát hành trái phiếu là cách thức vay vốn, theo đó người vay phát hành một
chứng chỉ thường là với một mức lãi suất xác định, đảm bảo thanh toán vào một
thời hạn xác định trong tương lai. Người mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của
công ty, nhận được một mức lãi suất cố định và thanh toán khoản vay khi đáo
hạn. Phát hành trái phiếu là một trong những cách thức vay vốn quan trọng của
công ty cổ phần. Kết quả của việc phát hành trái phiếu sẽ làm tăng vốn vay của
công ty.
- Phương thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu là phương thức ưu
việt dành cho những công ty cổ phần có dự án kinh doanh dài hạn với một mức
lãi suất thích hợp nhỏ hơn lãi suất công ty phải đi vay ngân hàng nhưng lại cao
7
hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm để thu hút các nhà đầu tư. Điều này vừa có lợi cho
công ty phát hành cũng như các nhà đầu tư do bỏ qua chi phí trung gian.
Theo Khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần có quyền phát
hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Cùng với số cổ phiếu là công cụ
huy động vốn chủ sở hữu, công ty cổ phần có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn
trung hạn và dài hạn, đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài
khả năng tài chính của các cổ đông.
Theo Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006: "Trái phiếu là loại chứng khoán
xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ
của tổ chức phát hành".
Như vậy, khác với cổ phiếu (là chứng từ xác nhận cổ phần trong công ty), trái
phiếu chỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất
ấn định trong trái phiếu. Quan hệ giữa người sở hữu trái phiếu với công ty là
quan hệ giữa chủ nợ với con nợ. Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi
ích tài sản, trái phiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan
đến việc hình thành thị trường chứng khoán.
- Theo quy định của pháp luật "Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu,
trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và
Điều lệ công ty" (Khoản 1 Điều 88 Luật doanh nghiệp 2005).
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ
thông của cùng một công ty phát hành theo các điều kiện dã quy định trước. Ưu
điểm của loại trái phiếu này là người mua được hưởng sự an toàn đầu tư và sau
một thời gian nhất định tăng cơ hội kiếm lời nếu giá cổ phiếu tăng trên thị
trường. Việc phát hành cổ phiếu chuyển đổi là một cách thức để huy động vốn
khi công ty chưa thể phát hành cổ phiếu ngay do bản thân dự án đầu tư mới
không thể sinh lãi ngay lập tức để có mức cổ tức cổ phiếu như hiện tại. Ngoài ra
còn một số loại trái phiếu khác theo điều lệ của công ty có thể là trái phiếu dự
phần, trái phiếu thu hồi…
b) Những quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu
8
Công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu theo hai phương thức là phát hành
riêng lẻ và phát hành rộng rãi.
Điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng đối với công ty cổ phần được quy
định cụ thể trong Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán 2006.
(8)
Trường hợp công ty cổ phần phát hành trái phiếu có đảm bảo thì phải nêu rõ tỉ lệ
đảm bảo và liệt kê chi tiết tài sản đảm bảo trong hồ sơ xin phép phát hành và có
tài liệu hợp lệ chứng minh những tài sản bảo đảm này thuộc quyền sở hữu của
mình hoặc của người thứ ba (trong trường hợp bảo lãnh) và có đủ giá trị thanh
toán trái phiếu. Tài sản đảm bảo phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Nếu tài sản đảm bảo là các loại trái phiếu chính phủ, các loại trái phiếu khác
được các tổ chức bảo lãnh thanh toán cả tiền gốc và lãi vô điều kiện thì giá trị tài
sản đảm bảo tối thiểu phải bằng tổng giá trị trái phiếu và giá trị đó được tính theo
giá thấp nhất của một trong các giá: giá thị trường, mệnh giá, giá mua tài sản
đảm bảo đó bao gồm cả lãi hoặc phần chiết khấu được nhận cho đến ngày xin
phép phát hành.
- Nếu tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền
với đất, các cơ sở sản xuất kinh doanh như nhà máy, khách sạn, cửa hàng, nhà
kho, các công cụ, máy móc thiết bị gắn liền với nhà máy, tàu biển, máy bay thì
giá trị các tài sản đảm bảo trên tối thiểu phải bằng 1,5 lần tổng số giá trị trái
phiếu. Việc định giá phải do cơ quan định giá tài sản có thẩm quyền tiến hành.
Việc định giá này có giá trị không quá 12 tháng kể từ ngày định giá. Trong số
các tài sản trên trừ quyền sử dụng đất thì số còn lại phải có hợp đồng bảo hiểm
tài sản.
** Trường hợp phát hành trái phiếu chuyển đổi, công ty phải nêu rõ điều khoản
mua hoặc chuyển đổi trong hồ sơ xin phép phát hành, bao gồm: Điều kiện, thời
hạn tiến hành mua hoặc chuyển đổi; Tỷ lệ chuyển đổi và phương pháp tính giá
mua hoặc chuyển đổi; Phương pháp tính và đền bù thiệt hại trong trường hợp
công ty phát hành trái phiếu không phát hành được cổ phiếu để đáp ứng được
quyền mua hoặc chuyển đổi. Các điều kiện khác (nếu có).
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban chứng khoán phải cấp
giấy phép phát hành cho công ty, trường hợp không cấp phải giải thích lí do
9
bằng văn bản. Việc phân phối, tiêu thụ cũng như đình chỉ phát hành trái phiếu
được quy định như đối với cổ phiếu.
*** Thực tiễn nước ta hiện nay cho thấy, các loại trái phiếu có lẽ vẫn chưa thực
sự thu hút các nhà đầu tư. Do đó, để tạo thêm hàng cho thị trường trái phiếu- một
thị trường mà các doanh nghiệp Việt Nam còn bỏ ngỏ, pháp luật nên có những
quy định về quyền phát hành "các loại trái phiếu khác" giải thích rõ hơn Khoản 1
Điều 88 Luật doanh nghiệp 2005. Có thể đưa ra một số loại trái phiếu khác như:
trái phiếu không trả lãi, trái phiếu trả lãi theo thu nhập, trái phiếu lãi suất thả nổi,
trái phiếu có quyền bán trước khi đáo hạn
Trong quy định về phát hành trái phiếu của Luật doanh nghiệp 2005 tại Điểm b
Khoản 2 Điều 88 "…Việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài
chính được lựa chọn không bị hạn chế bởi các quy định tại Điểm a và Điểm b
khoản này" nhưng hiện nay chưa có khái niệm chính thức về tổ chức tài chính.
Văn bản hướng dẫn cần có những giải thích và quy định rõ hơn.
2.2 Tín dụng ngân hàng
Huy động vốn thông qua hình tức tín dụng ngân hàng là một hình thức huy động
vốn phổ biến được các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng áp
dụng trên thực tế. Thông qua hình thức này, công ty cổ phần có thể có được các
khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu cầu của hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Việc huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng có nhiều thuận lợi
hơn đối với các công ty có uy tín, có quan hệ lâu dài với ngân hàng. Bên cạnh đó
cơ chế cho vay hiện nay đang tạo cho việc huy động vốn qua ngân hàng có ưu
điểm, ưu việt hơn mà huy động vốn bằng trái phiếu không có như khi vay ngân
hàng nếu đến hạn trả công ty chưa có khả năng trả nợ thì có thể xin gia hạn nợ;
trong khi nếu công ty phát hành trái phiếu thì phải có nghĩa vụ hoàn trả các
khoản lãi và gốc khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
** Có hai hình thức cho vay vốn là vay có bảo đảm và vay không có bảo đảm.
10
Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa
vụ trả nợ của công ty cổ phần được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm
cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của công ty hoặc bảo lãnh bằng tài
sản của bên thứ ba. Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của công ty, tài sản hình
thành từ vốn vay và tài sản của bên bảo lãnh dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng.
Việc đề ra những biện pháp bảo đảm bằng tài sản là biện pháp hữu hiệu để ngân
hàng dễ dàng thu hồi vốn cho vay đồng thời khuyến khích công ty cổ phần hoạt
động có hiều quả. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 178/1999/NĐ-CP thì:
"1. Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản:
a) Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay;
b) Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba;
c) Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay".
- Thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng là việc công ty cổ phần (bên vay vốn) dùng
tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ trả nợ đối với ngân hàng. Bất động sản ở đây có thể là nhà ở, công trình xây
dựng gắn liền với đất, các cơ sở sản xuất kinh doanh, khách sạn, cửa hàng Tài
sản dùng để thế chấp là những tài sản có giá trị lớn và khó chuyển dịch được.
Chính vì đặc điểm này mà ngân hàng thường quản lí tài sản thế chấp thông qua
giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là việc công ty cổ phần có nghĩa vụ giao tài
sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho ngân hàng để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Tài sản cầm cố ở đây là động sản như phương tiện vận tải, máy
móc thiết bị dùng cho sản xuất kinh doanh, vật tư hàng hóa, Khi cầm cố tài
sản, công ty có nghĩa vụ giao tài sản cho ngân hàng, nếu tài sản có đăng kí quyền
sở hữu thì giữa ngân hàng và công ty có thể thỏa thuận tài sản do công ty giữ
hoặc giao cho bên thứ ba giữ, ngân hàng sẽ quản lí gián tiếp tài sản đó thông qua
bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
- Bảo lãnh vay vốn ngân hàng là việc bên thứ ba (pháp nhân hoặc cá nhân) sẽ
thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho công ty cổ phần (bên vay vốn) nếu khi đến
11
hạn trả nợ mà công ty không trả được toàn bộ số nợ hay một phần nợ vay cho
ngân hàng. Bên bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình.
Ngân hàng và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản
của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Khi vay vốn có các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trên, công ty và ngân hàng
phải lập hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm có chứng nhận của Công chứng
nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Việc kiểm
tra tính hợp pháp và điều kiện của tài sản đảm bảo tiền vay do ngân hàng thực
hiện.
Theo quy định của pháp luật, việc xác định tài sản đảm bảo tiền vay được thực
hiện theo Điều 8 Nghị định 178/1999/NĐ-CP.
(9)
- Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc công ty cổ phần
dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
chính khoản vay đó đối với ngân hàng. Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản
của công ty cổ phần mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ
khoản vay của tổ chức tín dụng.
Điều kiện về chủ thể và tài sản để vay vốn được quy định cụ thể tại Điều 15
Nghị định 178/1999/NĐ-CP.
(10)
*** Tín dụng ngân hàng là một hình thức huy động vốn khá phổ biến và được
không chỉ công ty cổ phần mà các doanh nghiệp khác áp dụng. Tuy nhiên, hình
thức này cũng tồn tại những hạn chế không tránh khỏi như hệ thống văn bản
pháp luật còn chồng chéo, thủ tục cho vay phức tạp, Hơn nữa khi doanh
nghiệp vay vốn thì khoản vay thường lớn nên lãi suất cao, đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp phải chịu áp lực trả lãi và thời hạn trả. Mặt khác, nguồn vốn của
ngân hàng thương mại là nguồn tài trợ ngắn hạn nên doanh nghiệp chỉ được vay
12 tháng. Điều này gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp khi đi vay vốn
ngân hàng.

2.3 Tín dụng thuê mua:
12
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng khó tiếp
cận vốn vay ngân hàng. Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính là một giải
pháp để tài trợ vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp.
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi nhận
tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 với
tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính. Tuy nhiên, phải đến khi Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, sau đó
là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và Thông tư 03/TT-NH5 của
Ngân hàng Nhà nước ngày 9/2/1996, thì hoạt động này mới được sự điều chỉnh
cụ thể của pháp luật. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997(đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2004) được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng
được điều chỉnh một cách chi tiết và hệ thống (tại Điều 20, Điều 61 đến Điều
63). Các văn bản dưới luật lần lượt ra đời để cụ thể hoá Luật các tổ chức tín
dụng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001,
được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về tổ chức
và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.
Cho thuê tài chính vừa là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, vừa là
một dạng cho thuê tài sản mà theo đó, tổ chức tín dụng cho khách hàng quyền sử
dụng tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện khách hàng phải
trả tiền thuê. Tuy nhiên, không phải một giao dịch cho thuê tài sản nào của tổ
chức tín dụng cũng được coi là cho thuê tài chính (Quyết định 731/2004/QĐ-
NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 15/6/2004). Xét về mặt bản chất, giao
dịch cho thuê tài chính có những đặc điểm nổi bật sau đây:
- Cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của chủ sở
hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê. Khác với các hình thức thuê
tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt động cho
thuê tài chính, bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu "danh nghĩa" đối với
tài sản cho thuê (quyền này cho phép tổ chức tín dụng có thể thu hồi tài sản cho
thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài
sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê.
13
Điều này được lý giải bởi bản chất tín dụng của hoạt động cho thuê tài chính: Tổ
chức tín dụng chỉ quan tâm đến khả năng thu hồi cả gốc và lãi của khoản tín
dụng, còn việc sử dụng khoản tín dụng được cấp là quyền của bên nhận tín dụng
(bên thuê). Đặc điểm này đã được Uỷ ban về chuẩn mực kế toán quốc tế ghi
nhận: "Cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng dịch chuyển về cơ bản tất
cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản".
Cho thuê tài chính không hoàn lại tài sản thuê là phương thức cho thuê tài chính
mà theo đó, bên thuê có quyền sở hữu tài sản thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê.
Khi kết thúc hợp đồng, bên cho thuê có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục pháp lý
cần thiết để chuyển giao quyền sở hữu cho bên thuê. Đối với phương thức này,
số tiền thuê thường không thấp hơn giá trị tài sản thuê tại thời điểm giao kết hợp
đồng và khi chuyển giao quyền sở hữu, bên thuê chỉ phải thanh toán theo giá
danh nghĩa thấp hơn giá trị thực của tài sản tại thời điểm chuyển giao.
Cho thuê tài chính có hoàn lại tài sản thuê là phương thức cho thuê tài sản mà
theo đó, tài sản thuê không đương nhiên được chuyển giao quyền sở hữu khi
chấm dứt hợp đồng thuê. Với phương thức cho thuê này, số tiền thuê có thể thấp
hơn giá trị của tài sản tại thời điểm thuê. Khi kết thúc hợp đồng thuê, bên thuê có
quyền thuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê. Giá chuyển nhượng (nếu có) sẽ được
các bên thương lượng dựa trên giá trị còn lại của tài sản thuê.
*** Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ
biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các
doanh nghiệp Việt Nam không mấy quan tâm đến loại hình dịch vụ này. Nguyên
nhân có thể là do: doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê
tài chính còn hạn chế; hoạt động quảng bá, giới thiệu dịch vụ này đến doanh
nghiệp còn yếu; giá cho thuê (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê, phí, bảo
hiểm ) hiện nay còn cao. Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn, chi phí bỏ ra ban đầu
thấp thì cho đến hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ
phải thanh toán tổng số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với đi vay từ các
nguồn khác như ngân hàng. Như vậy, nếu tính ra lãi suất thì lãi suất thuê tài
chính cao hơn lãi suất vay ngân hàng, bởi vì lãi suất thuê tài chính còn phải cộng
thêm các chi phí về lắp đặt, vận hành, bảo hiểm của bên cho thuê phải bỏ ra.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét