Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN BẮC HẢI DƯƠNG

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

NHTM CP Ngân hàng thương mại cổ
phần
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
TCTD Tổ chức tín dụng
TCTK Tổ chức kinh tế
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
SXKD Sản xuất kinh doanh

5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Danh mục các bảng số liệu

Trang
Bảng 2.1: Mức lãi suất VNĐ của một số NHTM trên địa bàn……………….23
Bảng 2.2: Mức lãi suất USD của một số NHTM trên địa bàn……………… 24
Bảng 2.3:Vốn chủ sở hữu Chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát
triển Bắc Hải Dương (tỷ VND)………………………………………………25
Bảng 2.4: Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tại thời điểm
31/12/2009 của BIDV theo Quyết định của NHNN………………………….26.
Bảng 2.5 : Chỉ tiêu ROE của BIDV Bắc Hải Dương 2004-2009…………….27
Bảng 2.6: Chỉ tiêu ROA của BIDV Bắc Hải Dương từ 2004- 2009…………28
Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn của BIDV- Bắc Hải Dương theo
nguồn huy động vốn………………………………………………………….29
Bảng 2.8: Tình hình dư nợ và tốc độ tăng trưởng tín dụng BIDV-Bắc
Hải Dương 2003-2009……………………………………………………… 30
Bảng 2.9: Mô hình tổ chức BIDV- Bắc Hải Dương………………………….36

6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

LỜI MỞ ĐẦU
Qua 24 năm đổi mới và hội nhập, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày
càng tăng, đặc biệt từ khi VN là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới
(WTO), quá trình đổi mới ngày càng toàn diện hơn, rõ nét hơn, đầy đủ hơn và tốc độ
càng nhanh hơn,cùng với sự phát triển của cả nước, hệ thống Ngân hàng (NH) đã thay
đổi cơ bản, nhất là việc hình thành hệ thống NH 02 cấp, phân định rõ chức năng quản lý
nhà nước của NHNN và chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng - NH của các TCTD, hoạt
động của các NH đã góp phần tích cực trong kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, góp phần vào việc đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa –hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó, hoạt động của hệ thống NH trong những năm qua, vẫn còn một số
hạn chế “ Hệ thống chính sách, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng chưa đáp
ứng được yêu cầu đổi mới triệt để…, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của hệ
thống ngân hàng Việt Nam còn yếu…” ( trích phát biểu của Thủ Tướng Phan Văn Khải
tại buổi lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập ngành NH Việt Nam) , ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng hoạt động của ngành NH. Trong đàm phán về Việt Nam gia nhập WTO,
lĩnh vực hoạt động tài chính – NH là một trong những lĩnh vực được cam kết mở cửa
mạnh mẽ trong thời gian tới, các NH nước ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam,
được đối xử ngang bằng theo nguyên tắc tối huệ quốc của WTO.Khi đó các NH Việt
Nam sẽ gặp những đối thủ mạnh ( về thương hiệu, vốn, công nghệ, nhân lực, kinh
nghiệm sản phẩm…) tại thị trường Việt Nam.Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính
vừa qua thì việc quyết định liệu các ngân hàng Việt Nam có trụ vững được hay không?
Đây là một bài toán không đơn giản đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam nói chung và các
ngân hàng nói riêng.Ngay lúc này đây các NH Việt Nam cần chuẩn bị tốt để đối mặt với
các đối thủ này, trong đó Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển chi nhánh Bắc Hải Dương
(BIDV Bắc Hải Dương) cũng cần có chiến lược cụ thể rõ ràng để xác định vị thế của
mình trong xu hướng hội nhập.
Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế kế hoạch,với kỳ vọng hoạt động BIDV
Bắc Hải Dương ngày càng hiệu quả trên địa bàn, góp phần vào sự tăng trưởng ổn định,
bền vững lâu dài của ngành và của nền kinh tế, nên em đã chọn đề tài :” NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN BẮC HẢI DƯƠNG ”để nghiên cứu làm đề tài thực thập cuối khóa cho
mình.
Bài thực tập của em được chia làm 03 chương:
Chương I: Cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng
Chương II: Thực trạng năng lực canh tranh của chi nhánh ngân hàng Đầu Tư và
Phát Triển Bắc Hải Dương.
Chương III: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh ngân hàng
Đầu Tư và Phát Triển Bắc Hải Dương.

7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Do thời gian thực tập hạn chế, sự hiểu biết về thực tế chưa nhiều, trình độ lý luận
không cao nên bài thực tập cuối khóa không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, em rất mong sự
đóng góp ý kiến của thầy cô, các anh chị cán bộ Ngân hàng, và các bạn để bài thực tâp
của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Kế
hoạch và phát triển, đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Tiến Dũng là thầy giáo trực tiếp hướng
dẫn chuyên đề thực tập của em, và các anh chị cán bộ Ngân hàng BIDV Bắc Hải Dương
đã giúp đỡ em hoàn thành khóa thực tập và hoàn thành bài thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn!

8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Chương I
Cạnh tranh trong kinh doanh Ngân hàng
1.1 Lý luận chung về cạnh tranh
1.1.1Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh trong một doanh nghiệp,một ngành,một quốc gia là mức độ mà trong
đó các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng
hóa dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng
cao thu nhập thực tế.
Một doanh nghiệp được xem là có sức cạnh tranh khi nó có thể thường xuyên đưa
ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các sản phẩm
cùng loại, hoặc cùng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất
lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn.
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với
các đối thủ cạnh tranh.Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn đối
thủ cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp thể hiển ở hai khía cạnh sau:
- Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được.Doanh
nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp.Chi phí thấp mang lại cho doanh nghiệp tỉ lệ lợi nhuận cao
hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các lực lượng cạnh tranh
mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa: là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xung quanh
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường.Những khác biệt này có
thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản
phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng lưới bán hàng.
1.1.3 Các yếu tố góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp
Lợi thế cạnh tranh là một trong những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc có thể
huy động để có thể cạnh tranh thắng lợi.Để có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, các doanh
nghiệp cần nghiên cứu các yếu tố sau:
- Nguồn gốc sự khác biệt: So với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có gì vượt trội
hơn về mặt giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản phẩm dịch
vụ, mạng lưới phân phối.
- Thế mạnh của doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nhà xưởng trang thiết bị kỹ thuật.
- Khả năng phát triển sản phẩm mới,đổi mới dây chuyền công nghệ, hệ thống
phân phối.
- Chất lượng của sản phẩm.

9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

- Khả năng đối ngoại: Khả năng liên kết với các doanh nghiệp khác hoặc liên
doanh với nước ngoài, hoặc sử dụng sự trợ giúp của tổ chức trong cạnh tranh.
- Khả năng tài chính: Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí, huy
động vốn và thanh toán các nghĩa vụ tài chính.
- Sự thích nghi của tổ chức: Sự mềm dẻo của tổ chức để thích ứng với sự thay đổi
của môi trường. Sự thích nghi của hệ thống quyền lực,lãnh đạo và tổ chức hành chính
trong lĩnh vực hoạt động.
- Khả năng tiếp thị: Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào việc cố gắng cung
cấp nhiều giá trị hơn cho khách hàng, phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch
vụ, phục vụ và phân phối sản phẩm.
1.2 Cạnh tranh trong kinh doanh Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng về cạnh tranh của NHTM
Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so
sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác, là nỗ lực hoạt
động dồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách hàng những sản
phẩm dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻ nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt
lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy.
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM trong
kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt.Tuy nhiên so với sự cạnh tranh
của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc trưng nhất định.
Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với
nhau trong một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm.
Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh
xảy ra rủi ro hệ thống.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của Ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia hoặc của khu vực.
Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài ngân
hàng nhu môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ
sở…
Năm là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của thị
trường tài chính quốc tế.
1.2.2 Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của các NHTM
* Các nhân tố khách quan
- Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường
Các NHTM mới tham gia thị trường với những lợi thế quan trọng như:
+ Mở ra những tiềm năng mới
+ Có động cơ và ước vọng giành được thị phần
+ Đã tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động
+ Có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường….

10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Như vậy, bất kể thực lực của NHTM mới là thế nào, thì các NHTM hiện tại đã
thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những
kế sách và sức mạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể có thong tin và chiến lược ứng
phó.
- Tác nhân là các NHTM hiện tại
Đây là những mối lo thường trực của các NHTM trong kinh doanh.Đối thủ cạnh
tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh của NHTM trong tương lai.
Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải thường xuyên
đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh
tranh.
- Tác nhân là sức ép từ phía khách hàng
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá nhân,
tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dung, thậm chí là các ngân hàng khác cũng đều có
thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch
vụ cho ngân hàng.Những người bán sản phẩm thong qua hình thức gửi tiền, lập tài
khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn;
trong khi đó những người mua sản phẩm ( vay vốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi
phí vay vốn nhỏ hơn thực tế.Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa
hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách hàng cũng như có được
nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể.
- Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM
khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do
các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng những sản phẩm
mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội lựa chọn đa dạng hơn, thị
trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát
triển của các NHTM, suy giảm thị phần.
Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyện trong
cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các cú sốc
của nền kinh tế.
* Các nhân tố chủ quan
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các
NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng ảnh
hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:
+ Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng
+ Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM
+ Công nghệ cung ứng dich vụ ngân hàng
+ Chất lượng nhân viên
+ Cấu trúc tổ chức
+ Danh tiếng và uy tín của NHTM

11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của NHTM cũng là
nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Cụ
thể:
- Tác nhân về đặc điểm sản phẩm
Cạnh tranh trong kinh doanh của NHTM bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt động
kinh doanh của nó. Sản phẩm chính sử dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM là
tiền, đó là loại sản phẩm có tính chất xã hội và có tính nhạy cảm cao, chỉ một biến động
nhỏ ( thay đổi lãi suất) cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh của các
NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nói chung. Từ đặc điểm này dẫn đến cạnh
tranh giữa các NHTM ngày càng trở nên quyết liệt.Có nghĩa là, chính vì sản phẩm kinh
doanh có tính nhạy cảm cao đã làm tăng tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của
NHTM.
- Tác nhân về đặc điểm khách hàng
Khách hàng của NHTM không phải là khách hàng luôn “ trung thành” mà rất dễ
bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch. Mức độ trung thành của khách hàng phụ thuộc
vào sự đối xử của NHTM với họ, mà cao nhất là lợi ích trực tiếp thu được từ quan hệ
giao dich với ngân hàng.Khách hàng có thể ngay lập tức thay đổi quan hệ với ngân hàng
để tìm mối lợi lớn hơn nếu họ biết rằng mức lãi mà họ nhận được cao ( nếu là sản phẩm
bán) và mức lãi suất thấp ( nếu là sản phẩm mua) so với ngân hàng họ quan hệ. Như vậy,
sự cạnh tranh của ngân hàng cũng được nhân lên do đặc điểm khách hàng rất dễ thay đổi
quan hệ với ngân hàng.Các đặc điểm nêu trên được coi là nhân tố về phía NHTM tạo
nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng.
1.2.3 Các nội dung về cạnh tranh trong kinh doanh của các NHTM
* Cạnh tranh bằng chất lượng
Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển như
vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của
người tiêu dung và đặt nhà kinh doanh trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì thế,
việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải thỏa mãn cao nhất những yêu cầu đòi hỏi
từ phía khách hàng.
Theo quan niệm của khách hàng, một sản phẩm ngân hàng có chất lượng phải đáp
ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn của khách hàng, đem lại cho khách
hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích. Do vậy, khi đánh giá một sản phẩm ngân hàng có
chất lượng, khách hàng thường dựa vào các tiêu chí sau:
- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ít và
đơn giản;
- Tốc độ xử lý nhanh;
- Mức độ chính xác cao;
- Hiệu quả đem lại cho khách hàng lớn;
- Thái độ phục vụ tốt;
- Trình độ công nghệ hiện đại.

12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Thực tế, trên thị trường ngày càng có nhiều ngân hàng cung ứng sản phẩm dịch
vụ cho khách hàng. Vì vậy khách hàng có sự so sánh, đánh giá và quyết định lựa chọn
ngân hàng có sản phẩm chất lượng cao.Thậm chí khách hàng thay đổi quan hệ từ ngân
hàng có sản phẩm chất lượng kém sang ngân hàng có sản phẩm chất lượng tốt.
Đối với NHTM, để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thật tốt cơ sở hạ
tầng hiện đại, nguồn nhân lực bên cạnh việc kết hợp chiến lược thị phần, chiến lược kinh
doanh phù hợp.Chỉ có như vậy, các sản phẩm dịch vụ mà NHTM cung cấp mới đáp ứng
đúng và đầy đủ,kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng.
Cơ sở hạ tầng hiện đại
Cơ sơ hạ tầng hiện đại bao gồm cả việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và các
phương thức kỹ năng nghiệp vụ ngân hàng tiên tiến nhằm phục vụ cho khách hàng kịp
thời, nhanh chóng và chính xác nhất.Chỉ trên cơ sở kỹ thuật công nghệ hiện đại mới cho
phép tạo ra những bước phát triển đột phá và nổi bật trong sản phẩm dịch vụ ngân hành,
tạo ra tiện ích tối đa cho khách hàng, công nghệ giúp cho các NHTM giảm chi phí, giảm
thời gian, giảm thời gian giao dịch, tăng độ an toàn cho khách hành, từ đó nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Nguồn nhân lực
Ngân hàng thuộc ngành kinh doanh dịch vụ, vì vậy, có thể nói nguồn nhân lực là
nhân tố rất quan trọng tạo nên chất lượng sản phẩm của các NHTM trong quá trình hoạt
động, cụ thể:
- Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính
là một “ hiện hữu” chủ yếu của sản phẩm dịch vụ, có thể làm tăng thêm giá trị của sản
phẩm dịch vụ cũng như làm giảm đi,thậm chí làm hỏng giá trị sản phẩm dịch vụ.
- Đa số các ý tưởng cải tiến sản phẩm dịch vụ hoặc cung ứng sản phẩm dịch vụ
được đề xuất từ các hoạt động thực tiễn của nhân viên.
- Nhân viên là lực lượng chủ yếu chuyển tải thông tin tín hiệu từ thị trường, từ
khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách cho ngân hàng.
Chiến lược thị trường
Nghiên cứu thị trường, phân tích những biến động, thị hiếu và nhu cầu khách
hàng từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sự khác biệt hóa trong sản phẩm ngân
hàng từ đó giúp ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều khách hàng.
Chiến lược kinh doanh
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, các NHTM phải quản lý
ngân hàng theo tư duy chiến lược để ban lãnh đạo ngân hàng sẽ luôn ở thế chủ động,
không lung túng khi môi trường kinh doanh thay đổi, đồng thời kết hợp hài hòa và phát
huy tối đa sức mạnh của tất cả các nguồn lực, sử dụng các nguồn lực ngân hàng một
cách hiệu quả nhất góp phần tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
* Cạnh tranh bằng giá cả

13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đối với quyết
định của khách hàng. Đối với NHTM. Giá cả chính là lãi suất và mức phí áp dụng cho
các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng của mình.
Trong việc xác định mức lãi suất và phí, các NHTM luôn đối mặt với những mâu
thuẫn: Nếu như NHTM quan tâm đến khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần, thì cần
phải đưa ra các mức lãi suất và phí ưu đãi cho các khách hàng.Tuy nhiên, điều này sẽ
làm giảm thu nhập của NHTM, thậm chí có thể khiến ngân hàng bị lỗ.Song nếu NHTM
chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãi suất và phí sao cho đáp ứng được mục
tiêu tăng thu nhập và điều này có thể dẫn đến làm cho ngân hàng sẽ bị mất khách hàng,
giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suy cho cùng thì ngân hàng luôn quan tâm đến mục
tiêu tối thượng trong kinh doanh nên thương trường làm tối đa hóa lợi nhuận.Điều này
có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất vì nó
làm giảm bớt lợi nhuận của các NHTM.
* Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh
doanh.Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú
ý và thu hút khách hàng.
Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác và kịp thời nhu cầu của
khách hàng, qua đó, ngân hàng chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện sản phẩm dịch
vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
Để cạnh tranh bằng hệ thống phân phối NHTM phải thực hiện tốt chiến lược
Marketing kết hợp với việc tổ chức mạng lưới.
Tổ chức mạng lưới
Để tạo sự thuận tiện cho khách hàng ở khắp mọi nơi, NHTM cần có một tổ chức
mạng lưới rộng khắp ở các vùng kinh tế chiến lược trong nước, các vị trí thuận lợi ở
nước ngoài.Tuy nhiên việc mở rộng mạng lưới là cần thiết, nhưng cần chọn nơi hội đủ
điều kiện có lợi cho hệ thống, nếu không sẽ gây trở ngại về vốn cũng như nhân lực, tăng
chi phí và giảm lợi nhuận cho ngân hàng.
Chiến lược Marketing
Để có thể đưa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng một cách tốt nhất,
NHTM phải xây dựng tốt chiến lược Marketing bao gồm:
- Quảng bá thương hiệu;
- Tiếp thị và xúc tiến thương mại;
- Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến;
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh;
- Phát triển sản phẩm dịch vụ gắn với phát triển thị trường
Để mở rộng thị phần bán lẻ, các ngân hàng phát triển các hình thức phân phối
cùng nhiều tiện ích;
- Kênh phân phối truyền thông

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét