Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Bài giảng nguyên lý kế toán

thường không phản
ánh được một cách
toàn diện và rõ nét
về sự vật, hiện
tượng, các quá trình
kinh tế - kỹ thuật.
- Tuỳ theo yêu cầu
cụ thể, có thể chỉ
thông tin về một
phần nhỏ của khách
thể cần thiết nhất
cho lãnh đạo hoặc
hoạt động nghiệp
vụ.
bộ quá trình hoạt
động SXKD từ
khâu cung cấp, sản
xuất đến tiêu thụ.
- Thông tin kế toán
luôn mang tính hai
mặt: Tài sản -
Nguồn hình thành
tài sản, Chi phí -
Kết quả,…
- Thông tin kế toán
là kết quả của quá
trình có tính 2 mặt:
thông tin và kiểm
tra
1.4. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán thường được phân loại theo quan
hệ với đơn vị (về lợi ích, về khả năng ảnh hưởng tới các hoạt động của đơn
vị…), theo đó, đối tượng kế toán bao gồm:
- Các nhà quản lý: Là những người trực tiếp tham gia quản trị kinh
doanh, quản lý doanh nghiệp, ra các quyết định kinh doanh, chỉ đạo tác
nghiệp trực tiếp tại đơn vị, gồm có: Hội đồng quản trị, Chủ doanh nghiệp,
Ban giám đốc.
- Những người có lợi ích liên quan:
+ Lợi ích trực tiếp: Các nhà đầu tư, chủ nợ,… của đơn vị.
+ Lợi ích gián tiếp: Cơ quan thuế, cơ quan thống kê, các cơ quan quản
lý nhà nước, cơ quan tài chính, công nhân viên, các nhà phân tích tài chính,…
5
Do có sự khác biệt về mục đích sử dụng, cách thức sử dụng, trình độ kế
toán, quan hệ lợi ích… nên mỗi đối tượng trên có yêu cầu khác nhau đối với
thông tin kế toán và tiếp cận hệ thống kế toán dưới những góc độ khác nhau.
1.5. Các khái niệm và các nguyên tắc kế toán:
1.5.1. Các khái niệm:
a. Khái niệm đơn vị kế toán:
- Cần có sự độc lập về mặt kế toán, tài chính giữa một đơn vị kế toán
với chủ sở hữu của nó và với các đơn vị kế toán khác.
- Đơn vị kế toán phải lập báo cáo kế toán theo quy định.
b. Khái niệm đơn vị tiền tệ:
Thước đo tiền tệ là đặc trưng cơ bản của kế toán. Tất cả các đối tượng,
các quá trình hoạt động cũng như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải
phản ánh thông qua thước đo tiền tệ và cũng chỉ có thước đo tiền tệ mới cho
phép xác định được những chỉ tiêu tổng hợp phục vụ cho việc so sánh, đánh
giá. Đơn vị tiền tệ sử dụng là đồng tiền của quốc gia mà đơn vị đang hoạt
động và giả định rằng đó là đồng tiền cố định (không có những biến động lớn
do lạm phát gây ra).
c. Khái niệm kỳ kế toán:
Kỳ kế toán là độ dài của một khoảng thời gian được quy định (tháng,
quý, năm) mà vào thời điểm cuối kỳ, kế toán phải lập báo cáo tài chính phản
ánh tình hình và kết quả hoạt động, tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh
nghiệp để phục vụ cho yêu cầu so sánh, tổng hợp, kiểm tra và đánh giá của
các đối tượng khác nhau.
Kỳ kế toán thường được xác định theo năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01
đến ngày 31/12 của một năm.
1.5.2. Các nguyên tắc kế toán:
Các nguyên tắc kế toán được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt
Nam - chuẩn mực số 01 được xác định là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức và
6
thực hiện kế toán cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong
phạm vi cả nước. Các nguyên tắc này bao gồm:
1. Nguyên tắc cơ sở dồn tích:
Nguyên tắc này yêu cầu mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp liên quan đến tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ
kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, thực
tế chi hoặc tương đương tiền.
2. Nguyên tắc hoạt động liên tục của đơn vị kế toán:
Theo nguyên tắc này, các doanh nghiệp hoạt động liên tục, vô thời hạn
hoặc không bị giải thể là điều kiện cơ bản để có thể áp dụng các nguyên tắc,
chính sách kế toán. Khi một đơn vị kế toán còn tồn tại dấu hiệu hoạt động liên
tục thì giá trị tài sản của đơn vị được ghi theo giá gốc, tuy nhiên khi không
còn tồn tại dấu hiệu hoạt động liên tục thì giá thị trường là căn cứ quan trọng
để xác định giá trị tài sản của đơn vị kế toán.
3. Nguyên tắc về thước đo giá trị thống nhất:
Sử dụng thước đo giá trị (thước đo tiền tệ) làm đơn vị thống nhất trong
ghi chép và tính toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nói cách khác, kế toán
chỉ phản ánh những biến động có thể biểu hiện bằng tiền. Theo nguyên tắc
này, tiền tệ được sử dụng như một thước đo cơ bản và thống nhất trong tất cả
các báo cáo tài chính.
Các nghiệp vụ kinh tế cần được ghi chép, phản ánh bằng một đơn vị
tiền tệ thống nhất (đồng tiền kế toán), trường hợp nghiệp vụ kinh tế phát sinh
liên quan đến đồng tiền khác, cần quy đổi về đơn vị tiền tệ thống nhất để ghi
sổ theo phương pháp thích hợp.
4. Nguyên tắc Kỳ kế toán:
Báo cáo tài chính phải được lập theo từng khoảng thời gian nhất định
gọi là kỳ kế toán. Kỳ kế toán có thể là tháng, quý, năm. Nguyên tắc này xuất
phát từ đòi hỏi của người ra quyết định quản lý và những người sử dụng báo
7
cáo tài chính là cần có sự đánh giá thường kỳ về tình hình hoạt động của đơn
vị.
Kỳ kế toán năm được gọi là một niên độ kế toán. Ngày bắt đầu và kết
thúc niên độ kế toán do chế độ kế toán từng quốc gia quy định cụ thể.
5. Nguyên tắc khách quan:
Số liệu do kế toán cung cấp phải mang tính khách quan và có thể kiểm
tra được, thông tin kế toán cần không bị ảnh hưởng bởi bất kì các định kiến
chủ quan nào.
6. Nguyên tắc giá phí:
Việc tính toán giá trị tài sản, công nợ, vốn, doanh thu, chi phí phải dựa
trên giá trị thực tế mà không quan tâm đến giá thị trường. Nguyên tắc này
được đảm bảo với giả định về sự hoạt động liên tục của đơn vị kế toán.
7. Nguyên tắc doanh thu thực hiện:
Doanh thu phải được xác định bằng số tiền thực tế thu được và được ghi
nhận khi quyền sở hữu hàng hoá bán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ
được thực hiện.
8. Nguyên tắc phù hợp:
Tất cả các chi phí phát sinh để tạo ra doanh thu ở kỳ nào cũng phải phù
hợp với doanh thu được ghi nhận của kỳ đó và ngược lại. Sự phù hợp được
xem xét trên hai khía cạnh là thời gian và quy mô.
9. Nguyên tắc nhất quán:
Trong quá trình kế toán, các chính sách kế toán, khái niệm, nguyên tắc,
chuẩn mực và các phương pháp tính toán phải được thực hiện trên cơ sở nhất
quán từ kỳ này sang kỳ khác.
10. Nguyên tắc công khai:
Tất cả tư liệu liên quan đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của
đơn vị kế toán phải được thông báo đầy đủ cho người sử dụng.
11. Nguyên tắc thận trọng:
8
Thông tin kế toán được cung cấp cho người sử dụng cần đảm bảo sự
thận trọng thích đáng để người sử dụng không hiểu sai hoặc không đánh giá
quá lạc quan về tình hình tài chính của đơn vị. Do đó, kế toán:
- Chỉ ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu khi có chứng cứ chắc chắn (đã xảy
ra).
- Ghi giảm nguồn vốn sở hữu khi có chứng cứ có thể (sẽ xảy ra).
- Cần lập dự phòng cho một số trường hợp nhất định nhưng không được
quá cao.
12. Nguyên tắc trọng yếu:
- Thông tin kế toán mang tính trọng yếu là những thông tin có ảnh
hưởng đáng kể tới bản chất của nghiệp vụ hoặc ảnh hưởng tới những đánh giá
của đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng đến
đối tượng sử dụng về tình hình tài chính của đơn vị, hoặc ảnh hưởng tới đối
tượng sử dụng trong việc ra quyết định.
- Chỉ chú trọng những vấn đề mang tính trọng yếu, quyết định bản chất
và nội dung của sự vật, không quan tâm tới những yếu tố ít tác dụng trong báo
cáo tài chính.
9
CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA KẾ TOÁN
Cũng giống như các môn khoa học kinh tế khác, kế toán cũng nghiên
cứu quá trình tái sản xuất nhưng thông qua nghiên cứu tài sản, nguồn hình
thành tài sản (nguồn vốn), sự tuần hoàn của vốn qua các quá trình hoạt động
và các mối quan hệ kinh tế - pháp lý phát sinh trong quá trình tồn tại và hoạt
động của một đơn vị kế toán.
2.1. Tài sản và phân loại tài sản trong doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm
Tài sản là tất cả những nguồn lực kinh tế mà đơn vị kế toán đang nắm
giữ, sử dụng cho hoạt động của đơn vị, thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Đơn vị có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát và sử dụng trong thời
gian dài.
- Có giá phí xác định.
- Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng các nguồn
lực này.
2.1.2. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp
Căn cứ vào thời gian đầu tư, sử dụng và thu hồi, toàn bộ tài sản trong
một doanh nghiệp được chia thành hai loại là tài sản ngắn hạn và tài sản dài
hạn.
- Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của đơn vị, có
thời gian đầu tư, sử dụng và thu hồi trong vòng 1 năm. Thuộc tài sản ngắn hạn
bao gồm:
+ Tiền: gồm Tiền mặt (tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý), Tiền
gửi ngân hàng, kho bạc và tiền đang chuyển.
10
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư về vốn nhằm mục
đích sinh lời có thời gian thu hồi gốc và lãi trong vòng một năm như: góp vốn
liên doanh ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn…
+ Các khoản phải thu ngắn hạn: Là lợi ích của đơn vị hiện đang bị các
đối tượng khác tạm thời chiếm dụng như: phải thu khách hàng ngắn hạn, phải
thu nội bộ, trả trước ngắn hạn cho người bán, phải thu về thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ.
+ Hàng tồn kho: Là các loại tài sản được dự trữ cho sản xuất hoặc cho
kinh doanh thương mại, gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá và hàng gửi đi bán.
+ Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước
ngắn hạn và thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn.
- Tài sản dài hạn: Là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân
chuyển và thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kỳ kinh doanh) và
có giá trị lớn (từ 10 triệu đồng trở lên). Tài sản dài hạn bao gồm:
+ Tài sản cố định: Là những tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian
sử dụng lâu dài (>1năm). Một tài sản được ghi nhận là tài sản cố định khi nó
thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:
1. Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó.
2. Nguyên giá tài sản được xác định một cách đáng tin cậy.
3. Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm.
4. Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành (từ 10 triệu trở lên).
Tài sản cố định bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ
thuê tài chính.
 TSCĐ hữu hình: Là những tài sản của đơn vị thoả mãn điều kiện là
TSCĐ và có hình thái vật chất cụ thể, bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc; máy
móc thiết bị; phương tiện vận tải truyền dẫn; thiết bị chuyên dùng cho quản
lý; cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm.
11
 TSCĐ vô hình: Là những tài sản của đơn vị thoả mãn điều kiện là
TSCĐ nhưng không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một số tiền mà đơn
vị đã đầu tư nhằm thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai, gồm: quyênd
sử dụng đất, bản quyền, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, phần
mềm máy tính, giấy phép khai thác và chuyển nhượng.
 TSCĐ thuê tài chính: Là tài sản cố định mà bên cho thuê tài sản có sự
chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyển sở hữu tài sản cho
bên cho thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.
+ Đầu tư tài chính dài hạn: Là những khoản đầu tư về vốn nhằm mục
đích sinh lời, có thời gian thu hồi gốc và lãi trên một năm, như: đầu tư vào
công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, góp vốn liên doanh dài hạn, cho vay
dài hạn.
+ Các khoản phải thu dài hạn: Là lợi ích của đơn vị hiện đang bị các đối
tượng khác tạm thời chiếm dụng, có thời hạn thu hồi trên 1 năm, như: phải
thu khách hàng dài hạn, trả trước dài hạn cho người bán…
+ Bất động sản đầu tư: Là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà
hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu
hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục
đích thu lợi từ việc cho thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc
cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung
cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc sử dụng cho mục đích quản lý hoặc để bán trong
kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Vì vậy, bất động sản đầu tư khác với
bất động sản chủ sở hữu sử dụng. Bất động sản chủ sở hữu sử dụng là bất
động sản do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê
tài chính nắm giữ nhằm mục đích sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hóa,
dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý.
+ Tài sản dài hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước dài hạn, chi phí đầu
tư xây dựng cơ bản dở dang và ký cược, ký quỹ dài hạn.
2.2. Nguồn vốn và phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp
12
2.2.1. Khái niệm
Nguồn vốn là những quan hệ tài chính mà thông qua đó đơn vị có thể
khai thác hay huy động một số tiền nhất định để đầu tư tài sản. Nguồn vốn
cho biết tài sản của đơn vị do đâu mà có và đơn vị phải có những trách nhiệm
kinh tế, pháp lý đối với tài sản của mình.
2.2.2. Phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp
Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có thể được hình thành từ hai nguồn
là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên
đóng góp hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động. Đây không phải là một
khoản nợ và do đó doanh nghiệp không có trách nhiệm phải thanh toán. Với
những loại hình doanh nghiệp khác nhau, vốn chủ sở hữu được hình thành
khác nhau và gồm 3 loại sau:
+ Vốn góp: Là số tiền do các chủ sở hữu đóng góp ban đầu khi thành
lập đơn vị kế toán hoặc được bổ sung trong quá trình hoạt động. Cần phân
biệt sự khác nhau giữa vốn góp, vốn pháp định và vốn điều lệ. Vốn pháp định
là số vốn tối thiểu cần có do pháp luật quy định đối với một số lĩnh vực hoạt
động nhất định. Vốn điều lệ là số vốn mà các thành viên sáng lập cam kết
trước pháp luật sẽ huy động vào hoạt động kinh doanh và được ghi trong điều
lệ của đơn vị.
+ Lợi nhuận chưa phân phối: Là kết quả hoạt động của đơn vị kế toán,
trong khi chưa phân phối được sử dụng cho hoạt động của đơn vị và là một
nguồn vốn chủ sở hữu.
+ Vốn chủ sở hữu khác: Bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên
dùng của đơn vị kế toán được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận,
bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng
phúc lợi, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái…
- Nợ phải trả: Là số vốn vay, vốn chiếm dụng của các tổ chức, các nhân
mà đơn vị kế toán có nghĩa vụ phải thanh toán.
13
Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có:
+ Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm
hoặc chu kì kinh doanh. Ví dụ: vay ngắn hạn, phải trả người bán ngắn hạn,
tiền đặt trước ngắn hạn của người mua, các khoản phải trả, phải nộp ngân
sách Nhà nước, các khoản phải trả công nhân viên, các khoản nhận kí quỹ, kí
cược ngắn hạn…
+ Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm hoặc
trên 1 chu kì kinh doanh, như: vay dài hạn, nợ dài hạn về thuê tài chính
TSCĐ, các khoản nhận kí quỹ dài hạn, nợ do mua tài sản trả góp dài hạn, phải
trả người bán dài hạn, tiền đặt trước dài hạn của người mua…
Việc phân loại tài sản và nguồn vốn có thể được khái quát qua bảng sau:
Tài sản Nguồn vốn
Tài
sản
ngắn
hạn
- Tiền
- Đầu tư tài chính ngắn hạn.
- Các khoản phải thu
ngắn hạn.
- Hàng tồn kho.
- Tài sản ngắn hạn khác.
Nợ
phải
trả
- Vay ngắn hạn.
- Nợ dài hạn đến hạn trả.
- Phải trả người bán.
- Khách hàng trả trước.
- Thuế phải nộp Nhà nước.
- Phải trả công nhân viên.
- Phải trả nội bộ.
- Chi phí phải trả.
- Vay dài hạn.
- Nợ dài hạn.
- Trái phiếu phát hành.
Tài
sản
dài
hạn
- Tài sản cố định.
- Đầu tư tài chính dài hạn.
- Các khoản phải thu dài hạn.
- Bất động sản đầu tư.
- Tài sản dài hạn khác.
Nguồn
vốn
chủ
sở hữu
-Vốn góp
- Lợi nhuận chưa
phân phối.
- Vốn chủ sở hữu khác.
2.3. Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn – Phương trình kế toán
14

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Năm 2010:
1. Bối cảnh kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế khả quan, đạt 6.78%. Tuy nhiên, áp lực lạm phát gia tăng do cộng
hưởng các yếu tố thiên tai, giá cả hàng hóa thế giới tăng, tiền đồng bị mất giá và cung tiền
tăng mạnh, tiếp tục gây bất ổn cho nền kinh tế. Tiền đồng mất giá tổng cộng 11.17% từ
tháng 11/2009, nguyên nhân chủ yếu là tài khoản vãng lai bị thâm hụt lớn, lòng tin vào
đồng nội tệ suy giảm và tình trạng đô la hóa tiếp diễn.
2. CSTT của NHNN:
- Năm 2010, NHNN chủ trương điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh
hoạt và thận trọng thông qua các văn bản sau: Quyết định số 11/2010/QĐ-NHNN ngày
6/1/2010 về danh mục giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà
nước; Quyết định số 74/QĐ-NHNN ngày 18/1/2010 quy định tỷ lệ DTBB đối với ngoại tệ,
theo đó kỳ hạn dưới 12 tháng điều chỉnh từ 7% xuống 4%, kỳ hạn trên 12 tháng điều chỉnh
từ 3% xuống 2%; Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 cho phép các NHTM
cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với các món vay trung, dài hạn. Đến ngày 14/04/2010,
NHNN đã chính thức cho phép các NHTM sử dụng lãi suất thỏa thuận với các khoản vay
ngắn hạn.
- Nổi bật của chính sách điều hành tỷ giá trong năm 2010 của Ngân hàng nhà nước là việc
điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng 18/8/2010 từ mức 18.544 VND lên mức 18.932
VND (tăng gần 2,1%). Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn ban hành mức lãi suất tiền gửi
tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại TCTD là 1%/năm.
- Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010: ban hành chính sách tín dụng phục vụ phát
triển nông nghiệp và nông thôn.
- Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu 10 tháng đầu năm 2010 lần lượt là
8%, 8% và 6% , 2 tháng cuối năm tăng lên lần lượt là 9%, 9% và 7%
- Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 thu hẹp huy động và cho vay bằng
vàng, đóng cửa sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước
ngoài; điều hành xuất - nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Nghị định 141/2006/NĐ-CP cho phép giãn tiến độ tăng vốn điều lệ tối thiểu của các
TCTD đến cuối năm 2011.
- Thông tư 13 ngày 20/05/2010 quy định việc tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR từ 8%
lên 9% và tổng số vốn cho vay không vượt quá 80% tổng số vốn huy động; đồng thời cũng
nâng hệ số rủi ro của những khoản cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động
sản lên tới 250%.
3. Tác động của CSTT đến hoạt động của các NHTM năm 2010:
Năm 2010 là một năm với những thay đổi pháp lý quan trọng, nhiều biến động trên thị
trường, nhiều khó khăn đối với cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp.
+ Lãi suất đột ngột đảo chiều: Từ tháng 6, nhiều lần Chính phủ nhấn mạnh đến định
hướng hạ lãi suất VND. Nỗ lực theo hướng này ghi nhận ở điểm đến 11%/năm của lãi suất
huy động. Tuy nhiên, lạm phát tiếp tục gia tăng, cuộc đua lãi suất đột ngột bùng phát vào
cuối năm, trần lãi suất huy động tăng đến 14%. Trong tình hình đó, nếu dỡ bỏ trần lãi suất
huy động, có thể sẽ diễn ra một cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng, mặc dù thực tế
các ngân hàng vẫn đang ngầm “phá trần”, “giao dịch ngầm”, “lãi suất chui”, điển hình là
Techcombank và Đông Á. Phải đến trung tuần tháng 12, tình hình mới tương đổi ổn định
khi NHNN vào cuộc bằng việc thực thi CSTT thắt chặt.
+ Kỷ lục của chênh lệch tỷ giá: thị trường ngoại hối và chính sách điều hành có nhiều
biến động, tỷ giá tăng 5,53%, chênh lệch giữa giá USD trên thị trường tự do so với giá
niêm yết chính thống lập kỷ lục 10%.
Từ đầu năm, với hàng loạt chính sách: quyết định hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ,
mở rộng đối tượng vay vốn bằng ngoại tệ, áp trần lãi suất tiền gửi USD tối đa 1%/năm đối
với các tổ chức, thực hiện “kết hối” đối với các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước,
hai lần trực tiếp tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng,…làm cho tỷ giá, trạng thái cung -
cầu ngoại tệ khá ổn định trong khoảng 7 tháng đầu năm. Thị trường bắt đầu căng thẳng từ
trung tuần tháng 10 và trong tháng 11 khi chênh lệch tỷ giá lên đến 10%, quyết định bán ra
ngoại tệ được công bố.
+ Bùng nổ tín dụng ngoại tệ: Năm 2010, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 29,81%;
trong đó tín dụng VND tăng 25,3%; tín dụng ngoại tệ tăng gần gấp đôi ở mức 49,3%, nếu
trừ hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì tổng dư nợ tăng 27,6%; trong đó tín dụng VND
tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng 37,7%. Như vậy với việc hạ dự trữ bắt buộc, mở rộng
đối tượng được vay và đặc biệt là chênh lệch lớn về lãi suất là những yếu tố chính tạo nên
sự bùng nổ của tín dụng bằng ngoại tệ, gây biến động trên thị trường ngoại hối.
+ Hoạt động huy động vốn: mặc dù huy động vốn tăng nhanh trong những tháng đầu
năm, sau đó chậm lại trong hai tháng cuối năm, với mức tăng 27,2% cả năm.
+ Siết kinh doanh vàng, lãi suất huy động vàng sụt giảm mạnh: Năm 2010 ghi nhận
sự can thiệp mạnh của NHNN đối với hoạt động kinh doanh vàng của các NHTM với chỉ
đạo đóng cửa các sàn giao dịch vàng, tất toán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở
nước ngoài.
Hoạt động huy động và cho vay vàng của các ngân hàng có nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối cũng bị thu hẹp, theo quy định của Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày
29/10/2010 về huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng.
4. Tác động của CSTT đến hoạt động kinh doanh của NH VietinBank trong năm
2010
Nhìn chung trong đa số thời gian của năm 2010, NNHN đã thực hiện chính sách
tiền tệ theo hướng linh hoạt, tăng dòng tiền cho nền kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất, giúp
nước ta vượt qua những khó khăn chung từ tình hình của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới bắt đầu năm 2008. Những ảnh hưởng chủ yếu của các chính sách tiền tệ trong năm
2010 đến Vietinbank có thể kể đến như:
a. Tháo bỏ trần lãi suất cho vay
Với việc tháo gỡ trần cho vay vốn đang hạn chế hoạt động tín dụng của ngân hàng và tăng
lượng ngoại tệ khả dụng, hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của các ngân
hàng đã phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, tăng trưởng tín
dụng năm 2010 vẫn đạt mức trên 27%. Trong đó, tăng trưởng tín dụng của Vietinbank
trong năm 2010 là 42.5%. Đây là thành tích đáng nể của Vietinbank, trong đó có ảnh
hưởng rất lớn từ chính sách dỡ bỏ trần lãi suất cho vay trong của Ngân hàng nhà nước. Và
ích lợi rõ ràng từ việc tăng trưởng tín dụng trên là sự tăng mạnh về cả lợi nhuận từ hoạt
động cho vay và lợi nhuận hoạt động của ngân hàng.
Đơn vị: triệu VND
Năm Chỉ tiêu Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Cả năm
2009
Dư nợ vay 122,275,138 136,385,609 154,612,849 161,658,925 161,658,925
Thu nhập lãi 4,705,822 4,185,638 4,701,488 5,434,887 18,908,608
Thu nhập trước thuế 1,206,290 872,592 839,238 596,271 3,757,171
2010
Dư nợ vay 175,032,633 184,911,080 204,562,934 234,087,402 234,087,402
Thu nhập lãi 5,905,752 7,601,097 8,505,279 9,901,507 31,919,188
Thu nhập trước thuế 1,171,113 1,006,278 1,484,775 878,307 4,598,038
Nguồn: Cophieu68
Đi liền với những lợi ích đạt được từ việc mở rộng hoạt động cho vay của mình,
Vietinbank cũng chịu một số ảnh hưởng tiêu cực được thể hiện tình hình hoạt động của
ngân hàng. Nợ xấu của Vietinbank tăng hơn 550 tỷ, từ mức 0.5% tổng dư nợ lên mức
0.75% tổng dư nợ. Đồng thời tỷ lệ nợ quá hạn của Vietinbank cũng 1.4% tổng dư nợ lên
mức 1.6% tổng dư nợ, tức tăng hơn 1.400 tỷ đồng. Không những thế, việc tăng trưởng tín
dụng nóng trong năm 2010 của Vietinbank còn gây ra hậu quả về nợ xấu cho các năm sau.
Với tình hình tăng trưởng tín dụng nóng trong năm 2010, vào 2 tháng cuối năm, NHNN đã
thực hiện tăng các mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu lên 1%. Dù
vậy, chính sách này không ảnh hưởng nhiều đến Vietinbank do mức huy động từ thị trường
dân cư và thị trường liên ngân hàng trong năm 2010 vẫn đủ sức bù đắp cho tăng trưởng tín
dụng của Vietinbank trong hai tháng cuối năm.
b. Tăng trần lãi suất huy động
Trong bối cảnh lãi suất trần được tăng cao trong năm 2010, lãi suất huy động của
Vietinbank cũng tăng theo. Mức lãi suất huy động dưới một năm của Vietinbank tăng từ
10.5% lên mức 12% vào cuối năm. Các mức lãi suất huy động dài hạn của Vietinbank
cũng tăng tương ứng. Vốn xuất thân từ một ngân hàng sở hữu nhà nước, Vietinbank luôn
chấp hành đúng các chủ trương của Ngân hàng nhà nước đưa ra và lãi suất huy động cũng
được chấp hành đúng. Trước tình trạng lãi suất huy động ngầm của các NHTM vượt mức
trần, tình hình huy động của Vietinbank cũng gặp một số khó khăn nhất định.
Đơn vị: triệu VND
31/12/2009 Quý 1 2010 Quý 2 2010 Quý 3 2010 Quý 4 2010 Năm 2010
Huy động 148,440,463 156,568,834 155,226,072 173,109,772 205,692,173 205,692,173
Chi phí lãi 10,976,345 3,656,357 4,523,689 5,495,599 6,156,293 19,830,186
Nguồn: Cophieu68
Trong hai quý cuối năm 2010, số dư huy động của Vietinbank tăng cao song song với sự
tăng lên của chi phí huy động. Dù rằng trần lãi suất huy động 10.5% từ năm 2009 được
tháo dỡ vào quý 2 năm 2010, nhưng có lẽ những ảnh hưởng đến tổng vốn huy động của
Vietinbank chỉ bắt đầu rõ nét vào quý 3, khi tổng số huy động tăng gần 18 nghìn tỷ đồng.
Trong những tháng cuối năm 2010, sự tăng mạnh của lãi suất huy động khiến tổng huy
động Vietinbank tăng thực sự ấn tượng, với khoảng 19% trong vòng 1 quý. Có thể nói việc
nới trần lãi suất huy động đã tác động thực sự mạnh mẽ đến Vietinbank trong năm 2010.
c. Điều chỉnh tỷ giá
Việc nâng tỷ giá làm giảm khoảng cách giữa tỷ giá chợ đen và tỷ giá ngân hàng, tăng
lượng giao dịch ngoại tê tại các ngân hàng thương mại. Nhưng đồng thời, chính sách trần
lãi suất huy động ngoại tệ lại tạo ra sức cản cho việc huy động ngoại tệ từ nguồn tiền gửi
của các ngân hàng. Mặc dù vậy, tác động của việc điều chỉnh tỷ giá sẽ có ảnh hưởng rõ rệt
hơn đến hoạt động ngoại hối của ngân hàng.
Trong những tháng đầu năm 2010, khi lãi suất cho vay VND thực đang ở mức cao, nhiều
ngân hàng đã thực hiện cho vay bằng USD. Việc tăng tỷ giá ngoại tệ vào thời điểm nêu
trên đã tạo ra một khoảng lợi nhuận ngoại hối lớn cho ngân hàng trong năm 2010, khi các
doanh nghiệp giờ đây phải mua ngoại tệ với giá cao hơn để trả cho ngân hàng. Do ảnh
hưởng hậu suy thoái kinh tế, việc đáp ứng đủ nguồn cung cho hoạt động nhập khẩu của
khách hàng gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối tương đối khả
quan, tăng hơn 160%. Doanh số ngoại tệ mua vào năm 2009 là 4,390 triệu USD, doanh số
bán ra là 4,050 tỷ USD. Trong năm 2010, doanh số mua bán ngoại tệ của Vietinbank đã
tăng mạnh, với giao dịch mua bán đều vượt mức 5 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2009.
Đơn vị: triệu VND
Năm Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý 4 Cả năm
2009 38,914 68,579 1,174 -26,361 59,278
2010 125,592 -101,484 67,450 68,715 158,444
• Đánh giá chung về ảnh hưởng của CSTT đến hoạt động của Vietinbank trong
năm 2010:
- Việc thay đổi lãi suất cho vay và huy động của NHNN đã gây ra tác động mạnh mẽ đến
Vietinbank cũng như của các ngân hàng khác. Đây cũng được xem là một công cụ hữu
hiệu để điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Về cơ bản, chính sách này đã mang lại
một năm thành công cho Vietinbank.
- Về chính sách tỷ giá, việc tăng tỷ giá mang lại một khoản lãi giao dịch ngoại hối lớn hơn
cho ngân hàng trong năm 2010, tăng khối lương giao dịch ngoại hối của ngân hàng.
- Các CSTT khác cũng gây một số ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của Vietinbank
nhưng chưa thực sự rõ ràng.
Năm 2011:
1. Bối cảnh kinh tế chung năm 2011:
Năm 2011 có thể xem đã qua thời điểm khó khăn nhất của nền kinh tế Việt Nam sau
thời gian dài chật vật hậu khủng hoảng toàn cầu. Tuy nhiên sự phục hồi đang diễn ra khá
chậm và các dấu hiệu chưa thực sự rõ nét. Các kênh đầu tư “hái ra tiền” như bất động sản,
chứng khoán năm 2011 được các nhà đầu tư dán mác cụm từ “bán tháo” khi mà thị trường
vàng, bất động sản, tài chính- ngân hàng, chứng khoán… chao đảo. Lạm phát vẫn cán mốc
18%.
Trong tình hình đó, Chính phủ, NHNN đã nỗ lực điều hành chính sách tiền tệ chặt
chẽ, thận trọng theo tinh thần Nghị Quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp
chủ yếu ổn định kinh tế vĩ mô, và kinh tế Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu
đáng kể: GDP tăng trưởng 5,89%; kim ngạch xuất khẩu tăng 33,3%, vốn đầu tư toàn xã hội
tăng 5,7%, nhập siêu dưới mức 10%, dự trữ ngoại hối được cải thiện đáng kể, kinh tế vĩ
mô về cơ bản ổn định.
2. Chính sách tiền tệ của NHNN năm 2011:
Trong bối cảnh kinh tế năm 2011, từ đầu năm NHNN đã có những chỉ đạo quyết
liệt về chính sách tiền tệ thắt chặt và thận trọng nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát tốc độ
tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp, lãi suất và tỷ giá ở mức hợp
lý góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Theo tinh
thần của các văn bản:
- Quy định lãi suất huy động: Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/032011quy định
mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam không vượt quá 14%/năm. Thông
tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011, quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng
đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh NHNN là 14%/năm. Mục đích
của việc ban hành Thông tư này nhằm thực hiện giải pháp điều hành chủ động, linh hoạt,
hiệu quả công cụ lãi suất cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác để góp phần kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo chủ trương của Chính
phủ; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xử lý đối với tổ chức tín dụng vi phạm quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của
các TCTD.
- Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Quyết định số 750/QĐ-NHNN ngày 09/4/2011, Quyết
định số 1209/QĐ-NHNN ngày 01/6/2011, Quyết định số 1209/QĐ-NHNN ngày
01/9/2011, QĐ 1925/QĐ-NHNN ngày 26/8/2011. Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với
tiền gửi bằng VND không đổi, trong khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD
tăng 3% trong năm 2011.
3. Tác động chính sách tiền tệ đến hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung,
của Vietinbank năm 2011:
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của hệ thống
NHTM năm 2011, toàn hệ thống VietinBank đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để thực
hiện tốt cùng lúc hai nhiệm vụ: hoạt động kinh doanh phát triển an toàn, hiệu quả, hướng
tới chuẩn mực quốc tế đồng thời phát huy vai trò là một ngân hàng thương mại chủ lực của
nền kinh tế, tích cực đi đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP và Chỉ thị 01/CT-
NHNN. Kết thúc năm tài chính 2011, VietinBank đã đạt được những thành tích đáng khích
lệ, hoàn thành xuất sắc mọi chỉ tiêu đại hội đồng cổ đông đa đề ra, hoạt động kinh doanh
đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả.
a. Công cụ trần lãi suất huy động- vốn chảy về các NH lớn và các kênh đầu tư khác
ngoài ngân hàng:
Hoạt động NHTM năm 2011 sau quãng thời gian tăng trưởng nóng với 130 tổ chức
tín dụng, gần 10.000 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả nước, hệ thống ngân hàng đã lộ
rõ nhiều điểm yếu nguy hiểm: tỷ trọng sở hữu chéo cao, đạo đức kinh doanh xuống thấp,
những cuộc đua lãi suất không ngừng và có dấu hiệu “sa lầy” vào bất động sản, nợ xấu gia
tăng. Do đó, chỉ lệnh tái cấu trúc ngân hàng và tăng “sức khỏe” hệ thống tài chính được
phát đi từ tân Thống đốc Nguyễn Văn Bình, mở đầu bằng việc xử lý nghiêm các ngân hàng
vượt trần lãi suất huy động theo Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/03/2011. Tuy
nhiên, thị trường huy động vẫn còn những vụ “vượt rào” ngoạn mục, “lách” lãi suất, “chạy
đua” lãi suất với nhiều chiêu thức tinh vi, gây nguy cơ rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản
cho TCTD huy động vốn và hệ thống NHTM. Để khắc phục tình trạng trên, đảm bảo an
toàn hoạt động của các TCTD, ngày 28/9/2011 NHNN ban hành Thông tư số 30/2011/TT-
NHNN quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân
tại TCTD, chi nhánh NHNN, có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2011, thay thế Thông tư số
02/2011/TT-NHNN.
Năm 2011, NHNN cũng đã sử dụng đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm kiểm
tra, giám sát chặt chẽ việc các TCTD chấp hành quy định trần lãi suất huy động. Đặc biệt
ngày 7/9/2011, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN quy định cụ thể hình thức xử
phạt nghiêm khắc đối với cá nhân, tổ chức và người đứng đầu tổ chức vi phạm trần lãi suất
huy động. Sau khi ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN, NHNN đã phối hợp với các cơ quan
chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đã xử lý nghiêm một số trường hợp vi
phạm trần lãi suất huy động, gồm: Ngân hàng TMCP Đông Á - CN Tây Ninh, Ngân hàng
TMCP Phát triển Nhà TP Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội – PGD Hàng
Trống…
Công cụ trần lãi suất huy động được quy định lần đầu vào tháng 2/2008 và dỡ bỏ
chỉ sau 3 tháng. Lần thứ 2 áp dụng vào 3/2010, nhưng các NHTM vẫn ngầm lách lãi suất
lên cao hơn mức trần 14% đó. Trần lãi suất huy động được áp dụng lần thứ 3 vào 9/2011
và vẫn có bằng chứng cho thấy quy định này bị các NHTM lách qua. Như vậy, các NHTM
vẫn luôn bị buộc phải bất tuân quy định này bằng vô số các thỏa thuận ngầm với người gửi
tiền tiết kiệm, cho dù NHNN có kiểm tra và xử lý “làm điểm” vài trường hợp,. Một số NH
triển khai chương trình huy động kỳ hạn dài (trên 12 tháng) nhưng cho khách hàng thoải
mái rút trước hạn. Khi đó, khách hàng chỉ cần làm hợp đồng vay lại NH, thời gian vay
bằng với thời gian còn lại trên sổ tiết kiệm, lãi suất vay bằng lãi suất huy động của NH.
Chiêu thức này đã vô hiệu hóa tất cả các mức trần lãi suất ngắn hạn. Ngoài ra, để có thể
huy động đúng quy định về lãi suất nhưng chi trả cao hơn nhằm thu hút người gửi tiền, các
NH còn sử dụng hình thức thỏa thuận ngầm trả chênh lệch lãi suất cao hơn quy định bằng
tiền mặt, công bố các chương trình khuyến mại giá trị lớn, quay sổ số, bốc thăm trúng
thưởng .
• Nguyên nhân chủ yếu khiến các NHTM “bất tuân” Thông tư 02:
- Thứ nhất, huy động vốn khó khăn:
Do giá vàng, tỷ giá biến động mạnh, do CPI các tháng cuối năm 2010 và đầu năm
2011 ở mức rất cao, do là các tháng áp Tết Nguyên đán, cộng việc áp trần lãi huy động
VND 14%/năm, nên nguồn vốn vào hệ thống ngân hàng đã chững lại, thậm chí giảm.
Tháng 1, nguồn vốn huy động của cả hệ thống giảm gần 2,5% so với cuối năm 2010. Các
tháng sau, nguồn vốn đã phục hồi, nhưng mức tăng thấp hơn nhiều so với các năm trước.
Tính đến cuối tháng 10, huy động của cả hệ thống chỉ tăng 8,59% so với cuối năm 2010
(khoảng 40% mức tăng cùng kỳ năm ngoái).
Nguồn vốn vào rất hạn chế, đối lập với nhu cầu rất lớn của các NHTM, ngay cả khi
áp trần tín dụng mới, do các nghĩa vụ trả nợ tiền gửi cũng như nghĩa vụ thực hiện các cam
kết giải ngân tín dụng từ trước lớn, nên thanh khỏan của các NHTM luôn ở tình trạng căng
thẳng. Cộng với việc theo đuổi CSTT thắt chặt, NHNN tăng lãi trên thị trường mở, kéo
theo việc tăng lãi trên thị trường liên ngân hàng và việc qui định tỷ lệ huy động trên thị
trường 2 tối đa là 20% huy động trên thị trường 1, nên lách trần lãi suất huy động cùng với
các sản phẩm huy động siêu ngắn đã bùng phát.
Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, NHNN đã ban hành nhiều chính sách nhằm hạ lãi
suất và ổn định kinh tế vĩ mô, cùng với khó khăn chung của nền kinh tế trong nước và thế
giới đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động huy động vốn của các NHTM. Tuy nhiên Vietinbank
vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ổn định, chú trọng đảm bảo an toàn thanh
khoản và tuân thủ các quy định của NHNN. Số dư huy động (bao gồm vốn vay) cuối năm
2011 đạt 420.212 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2010 và đạt 103% so với chỉ tiêu, cao hơn
rất nhiều so với toàn ngành, mà vẫn đảm bảo thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt trong nă
2011 của NHNN. Huy động vốn VND đạt 348 ngàn tỷ đồng, chiếm 83%, huy động ngoại
tệ (quy VND) đạt 72 ngàn tỷ đồng. Thị phần huy động vốn từ nền kinh tế đạt gần 11%
(năm 2010 là 10,21%). Điều này giúp cho Vietinbank luôn ổn định về tính thanh khoản
không bị rơi vào vòng xoáy của cuộc đua lãi suất huy động trên thị trường 1 hay vay nợ
trên thị trường 2.
- Thứ 2, tính thanh khoản bị động và nhiều rủi ro
Huy động vượt trần, không chỉ chi phí bị đội lên, các NHTM còn tự đẩy mình vào
các điều kiện bất lợi, bị động, rủi ro. Cộng với thực tế các khoản tín dụng đều có kỳ hạn và
có tới 30 – 40% dư nợ tín dụng là tín dụng trung dài hạn thì rủi ro thanh khoản đối với hệ
thống đã tăng vọt. Hệ quả dễ nhận thấy là những khó khăn về thanh khoản, nhất là đối với
các NHTM nhỏ kể từ thời điểm NHNN cưỡng chế nghiêm ngặt trần lãi suất huy động 14%
từ tháng 9/2011. Việc hợp nhất 3 ngân hàng vừa qua cho thấy sự căng thẳng thanh khoản
trong hệ thống và điều này sẽ hạn chế không ít khả năng điều hành CSTT nói chung, chủ
trương giảm lãi suất nói riêng.
Năm 2011, trong khi nhiều NHTM bị thiếu hụt thanh khoản thì VietinBank vẫn giữ
vững vị trí là ngân hàng cung ứng vốn lớn nhất trên thị trường liên ngân hàng, là nhà tạo
lập và dẫn dắt thị trường. Với chiến lược đầu tư hợp lý, khả năng quản lý tốt và dự đoán thị
trường chính xác, VietinBank không chỉ đảm bảo thanh khoản cho mình mà còn tích cực
hỗ trợ thanh khoản của các NHTM khác, góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Tổng số dư đầu tư trái phiếu cuối năm 2011 là 67,8 ngàn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cuối
năm 2010. VietinBank luôn duy trì khối lượng lớn trái phiếu Chinh phủ - vừa là nguồn dự
trữ thứ cấp vừa góp phần đầu tư vốn vào các dự án lớn góp phần phát triển kinh tế năm
2011.
Các chỉ số về thanh khoản của Vietinbank như: tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy
động, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung dài hạn, tỷ lệ góp vốn mua cổ
phần, trạng thái ngoại tệ - vàng đều đảm bảo theo quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà
nước. Hệ số an toàn vốn cao hơn mức quy định tại Thông tư 13 là 9%, đạt 10,57%.
- Nhận xét về công cụ trần lãi suất huy động năm 2011:
Về cơ bản, việc áp trần lãi suất huy động nhưng chưa áp trần lãi suất cho vay có lợi
cho các NHTM, đặc biệt là các Ngân hàng lớn trong hoạt động kinh doanh khi mà Ngân
hàng đi vay với mức chi phí đã có trần cố định và cho vay không giới hạn trần. Dễ nhận
thấy, trong khi lãi suất cho vay không còn trần nào nữa cả và lãi suất huy động tối đa là
14% thì lợi ích của người dân gửi tiền và doanh nghiệp vay tiền đã bị xâm phạm một cách
rõ rệt. Được lợi nhất trong tình hình này là các ngân hàng một khi chênh lệch hai loại lãi
suất này giãn ra mà không theo quy luật cung cầu. Tuy nhiên, ở mức độ nào đó quy định
này gây khó khăn cho các NH nhỏ trong huy động tiền gửi dân cư, tạo nên dòng chảy vốn
về các NH lớn vốn đã thừa khả năng thanh khoản ở thời điểm hiện tại. Ở khía cạnh khác,
trần lãi suất huy động tạo ra sự tích lũy “đóng băng” dưới các dạng tài sản khác, chủ yếu là
vàng, ngoại tệ, bất động sản .và sự sụt giảm nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư và các
tổ chức kinh tế.
Mặc dù vậy, chính sách trần lãi suất huy động vẫn được đánh giá là khá phù hợp
trong bối cảnh hiện tại, vì mặc dù thanh khoản của các NHTM đã được cải thiện tích cực
nhưng chưa đồng đều giữa, một số NHTM yếu kém vẫn gặp khó khăn về thanh khoản.
Nếu bỏ trần lãi suất huy động thì các NHTM yếu kém, thiếu thanh khoản sẽ tăng lãi suất
huy động để thu hút nguồn vốn huy động, từ đó đẩy mặt bằng lãi suất huy động tăng cao,
kéo lãi suất cho vay tăng theo. Việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ thực thi khi điều kiện kinh
tế vĩ mô và tiền tệ cho phép. Do đó, tiếp tục duy trì quy định trần lãi suất huy động là chính
sách tối ưu trong bối cảnh hiện nay. Dĩ nhiên là công cụ trần lãi suất huy động vốn không
phải là tối ưu cho tất cả các NHTM.
b. Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc:
Tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD lên 3% trong năm 2011- công
cụ NHNN áp dụng nhằm giảm mất cân đối tiền tệ, thanh khoản ngoại tệ căng thẳng và áp
lực tỷ giá:
Huy động VND hạn chế đã thúc đẩy các NHTM tìm kiếm các nguồn thay thế.
Ngoại tệ là lựa chọn đầu tiên, không chỉ bởi nguồn ngoại tệ trong nền kinh tế dồi dào, mà
lợi ích cao so với tín dụng VND cũng tạo ra các động lực mạnh mẽ trong hoạt động tín
dụng ngoại tệ. Tín dụng ngoại tệ đã tăng mạnh kể từ những tháng đầu năm. Mặc dù khoảng
cách giữa tốc độ tăng dư nợ ngoại tệ và VND đã được thu hẹp với hàng loạt chính sách hạn
chế tín dụng ngoại tệ (tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ; áp tỷ lệ DTBB 1%
đô
́
i vơ
́
i tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD ở nước ngoài; thu hẹp đối tượng tín dụng
ngoại tệ; .), nhưng cả năm, ước tín dụng ngoại tệ vẫn tăng tới 18,7%, gần gấp đôi tốc độ
tăng dư nợ VND.
• Nhận xét:
Do dư nợ và huy động ngoại tệ tăng nhanh trong các tháng đầu năm, nên việc áp
trần lãi suất huy động USD, thực hiện qui định bán ngoại tệ của các tổ chức và siết chặt
quản lý ngoại hối, quản lý ổn định tỷ giá nên các NHTM lại rơi vào tình trạng căng thẳng
thanh khoản ngoại tệ. Các sản phẩm huy động ngoại tệ đa dạng lại xuất hiện gây khó khăn
cho công tác quản lý tỷ giá, quản lý ngoại hối và quản lý vấn đề đô la hóa của NHNN.
Trong năm, huy động ngoại tệ Vietinbank đạt 72 ngàn tỷ đồng, chiếm 20.7% tổng huy
động, kiểm soát chặt chẽ cho vay ngoại tệ theo quy định của NHNN (cơ cấu dư nợ ngoại tệ
duy trì khoảng 18,4%). Trong bối cảnh thị trường ngoại tệ trong năm có nhiều biến động
phức tạp, VietinBank cũng đã triển khai nhiều nhóm giải pháp tổng hợp và linh hoạt để
duy trì ổn định và mở rộng khai thác nguồn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
khách hàng và đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Doanh số mua ngoại tệ của VietinBank năm
2011 đạt 5,1 tỷ USD, tăng trưởng hơn 30%, doanh số ngoại tệ bán cho khách hàng đạt hơn
6 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2010. Trong năm, Vietinbank tuân thủ theo các thông báo
của NHNN về dự trữ bắt buộc, được tính bằng 3,00% và 8,00% (2010: 3,00% và 4,00%)
tương ứng đối với tiền gửi của khách hàng bằng VNĐ và ngoại tệ có kỳ hạn dưới 12 tháng;
1,00% và 6,00% (2010: 1,00% và 2,00%) từ 12 tháng trở lên. Theo đó, mức dự trữ bắt
buộc (bằng VNĐ và ngoại tệ) trung bình trong tháng 12 năm 2011 là 8.207.565 triệu đồng.
c. Tăng trưởng tín dụng thấp và nợ xấu gia tăng:
Dư nợ cả năm ước chỉ tăng 12 – 13% (trong đó tín dụng VNĐ tăng 10,2%, tín dụng
ngoại tệ tăng 18,7%), gấp đôi mức tăng GDP trong khi các năm trước, tín dụng đều gấp 5-
6 lần mức tăng GDP, thấp hơn so với trần cho phép. Một mặt bản thân nhu cầu vay cũng
hạn chế do lãi suất quá cao, trong khi hạn chế lượng tiền trong nền kinh tế cũng làm giảm
mạnh sức mua trong nước. Xuất khẩu tăng chủ yếu là do giá tăng vì kinh tế thế giới cũng
trì trệ hơn so với năm 2010. Mặt khác, phía cung, một số có khả năng cho vay thì bị giới
hạn bởi trần, số khác còn, nhưng lại không có nguồn. Bên cạnh đó, lãi suất trên thị trường
liên ngân hàng cao cũng khuyến khích các NHTM cho vay các NHTM, TCTD khác, thay
vì cho vay nền kinh tế. Hệ quả là dư nợ cả năm chỉ tăng 12- 13%, còn nợ xấu gia tăng, ở
mức 3,6-3,8% trên tổng dư nợ.
• Hoạt động cấp tín dụng Vietinbank 2011:
Dư nợ cho vay và đầu tư đạt 430,1 nghìn tỷ đồng, tăng 23% (toàn ngành: 12- 13%), nợ xấu
ở mức 0,75% (toàn ngành 3%). Vietinbank đã bước đầu triển khai công tác chuyển đổi mô
hình cấp tín dụng với định hướng quản trị rủi ro tập trung theo thông lệ quốc tế. Công tác
sử dụng vốn được tiến hành hết sức linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn, hiệu quả. Kết
thúc năm 2011, tổng dư nợ cho vay và đầu tư đạt 430.359 tỷ đồng, tăng 25% so với đầu
năm (thấp hơn mức 35% năm 2009 và 43% năm 2010). Nguồn vốn được sử dụng hiệu quả
và tập trung cho vay các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm quốc gia, có tiềm năng phát
triển bền vững như các dự án điện, dầu khí, vệ tinh viễn thông, xi măng, thép, than và
khoáng sản…
Đánh giá về thực thi Nghị Quyết 11, Vietinbank là NHTM đi đầu trong việc triển
khai nhiều chương trình tín dụng cho vay ưu đãi lãi suất đối với các khu vực kinh tế được
Chinh phủ khuyến khích theo thông tư này, bao gồm: Cho vay hỗ trợ xuất khẩu, cho vay
doanh nghiệp nhỏ & vừa, cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và cho vay
công nghiệp hỗ trợ (với cơ cấu khoảng hơn 30%) với mức lãi suất ưu đãi 17- 18%, cho vay
phi sản xuất được hạn chế ở mức 8,5% tổng dư nợ theo đúng định hướng Chính Phủ năm
2011 (khống chế 16%).
Để chủ động cân đối vốn kinh doanh, NHCT chú trọng tăng trưởng dư nợ ngắn hạn
(chiếm hơn 60% tổng dư nợ) và kiểm soát chặt chẽ cho vay ngoại tệ theo quy định của
NHNN (cơ cấu dư nợ ngoại tệ duy trì khoảng 18,4%). Chất lượng cho vay được kiểm soát
tốt, nợ xấu chiếm tỷ lệ thấp, ở mức 0,75% tổng dư nợ. Toàn hệ thống có 14 chi nhánh