Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.
Ví dụ như hiện nay do chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam
nên có nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất tiền gửi lên tới 12%/ năm, đây là mức
lãi suất được xem là tương đối cao, tuy nhiên có lẽ là chưa dừng lại ở mức
này.
Cho vay: gồm có cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ
cho dự án.
Ngày nay, khi mà thị trường tài chính ngày càng phát triển thì Ngân
hàng thương mại trở thành một trung gian tài chính không thể thiếu trong nền
kinh tế. Sự cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt thúc đẩy các ngân hàng
cung cấp các tiện ích ngày càng tốt hơn cho khách hàng. Vì thế, các ngân
hàng trong nước cần phải áp dụng công nghệ mới, thay đổi tư duy về tuyển
dụng nhân sự, mức lương, quảng cáo và đặc biệt chú ý tới chất lượng các dịch
vụ.
Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu như: là trung gian tài
chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán.
• Là trung gian tài chính: đây là chức năng quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Trong xã hội có những người thừa tiền(tức là thu nhập của
họ hiện tại lớn hơn các khoản chi cho tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, và do đó
có tiền để tiết kiệm) và cũng có những người thiếu tiền(tức là thu nhập không
đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu và đầu tư nên cần được bổ sung vốn) những
người thừa tiền tìm đến ngân hàng gửi tiền tiết kiệm nhằm để lấy tiền lãi còn
những người thiếu tiền lại tìm đến ngân hàng nhằm vay thêm vốn để đầu tư.
Vì thế, ngân hàng tập hợp được những người cần tiết kiệm và những người
cần vốn để đầu tư, tức là ngân hàng chuyển tiết kiệm thành đầu tư.
• Tạo phương tiện thanh toán: Tiền- vàng có một chức năng quan trọng
là làm phương tiện thanh toán. Ban đầu, các ngân hàng đã tạo ra phương tiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm
giữa. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim
loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữa, nó trở thành tiền
giấy. Mỗi quốc gia có loại tiền riêng ví dụ như Việt Nam có tiền VND, Mỹ có
đồng USD. Ngày nay, tiến bộ khoa học phát triển với những ứng dụng hiện
đại thì tiền mặt đã ngày càng được hạn chế vì những nhược điểm của nó thay
vào đó là nhiều hình thức thanh toán mới như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm
thu, nhờ chi, các loại thẻ…
• Là trung gian thanh toán: Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán
lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.Thay mặt khách hàng, ngân hàng
thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Ngoài ra, các ngân hàng còn
thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc
các trung gian thanh toán khác.Với nhiều hình thức thanh toán khác nhau và
ngày càng hiện đại đã góp phần làm cho ngân hàng trở thành trung tâm thanh
toán quan trọng và hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.2 Tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và
của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài
sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới hình
thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho
thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy, nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà còn có
ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phí nhất định. Ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hoàn thành
nguồn vốn cho vay. Mặt khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng
cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
của các chủ thể kinh tế góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng
máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy, ngân hàng vừa là
người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của
ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay. Khi thiết lập một quan hệ tín
dụng phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc đó là : có thời hạn, có hoàn trả và có đền
bù. Trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, hai bên thoả thuận
với nhau một thời hạn nợ và mức nợ, do đó hình thức của tín dụng là di
chuyển vốn vay từ ngân hàng sáng cho khách hàng nhưng không phải là sự
chuyển đổi về quyền sở hữu vốn, sự chuyển nhượng này chỉ chuyển quyền sử
dụng vồn từ ngân hàng sáng cho khách hàng. Sau khi đến hạn thoả thuận,
khách hàng hoàn trả khoản vốn đó cho ngân hàng kèm theo một tỷ lệ % tiền
lãi. Khi thiết lập quan hệ tín dụng của khách hàng mối quan tâm lớn nhất của
ngân hàng là khoản tín dụng đó có đem lại lợi nhuận cho ngân hang hay
không, khách hàng có trả được nợ đúng hạn hay không? Chính vì thế, để thiết
lập một mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng là phải dựa trên
khả năng tài chính của khách hàng, dựa trên lòng tin, sự tin tưỏng của ngân
hàng về khả năng hoàn trả nợ đúng hạn của khách hàng.
Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá
nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
i. cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ii. cho vay trung han, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
1.1.2.2 Phân loại tín dụng
Có nhiều cách phân loại tín dụng theo những tiêu thức khác nhau, sau
đây là một số cách phân loại.
Căn cứ theo phương thức cho vay.
Theo tiêu thức này, tín dụng Ngân hàng được chia thành một số loại sau đây:
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Đây là hình thức cho vay mà tổ chức
tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền
có trên tài khoản thanh toán của khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác
định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian xác
định.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức cam kết bảo đảm
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín
dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng
thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng .
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ
chức cấp tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín
dụng.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng
khác.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác
định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để
trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn cho vay.
Căn cứ vào thời gian cho vay.
Thời gian cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt
đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
- Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới
1 năm và thường được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và
khả năng trả nợ của khách hàng.
- Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn ở Việt Nam có thời hạn từ 1
đến 5 năm, còn đối với một số nước trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn
đến 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ mà thời gian thu hồi vốn
nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Loại tín dụng này có thời hạn cho vay trên 5 năm
(Việt Nam), hay trên 7 năm (đối với một số nước trên thế giới). Tín dụng dài
hạn được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: đầu tư xây dựng các
xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân
bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Căn cứ vào đối tượng cho vay
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp để hình thành vốn cố
định. Loại tín dụng này thường dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải
tiến và đổi mới kỹ thuật, công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí
nghiệp và công trình mới. Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này trên 12
tháng.
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cấp để bổ sung vốn lưu
động cho các tổ chức kinh tế, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh
doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hoá dự trữ, chi cho các chi phí sản xuất,
cho vay để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tín dụng vốn lưu động thường
được sử dụng để bù đắp mức vốn lưu động tạm thời thiếu hụt. Thời gian cho
vay vốn ngắn hạn thường dưới 12 tháng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cung cấp cho các cá nhân để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, các hàng hoá
tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng được cấp phát dưới hình thức cho vay bằng
tiền hoặc dưới hình thức bán chịu hàng hoá.
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các
chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá.
Phân loại theo thành phần kinh tế
Theo thành phần kinh tế, ta có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước.
- Cho vay kinh tế tập thể.
- Cho vay kinh tế tư nhân.
- Cho vay kinh tế cá thể.
- Cho vay kinh tế hỗn hợp.
Trước đây kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo tuy nhiên hiện nay do sự
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phát triển của nền kinh tế, đã có rất nhiều doanh nghiệp đã được cổ phần hoá
nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Nhà nước đã có chính sách khác nhau
đối với từng khu vực kinh tế, có tác động lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp
tín dụng ngân hàng tới các thành phần kinh tế nói chung. Mặt khác, mỗi thành
phần kinh tế lại có những đặc điểm riêng biệt nên ngân hàng cần phải có thái
độ khác nhau khi cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế này vay vốn.
1.1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân
Thứ nhất, nó có vai trò là góp phần thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp liên kết, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Đồng thời tín dụng
ngân hàng còn đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết cho các doanh nghiệp và cá
nhân để duy trì quá trình sản xuất được liên tục, góp phần điều hoà vốn trong
toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản
xuất, lưu thông hàng hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ cũng không thể
tách khỏi sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng. Nó là cầu nối giữa tiết kiệm và
đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là nhu cầu tiết kiệm vốn cho
đầu tư phát triển.
Hai là: Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Là trung gian tài chính, hoạt động chính của ngân hàng là tập trung vốn,
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi còn phân tán ở mọi tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh
tế và các doanh nghiệp trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế, thực hiện
tái sản xuất mở rộng, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại, nâng
cao năng suất và hiệu quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá tiêu dùng nội
địa và xuất khẩu.
Tín dụng Ngân hàng trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất giúp các
nhà sản xuất kinh doanh cạnh tranh trên thị trường một cách có hiệu quả nhất.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ba là: Tín dụng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, các ngành
kinh tế kém phát triển và các nghành mũi nhọn, thực hiện mục tiêu xoá đói
giảm nghèo và các chương trình dự án mang tính chất xã hội khác.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân
đối, lạm phát và thất nghiệp luôn có khả năng tiềm ẩn. Bên cạnh đó, nông
nghiệp lại là ngành sản xuất chính, thu nhập bình quân đầu người thấp. Vì
vậy, muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết nạn thất nghiệp
không phải chỉ dựa vào quỹ ngân sách nhà nước hoặc trông chờ vào các khả
năng góp vốn của nước ngoài. Tín dụng Ngân hàng thực sự giữ vai trò quan
trọng trong việc đầu tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế xã hội. Song song với
việc tài trợ cho các nền kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng kinh tế lớn như sản
xuất, hàng xuất khẩu, hàng mỹ nghệ, khai thác dầu khí…
Bốn là: Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản
xuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và tạo điều kiện để phát
triển trên các quan hệ kinh tế đối với nước ngoài.
Ngân hàng tập trung vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trường
tiêu thụ cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và uy tín. Tín dụng ngân
hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích luỹ vốn, tạo cho các
doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước
ngoài. Vì trong điều kiện kinh tế hiện nay, phát triển kinh tế của một nước
được gắn liền với thị trường thế giới. Điều đó đồng nghĩa với việc tín dụng
ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các
nước với nhau.
Năm là: Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, nhà nước có thể kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện
pháp, chính sách quản lý kinh tế và pháp lý phù hợp. Đồng thời điều chỉnh cơ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cấu kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách
về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho vay
khác cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định hướng phát
triển kinh tế của nhà nước.
1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Rủi ro của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc
biệt – hàng hoá là tiền tệ. Vì thế, nó tồn tại nhiều rủi ro. Rủi ro là những tổn
thất có thể xảy ra ngoài dự kiến.
Phân chia rủi ro theo loại tài sản gồm có: rủi ro trong quản lý và kinh
doanh ngân quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng
khoán, rủi ro trong cho thuê và rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng.
Phân chia theo nguyên nhân – các nhân tố tác động, gồm có rủi ro do
người vay không trả nợ cho ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro do
thay đổi tỷ giá, rủi ro do các nguyên nhân khác.
Sau đây là các loại rủi ro phổ biến như:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả
đầy đủ cả vốn và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng, ngân hàng
không dự kiến là khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản vay đó
luôn hàm chứa rủi ro.
Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến của ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi ngoài dự tính. Trong cơ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chế thị trường, tỷ giá thường xuyên thay đổi. Có những thay đổi có thể dẫn
đến tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến gắn với
thay đổi lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kì hạn của tài sản và
nguồn, quy mô và kì hạn các hợp đồng kì hạn…
Nguyên nhân rủi ro lãi suất là
Sự không phù hợp về kì hạn của nguồn và tài sản.
Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng
Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng.
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường quan trọng, đặc biệt trong
điều kiện lãi suất thường xuyên thay đổi. Vì thế cần phải hạn chế rủi ro lãi
suất bằng các biện pháp như: duy trì sự phù hợp về kì hạn của nguồn và tài
sản, thực hiện trao đổi lãi suất, áp dụng lãi suất thả nổi, sử dụng các hợp đồng
kì hạn…
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến
làm tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng
mất khả năng thanh toán
Các rủi ro khác
Các rủi ro khác là khả nằng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong
thanh toán, hoản loạn, lỗi công nghệ…
1.2.2 Rủi ro tín dụng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét