Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự": http://123doc.vn/document/569762-quyen-hien-bo-phan-co-the-cua-ca-nhan-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su.htm




Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy
định của Bộ Luật dân sự


Lê Hương Trà

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS. Phùng Trung Tập
Năm bảo vệ: 2008


Abstract: Khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể cá nhân (BPCTCN) ở một số
nước trên thế giới, khái niệm quyền hiến BPCTCN và tiến trình phát triển những quy
định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân. Trình bày các
yếu tố của quyền hiến BPCTCN gồm: chủ thể của quan hệ hiến và đối tượng của quan hệ
hiến. Nội dung quan hệ hiến BPCTCN: quyền của bên hiến BPCTCN và điều kiện hiến;
quyền của bên nhận BPCTCN và điều kiện nhận; hình thức, thủ tục tiến hành hiến; điều
kiện đối với cơ sở y tế, ghép mô, bộ phận cơ thể người; các hành vi nghiêm cấm; trách
nhiệm pháp lý và xử phạt vi phạm. Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền
BPCTCN. Nêu những vấn đề bất cập của pháp luật liên quan đến quyền hiến BPCTCN
hiện nay. Đề xuất hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về hiến BPCTCN

Keywords: Luật dân sự; Pháp luật Việt Nam; Quyền hiến bộ phận cơ thể


Content
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo xu huớng phát triển của thế giới, các nước liên kết với nhau trên tất cả các lĩnh vực
để phát triển đất nước ngày một hoàn thiện hơn. Hội nhập kinh tế, quốc tế trên phạm vi khu vực
và toàn cầu nhất là vấn đề gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đã giúp cho tất cả các nước
khác nhau trên thế giới có điều kiện tăng trưởng và phát triển. Sự liên kết đã tạo nên sự bền vững
trong tất cả các lĩnh vực trong xã hội về văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục, pháp luật, công
nghệ sinh học, khoa học ngành y…Khoa học ngành y đã thực sự phát triển mạnh mẽ trong việc
tìm tòi khám phá ra các phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể con người, cứu sống rất nhiều
bệnh nhân với chất lượng cuộc sống rất tốt. Để các phương pháp chữa bệnh mới được thực hiện
một cách có hiệu quả trong cuộc sống cần có quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Vì vậy, đa số
các nước phát triển trên thế giới đã ban hành pháp luật để điều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực khoa


học ngành y, quy chế pháp lý càng chặt chẽ, hoàn chỉnh, đúng đắn, kịp thời sẽ tạo nguồn lực
quan trọng, góp phần định hướng phát triển cho một công nghệ y sinh học của các nước trên thế
giới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện mình về kinh tế, pháp luật, xã hội, văn hóa, y
tế để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn nhân loại. Sau thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường vì vậy điều kiện kinh tế xã hội của đất nước
ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của mỗi một người dân về điều kiện sống, nhu cầu
của người dân ngày càng tăng, quyền của mỗi một cá nhân cần được pháp luật bảo hộ càng cao,
các quan niệm về chính trị, đạo đức, xã hội, công nghệ…của người dân cũng có nhiều thay đổi
theo hướng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Công nghệ sinh học ở Việt Nam cũng đang từng bước
bắt kịp với thế giới, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng tự hào, đặc biệt là kỹ thuật y
học. Trong đó, việc cho-nhận, cấy ghép các bộ phận cơ thể là một trong những thành tựu xứng
đáng được tự hào, rất nhiều cuộc phẫu thuật cấy, ghép bộ phận cơ thể người đã được thực hiện
rất thành công. Theo điều tra xã hội học cho thấy số người bị bệnh gan, tim, thận, phổi…cần phải
thực hiện phẫu thuật cấy, ghép ở Việt Nam lên tới con số hàng trăm, hàng nghìn. Đây là nhu cầu
rất khẩn thiết của những con người đang bị bệnh tật dày vò. Tìm kiếm bộ phận cơ thể để cấy,
ghép cũng là một điều rất khó khăn vì ngoài vấn đề hiến bộ phận cơ thể người của cá nhân được
đặt ra để cứu giúp những người trong thời kỳ bệnh tật rất quan trọng. Đồng hành với sự phát
triển kỹ thuật y học hiện đại, quy chế pháp lý để kiểm soát nó cùng các hoạt động trực tiếp liên
quan cũng dần được xây dựng và đang từng bước cố gắng hoàn thiện của Việt Nam cũng càng
ngày càng phát triển. Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực này trong Luật bảo
vệ sức khoẻ nhân dân 1989 với quy định cho và ghép các bộ phận cơ thể người (Điều 30) đã cho
phép các cơ sở y tế có thể có một căn cứ pháp lý để thực hiện chức phận thầy thuốc cứu người
của mình. Cho đến nay BLDS 2005 (Điều 33) đã chính thức ghi nhận quyền năng của các chủ
thể trong vấn đề này với tư cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận. Đây là cơ sở pháp lý
mang tính tiền đề cho việc xây dựng và phát triển hoàn thiện quy chế pháp lý về cho, lấy, cấy,
ghép bộ phận cơ thể người trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội phát triển
mới của y học Việt Nam. Quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ mang tính nguyên tắc và
những quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và
hiến, lấy xác năm 2006 nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc áp dụng những kỹ thuật y
học tiến bộ này trong đời sống xã hội. Pháp luật quy định chặt chẽ vấn đề này vừa phù hợp với
đạo đức, truyền thống, văn hóa, vừa đảm bảo quyền của cá nhân được Nhà nước bảo hộ. Quyền
hiến bộ phận cơ thể nguời của cá nhân là quyền nhân thân thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với
các bộ phận trên cơ thể mình. Việc hiến bộ phận cơ thể người được thực hiện một cách đúng đắn


sẽ có ý nghĩa tiến bộ và nhân đạo sâu sắc, góp phần vào sự phát triển của y học và khoa học vì
con người.
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là rất quan trọng để đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của mỗi một cá nhân trong xã hội, đảm bảo các điều luật được ban hành trong
Bộ luật dân sự được thực thi có hiệu quả cao. Tôi đã chọn đề tài “Quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân theo Bộ luật dân sự 2005” để nghiên cứu, tìm hiểu giúp bạn đọc có thể hiểu hơn về
quyền được hiến bộ phận cơ thể của mỗi một cá nhân trong xã hội, thực trạng hiến, lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người ở Việt Nam cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này,
góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam trong hoạt động hiến, lấy, ghép bộ
phận cơ thể người.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể đã được thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế
giới từ rất lâu, đến nay đã rất phổ biến, đây là phương pháp điều trị mang lại cuộc sống cho rất
nhiều người bệnh nên có ý nghĩa nhân đạo rất sâu sắc. ở Việt Nam, nhu cầu được ghép là rất lớn
và ngày càng gia tăng, tuy nhiên nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người để đáp ứng nhu cầu được
ghép lại rất khan hiếm khiến nhiều người bệnh phải ra nước ngoài để ghép trong khi chi phí cho
một cuộc phẫu thuật ở nước ngoài lại rất cao. Kỹ thuật y khoa, trình độ y bác sỹ của Việt Nam đã
phát triển đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật cấy ghép bộ phận cơ thể người nhưng tại sao người
bệnh vẫn phải ra nước ngoài để ghép, tại sao dân số Việt Nam rất đông mà bộ phận cơ thể người
để cứu sống bệnh nhân lại rất khan hiếm?
Vì vậy, mục đích nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu về các yếu tố của quyền hiến bộ
phận cơ thể của cá nhân, Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, pháp luật chuyên ngành quy định như
thế nào về vấn đề này? thực trạng hiến bộ phận cơ thể của cá nhân được thực hiện tại Việt Nam
ra sao? So với một số nước trên thế giới việc hiến bộ phận cơ thể của cá nhân có phát triển
không? có thua kém hay tụt hậu gì so với các nước trong khu vực và trên thế giới không? qua đó
đề ra hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật để đạt hiệu quả cao mà không vi phạm đạo
đức, phong tục tập quán của người Việt Nam và đề xuất những quy định của pháp luật cho phù
hợp với thực tế và xu hướng phát triển của y học Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định
của Bộ luật dân sự 2005” là:
- Quy định của một số nước trên thế giới về quyền hiến bộ phận cơ thể;
- Tiến trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ
thể;
- Các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân;


- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể;
- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể.
Hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể là một lĩnh vực rất rộng vừa liên quan đến y học vừa liên
quan đến pháp luật. Tuy nhiên trong Luận văn này chỉ nghiên cứu đến khía cạnh pháp lý về
quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam từ trước cho đến
nay. Để các quy định về hiến bộ phận cơ thể được thực thi có hiệu quả trong thực tế Luận văn đã
nghiên cứu, phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật và đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiến bộ phận cơ thể là một việc làm nhân đạo đã cứu sống rất nhiều người bệnh. Nhận
thức được tầm quan trọng của hoạt động hiến bộ phận cơ thể, pháp luật của một số nước trong
khu vực và trên thế giới cũng đã quy định vấn đề này thành Luật riêng và quy định cụ thể trong
pháp luật chuyên ngành như Pháp, Hoa kỳ, Nhật, Singapore, Trung Quốc Do đó đã có rất nhiều
bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo thảo luận về vấn đề này.
Hiến bộ phận cơ thể là vấn đề bức thiết để chữa bệnh cho bệnh nhân thoát khỏi hiểm
nghèo, tuy nhiên ở Việt Nam đây là vấn đề mới có tính nhạy cảm cao liên quan đến phong tục
tập quán của người á Đông nên các đề tài nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này còn rất ít. Trong
ngành y học đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về vấn đề ghép mô, thận,
tạng thực nghiệm cho những người bị bệnh mạn tính ở giai đoạn cuối như đề tài : Nghiên cứu
một số vấn đề về ghép gan để tiến hành ghép gan trên người tại Việt Nam, đề tài cấp nhà nước
của Học Viện Quân Y năm 2005 hay bài giảng tại Học viện Quân Y của Đỗ Tất Cường và Cộng
sự : Ghép tạng, ghép thận và hồi sức điều trị sau ghép năm 2002.
Về lĩnh vực pháp luật, hiến bộ phận cơ thể tuy là vấn đề cấp thiết nhưng nó mới được quy
định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật dân sự 2005 và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 nên có rất ít người nghiên cứu, tìm hiểu về vấn
đề này. Tuy nhiên, cũng có một số bài viết đề cập về vấn đề này như:
- Luận văn thạc sỹ: Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định
trong Bộ luật dân sự 2005 của Lê Thị Hoa, tháng 12/2006;
- Bài viết của Tiến sỹ Phùng Trung Tập về quyền hiến bộ phận cơ thể hoặc hiến xác sau
khi chết đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 5 tháng 3/2005;
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Minh Du trường Đại học Luật Hà Nội về quyền hiến
bộ phận cơ thể theo quy định của Bộ luật dân sự, 2005 tháng 5/ 2006;


- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Thu Trang trường Đại học Luật Hà Nội về Luật
hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, năm 2008;
- Bài viết của Nguyễn Mạnh Cường về Một số suy nghĩ khi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ
phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc Hội thông qua trên Thông tin phổ biến
giáo dục pháp luật về y tế số 04 tháng 12/2006;
Ngoài ra còn có cuộc tọa đàm về Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và
khám nghiệm tử thi do Nhà pháp luật Việt pháp tổ chức năm 2004.
Các bài báo, tạp chí, tọa đàm và khóa luận tốt nghiệp đã đề cập về vấn đề này nhưng vào
các thời điểm khác nhau trong khi tình hình thực tiễn và pháp luật có nhiều thay đổi mang tính
chất bước ngoặt nên chưa toàn diện và chưa đầy đủ về mặt pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu
của thực tiễn đặt ra, hơn nữa các bài viết trên không đi sâu phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân mà chỉ phân tích vấn đề này một cách tổng quát. Là điều luật mới trong bộ luật dân
sự nhưng nó đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội cũng chính vì vậy tác giả đã mạnh dạn
nghiên cứu vấn đề này để quá trình thực hiện điều luật được hoàn thiện hơn, đưa ra một số giải
pháp giải quyết sự tồn tại của pháp luật trong việc quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân
5. Phương pháp nghiên cứu
Để để tài đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng
các phương pháp truyền thống như :
+ Phương pháp duy vật biện chứng
+ Phương pháp lịch sử
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân tích tài liệu
+ Phương pháp tổng hợp, đánh giá
+ Phương pháp quy nạp
+ Phương pháp diễn dịch
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ
thể của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam tác giả đã đánh giá được thực trạng của Pháp
luật Việt Nam về vấn đề này. Dựa trên sự đánh giá đó tác giả đã đưa ra được một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân, đảm bảo các quy định của pháp luật được thực thi một cách có hiệu quả trong thực tế.
Khi pháp luật về hiến bộ phận cơ thể người được hoàn thiện và thống nhất như thế sẽ có nhiều


nguồn hiến bộ phận cơ thể cứu sống được nhiều người bệnh, giải quyết được tình trạng khan
hiếm nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của Luận văn.
Luận văn 112 trang, bao gồm 3 chương
Chương 1, 27 trang, gồm 3 mục
Chương 2, 46 trang, gồm 3 mục
Chương 3, 31 trang, gồm 2 mục
Chương 1: Tác giả viết khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân bao gồm 3
mục trong đó:
* Mục 1: Tác giả viết về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nước trên thế
giới. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể người một số nước trên
thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, ghép bộ phận cơ thể người.
* Mục 2: Tác giả viết về khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
Tiểu mục 1: Tác giả đi sâu tìm hiểu khái niệm bộ phận cơ thể người, bộ phận cơ thể tái
sinh và bộ phận cơ thể không tái sinh, mô, hiến bộ phận cơ thể người, quyền hiến hộ phận cơ thể
người, quyền nhân thân.
- Theo quy định tại Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người thì “Hiến bộ phận cơ
thể người” là việc cá nhân tự nguyện hiến bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc sau khi
chết.
- Theo quy định trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì “quyền hiến bộ phận cơ thể
người” là quyền nhân thân của cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân nên không thể chuyển giao cho
người khác.
- Quyền nhân thân là quyền dân sự của một chủ thể, quyền nhân thân của con người là
một quyền tự nhiên, tuyệt đối, không thể chuyển giao, nó có từ khi con người sinh ra và gắn liền
với người đó cho tới khi chết đi, mọi người đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền nhân thân của
người khác.
Tiểu mục 2: Tác giả nghiên cứu về nguyên tắc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân.
- Nguyên tắc tự nguyện đối với người hiến, người được ghép.
- Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.
- Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại.
- Nguyên tắc giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép.
* Mục 3: Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ
phận cơ thể của cá nhân.


Hiến, cấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể đã được pháp luật quy định lần đầu tiên vào năm
1989 trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, sau đó là Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi
chức năng năm 1991 đến Bộ luật dân sự năm 1995. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật thời
kỳ này đã không quy định rõ trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể cũng như quyền lợi mà người
hiến được hưởng hay trách nhiệm pháp lý của những người hiến hay sử dụng bộ phận cơ thể
không vì mục đích y tế thì như thế nào? Việc quy định như trên vẫn còn chung chung chưa gắn
liền với thực tiễn nên việc áp dụng quy định của pháp luật để thực hiện trên thực tế là rất khó,
chưa tạo được hành lang pháp lý cho những người thầy thuốc tiến hành thực hiện lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người.
Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình
vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học. Việc hiến và sử dụng bộ phận
cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Với tư cách là Luật chung, Bộ luật dân sự
2005 đã ghi nhận quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân, đây là quy định mới mang tính nguyên
tắc, tuy nhiên Bộ luật đã tạo được hành lang pháp lý thúc đẩy ngành ghép tạng Việt Nam, tạo
tiền đề cho Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể được ban hành quy định một cách cụ thể và
chi tiết hơn về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân.
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 được ban hành đã
xây dựng riêng Chương II để quy định về hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống, trong đó
quy định rất cụ thể về các thủ tục, điều kiện, hiến bộ phận cơ thể ở người sống. Ngoài những quy
định đối với người hiến bộ phận cơ thể Luật còn các quy định liên quan đến người nhận bộ phận
cơ thể. Đây là một đạo luật quan trọng, mang tính nhân đạo sâu sắc nhằm đáp ứng yêu cầu thực
tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời cụ thể hóa các
quyền nhân thân đã được Bộ luật dân sự 2005 quy định trong việc hiến bộ phận cơ thể người, tạo
cơ sở pháp lý cho việc tiến hành lấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể.

Chương 2 : tác giả nghiên cứu, phân tích về các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân bao gồm 3 mục trong đó:
* Mục 1 : Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể bao gồm bên hiến và bên nhận bộ
phận cơ thể
Tiểu mục 1: Tác giả viết về bên hiến bộ phận cơ thể: Người hiến bộ phận cơ thể phải là
người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền hiến mô, bộ phận cơ
thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác vì mục đích nhân đạo, giảng dạy hoặc
nghiên cứu khoa học. Quy định về chủ thể hiến mô, bộ phận cơ thể người cũng được áp dụng
đối với cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cá nhân là người nước ngoài có liên
quan đến hiến mô, bộ phận cơ thể người. Pháp luật không quy định độ tuổi tối đa của người hiến


bộ phận cơ thể nhưng trong y học quá trình khám chữa bệnh đã cho kết quả rằng nên hạn chế
người hiến bộ phận cơ thể là người cao tuổi do tình trạng sức khoẻ của người cao tuổi đa số
không đáp ứng đủ các yêu cầu chuyên môn trong ngành y như thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
người nhận bộ phận cơ thể.
Pháp luật của Việt Nam cũng như đa số các nước đều quy định người hiến phải là người
đã thành niên. Người đã thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể điều khiển hành vi
của mình do đó khi hiến bộ phận cơ thể của mình thể hiện được sự tự nguyện xuất phát từ mong
muốn của họ muốn cứu sống những người đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc vì mục đích khoa học
hay vì sự phát triển của ngành y tế.
Tiểu mục 2: Bên nhận bộ phận cơ thể người: Pháp luật không quy định điều kiện về độ
tuổi và năng lực hành vi dân sự đối với người nhận bộ phận cơ thể.
- Người nhận bộ phận cơ thể là cá nhân: Đối với cá nhân việc nhận bộ phận cơ thể phải
xác định mục đích rõ ràng là để chữa bệnh cho mình, chỉ khi bản thân bị bệnh, cần bộ phận cơ
thể để cấy ghép cứu sống mình thì cá nhân mới được pháp luật cho phép nhận bộ phận cơ thể.
Luật nghiêm cấm việc nhận, sử dụng bộ phận cơ thể của người khác vì mục đích thương mại.
Đối với cá nhân nhận bộ phận cơ thể người là người mất khả năng tư duy hoặc hạn chế năng lực
hành vi dân sự vào thời điểm được cấy ghép các bộ phận cơ thể do người hiến thông qua biện
pháp y học thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người giám hộ của người
đó đồng ý, trong trường hợp có nguy cơ đe doạ đến tính mạng của bệnh nhân mà không chờ
được ý kiến của những người trên thì phải có quyết định của những người đứng đầu cơ sở y tế.
- Người nhận bộ phận cơ thể người để chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học:
Để phục vụ cho mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học thì các cơ quan giảng dạy, các cơ
sở nghiên cứu khoa học cũng được pháp luật cho phép nhận bộ phận cơ thể để phục vụ cho mục
đích của mình, để được nhận bộ phận cơ thể các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy phải tuân theo
các quy định của pháp luật, phải đáp ứng đủ điều kiện pháp luật đã đề ra.
* Mục 2: Đối tượng của quan hệ hiến bộ phận cơ thể
Trong quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân thì đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ
thể là các bộ phận trên cơ thể của người có quyền hiến bộ phận cơ thể đó. Tuy nhiên, không phải
tất cả các bộ phận cơ thể của con người đều là đối tượng của quyền hiến bộ phận cơ thể. Chỉ có
những bộ phận cơ thể khi được hoặc bị lấy ra khỏi cơ thể của người hiến trước hết sẽ không ảnh
hưởng trực tiếp đến tính mạng của người đó; bộ phận đó có thể được lấy ra khỏi cơ thể người
hiến mà không đe dọa sự sinh tồn của họ do các đặc tính sinh học của bộ phận đó đối với cơ thể
sống của con người; bộ phận cơ thể có thể tái sinh theo thời gian, tùy thuộc vào độ tuổi và tình
trạng sức khỏe của người hiến như một phần lá gan hoặc một số mô da hoặc cơ. Nếu nhìn nhận


dưới góc độ khác, ta sẽ thấy các bộ phận cơ thể là đối tượng của quyền hiến này sẽ bao gồm hai
loại sau:
Các bộ phận cơ thể lành lặn, khỏe mạnh, bình thường sẽ được dùng vào mục đích chữa
bệnh cho người khác, và có thể là dùng để nghiên cứu khoa học.
Các bộ phận cơ thể đã bị bệnh, hoặc bị khuyết tật bẩm sinh do khiếm khuyết về mặt di
truyền hoặc là do ảnh hưởng bởi môi trường và các điều kiện ngoại cảnh nói chung chỉ có thể
được dùng vào mục đích nghiên cứu khoa học.
* Mục 3: Nội dung quan hệ hiến bộ phận cơ thể bao gồm các quy định về :
- Quyền của bên hiến bộ phận cơ thể người và điều kiện hiến bộ phận cơ thể người
Người hiến bộ phận cơ thể được quyền chăm sóc, phục hồi sức khỏe ngay sau khi thực
hiện việc hiến mô, bộ phận cơ thể người, được ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ thể người khi mắc
bệnh cần phải ghép theo chỉ định của bác sỹ và chỉ được khám chữa bệnh không phải trả viện phí
tại các cơ sở y tế của nhà nước đối với các bệnh có liên quan trực tiếp tới việc hiến bộ phận cơ
thể. Việc hiến bộ phận cơ thể liên quan đến nhiều vấn đề xã hội, tâm linh, phong tục tập
quán…nên pháp luật rất tôn trọng quyết định của người hiến, người hiến có thể quyết định hiến
hay không hiến bộ phận cơ thể của mình kể cả khi họ đã thể hiện sự tự nguyện hiến bộ phận cơ
thể của mình bằng đơn xin hiến bộ phận cơ thể đến khi họ không muốn họ cũng có quyền thay
đổi bằng việc hủy bỏ đơn, không ai có quyền ép buộc hay ngăn cản sự thay đổi của họ, pháp luật
tôn trọng sự bất khả xâm phạm về thân thể của con người.
- Quyền của bên nhận bộ phận cơ thể và điều kiện nhận bộ phận cơ thể người:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam cá nhân có quyền nhận bộ phận cơ thể của người
khác để chữa bệnh cho mình. Quy định trên của pháp luật Việt Nam là vì sức khỏe của người
dân, pháp luật quy định như vậy là để đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể của
người dân. Đối với cơ sở y tế, cơ quan nghiên cứu khoa học các cơ quan này cũng có quyền nhận
bộ phận cơ thể người với điều kiện để phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học hoặc để chữa
bệnh không vì mục đích lợi nhuận và kinh doanh thương mại. Đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô,
bộ phận cơ thể người phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về đội ngũ cán bộ; năng
lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ; cơ sở vật chất; phải có đơn vị ghép thực nghiệm, đơn vị lọc
máu, phòng xét nghiệm, trang thiết bị, dụng cụ y tế, có đủ chủng loại và số lượng thuốc cần thiết.
- Hình thức, thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân:
Hiến bộ phận cơ thể của cá nhân phải được lập thành văn bản, đây là điều kiện bắt buộc
giữa các bên, cơ sở y tế là cơ quan có quyền nhận đơn đăng ký hiến phải tư vấn và tiến hành thủ
tục cho người hiến viết vào mẫu đơn thể hiện sự tự nguyện hiến bộ phận cơ thể của cá nhân. Đơn
đăng ký hiến là căn cứ xác định ý chí của người hiến hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc,
lừa dối hay dụ dỗ, và cũng là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy mô, bộ phận cơ


thể người theo đơn đã đăng ký. Trong trường hợp cấp cứu mà cần phải ghép mô hoặc cần ghép
mô cho cha, mẹ, anh chị em ruột thì được phép lấy mô của người chưa đăng ký hiến nếu có sự
đồng ý của người đó.
Để thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể, đầu tiên, cá nhân phải làm thủ tục đăng ký hiến
bộ phận cơ thể, sau đó, họ được tư vấn, thăm khám, chăm sóc; sau khi đánh giá họ đủ các điều
kiện sẽ được người có thẩm quyền của cơ sở y tế được cấp phép tiến hành lấy bộ phận cơ thể ra
khỏi cơ thể, chăm sóc tái hồi phục sau khi lấy bộ phận cơ thể. Cá nhân cũng có quyền thay đổi,
hủy bỏ đơn đăng ký hiến bộ phận cơ thể
- Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Pháp luật quy định rất cụ thể các hành vi các chủ thể không
được làm khi thực hiện hoạt động hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể như: ép buộc người khác phải
cho mô, bộ phận cơ thể người hoặc lấy mô, bộ phận cơ thể của người không tự nguyện hiến;
Mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; mua, bán xác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ
thể người vì mục đích thương mại; Lấy mô, bộ phận cơ thể ở người sống dưới mười tám tuổi;
Ghép mô, bộ phận cơ thể của người bị nhiễm bệnh theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy
định; Cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những
người khác giới có họ trong phạm vi ba đời; Quảng cáo, môi giới việc hiến, nhận bộ phận cơ thể
người vì mục đích thương mại; Tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép trái
với quy định của pháp luật; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm sai lệch kết quả xác định chết
não.
- Trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm: Bộ Luật dân sự Việt Nam đã quy định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những hành vi gây thiệt hại về sức khỏe Để bồi thường thiệt
hại về sức khỏe những chi phí hợp lý được đền bù bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi
dưỡng, hồi phục sức khỏe và các chức năng bị mất, bị giảm sút, chi phí cho người chăm sóc
người bị thiệt hại, thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất và tổn thất về tinh thần mà người
bị thiệt hại phải gánh chịu. Về trách nhiệm hình sự thì Bộ luật hình sự năm 1999 không có qui
định hành vi mua, bán bộ phận người sống là tội phạm (chỉ có điều 246 qui định về tội xâm
phạm thi thể, mồ mả, hài cốt). Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành
vi mua, bán bộ phận cơ thể người chưa thể thực hiện được.

Chương 3: Tác giả đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể
và hướng hoàn thiện những quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
* Mục 1: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân
- Tác giả viết về tình hình ghép bộ phận cơ thể người và nhu cầu ghép bộ phận cơ thể
người ở Việt Nam:


- Thực trạng pháp luật Việt Nam vể quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân: Pháp luật
quy định về hiến bộ phận cơ thể của Việt Nam đã bị chậm một thời gian khá dài so với các nước
trên thế giới. Năm 1989, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân là văn bản pháp luật đầu tiên của nước
ta đã có quy định cụ thể về lấy và ghép mô hoặc bộ phận của cơ thể con người và được quy định
chi tiết hơn trong Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị
định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991. Tất cả các quy định của
pháp luật nước ta thời kỳ này nói chung mới chỉ quan tâm đến thủ tục của việc lấy ghép nhằm
mục đích thử nghiệm và nghiên cứu khoa học hơn là các quy định mang tính dân sự như bản chất
vốn có của vấn đề này. Thực tế thì quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân chưa được pháp luật
công nhận như là một quyền về nhân thân gắn với mỗi cá nhân.
Dước góc độ nghiên cứu pháp luật cho thấy cần thiết phải ghi nhận quyền hiến mô, bộ
phận cơ thể người là một quyền nhân thân cơ bản. BLDS 2005 lần đầu tiên ghi nhận quyền hiến
bộ phận cơ thể của cá nhân tạo nên một hành lang pháp lý cơ bản cho cá nhân thực hiện quyền
này. Nó là căn cứ để cho việc hiến tặng, cấy ghép mô tạng và bộ phận cơ thể có thể được tiến
hành trên thực tế một cách chính thống, mở đường cho các quy định chi tiết của các cơ quan
chuyên môn có thẩm quyền để triển khai trên thực tế, là cơ sở cho hy vọng sống, quyền sống của
các cá nhân đang mắc các bệnh hiểm nghèo có nhu cầu cấy ghép bộ phận cơ thể.
Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ban hành năm 2006 đã cụ
thể hóa quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân một cách chi tiết, hoàn chỉnh hơn. Luật đã tạo cơ
sở pháp lý để các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể căn cứ vào đó để giải quyết các tranh chấp
phát sinh, thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định trong luật. Đây là một quy định quan
trọng, mang tính nhân đạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng
dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời cụ thể hóa quyền nhân thân đã được BLDS 2005 quy định
trong việc hiến bộ phận cơ thể người, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hiến, lấy, ghép mô, bộ
phận cơ thể người, giúp cho quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân đã được quy định tại điều 33
BLDS có đủ căn cứ tiến hành và có thể thực thi hiệu quả trên thực tế.
* Mục 2: Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân.
- Những vấn đề bất cập của pháp luật liên quan đến quyền hiến bộ phận cơ thể của cá
nhân hiện nay:
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là văn bản luật đầu tiên
điều chỉnh chuyên biệt về lĩnh vực này, tuy nhiên đây là một lĩnh vực rất mới mẻ và phức tạp nên
nó không tránh khỏi những bất cập nhất định cần được hoàn thiện.
+ Chưa đồng nhất trong việc quy định tế bào, mô và bộ phận cơ thể người trong quy định
của pháp luật, chưa đảm bảo tính nhất quán của pháp luật. Sửa đổi quy định của BLDS theo


hướng ghi nhận cả quyền hiến tế bào, mô, bộ phận cơ thể người để đảm bảo tính thống nhất của
pháp luật.
+ Chưa có quy phạm cụ thể nào điều chỉnh việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người nhằm
mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy, cần ban hành các quy định cụ thể đối với hoạt động
hiến bộ phận cơ thể vì hai mục đích trên.
+ Luật chưa đưa ra chế tài áp dụng khi vi phạm một trong những hành vi bị pháp luật
nghiêm cấm. Trong khi đó, Bộ luật Hình sự cũng chưa có điều khoản nào điều chỉnh về loại tội
phạm này, cần sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Hình sự những điều khoản về loại tội phạm liên
quan đến các hành vi bị cấm tại Điều 11 để có thể xử lý nghiêm loại tội phạm mới và hết sức
nguy hiểm này. Trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác cũng nên
quy định các chế tài cụ thể để xử lý các hành vi của các chủ thể. Đối với từng hành vi nên áp
dụng từng chế tài riêng như phạt tiền, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, rút giấy phép hành
nghề hay rút giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt động để khi có vi phạm hay có tranh chấp xảy
ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết có thể căn cứ ngay vào các quy định của luật để giải quyết
mà không cần viện dẫn từ các quy định khác của pháp luật, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
+ Chưa quy định chế tài áp dụng đối với trách nhiệm của người tiến hành lấy ghép Bộ
phận cơ thể người, nên quy định chế tài cụ thể trong Luật.
+ Thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ngơười sống, thủ tục thay đổi, hủy bỏ việc
hiến mô, bộ phận cơ thể hiện nay quy định quá rườm rà, phức tạp, nhiều trường hợp rất khó thi
hành trên thực tế, đề nghị sửa đổi khoản 4, Điều 12, Điều 18 theo hươớng: “Cơ sở y tế có trách
nhiệm mời người hiến đến cơ sở y tế để trực tiếp cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan cho
ngươời hiến biết”. Như vậy, khi muốn hiến bộ phận cơ thể cá nhân nên đến cơ sở y tế để được tư
vấn và thực hiện các thủ tục cần thiết khác.
+ Luật đã cho phép ngân hàng mô tư nhân được phép hoạt động, vấn đề kiểm soát việc
tuân thủ pháp luật của những cơ sở tư nhân này là một vấn đề không hề đơn giản trong thực tế vì
hiện nay các cơ sở y tế công lập nhiều khi cũng gặp khó khăn rất lớn trong vấn đề trang thiết bị,
nguồn vốn, đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên khoa, đối với tư nhân đây là vấn đề rất lớn trong khi
hoạt động này là hoạt động nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận vì vậy dễ phát sinh những
hoạt động vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội.
- Hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về hiến bộ phận cơ thể của cá nhân :
+ Về việc hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, có ý kiến cho rằng mô và bộ phận cơ
thể là hai vấn đề khác nhau, trong đó việc hiến, lấy mô cần thủ tục đơn giản hơn và ít gây hậu
quả hơn nhiều so với hiến, lấy bộ phận cơ thể người mà đặc biệt là thận. Do vậy, cần quy định
riêng một số điều về hiến, lấy bộ phận cơ thể, đặc biệt là thận cũng như các mô, bộ phận cơ thể
không thể tái tạo được từ người sống để tránh sự lợi dụng mua bán thận như đang diễn ra ở một


số nước và tránh hậu quả xấu về sức khỏe sau này của người cho. Luật cũng nên quy định chặt
chẽ những điều khoản cam kết khi hiến Bộ phận cơ thể, chẳng hạn không đòi hỏi sự đền bù về
vật chất nếu có những bất lợi đến sức khỏe của người hiến Bộ phận cơ thể sau đó.
+ Mặt khác, điểm a, khoản 2, Điều 17 của Luật cần làm rõ hơn về quy định khám sức
khoẻ định kỳ bởi quy định này quá chung chung và khó thực hiện trên thực tiễn, đề nghị sửa
điểm a, Khoản 2, Điều 17 của Luật hoặc quy định giải thích ở một văn bản dưới luật như sau:
“Được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau khi hiến bộ phận cơ thể tại cơ sở y tế,
được khám định kỳ miễn phí và được điều trị miễn phí với những bệnh lý trực tiếp hoặc gián tiếp
gây ra từ việc hiến mô, bộ, phận cơ thể người”.
+ Về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người ghép: để giảm gánh nặng cho Nhà
nước, chúng ta nên ban hành văn bản pháp luật cho phép các loại hình bảo hiểm mới chuyên về
lĩnh vực này hoạt động, dựa trên cơ sở liên doanh với nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài để
phục vụ chăm sóc, phục hồi sức khoẻ cho người ghép.
+ Nhà nước ta cần có kế hoạch, chính sách tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ
tác dụng của bộ phận cơ thể đối với xã hội, khuyến khích cá nhân hiến bộ phận cơ thể đã bị loại
bỏ ra khỏi cơ thể của mình để phục vụ cho mục đích giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học. Thực
hiện được điều đó, nguồn cung cấp bộ phận cơ thể của Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao.
+ Chúng ta chưa có một trung tâm ghép bộ phận cơ thể là nguyên nhân quan trọng khiến
kỹ thuật hiến bộ phận cơ thể chưa thể trở thành thường quy. Trung tâm này cần có cơ sở hạ tầng
và trang thiết bị tối tân, chuyên dụng với các chuyên gia giỏi nhất về ghép bộ phận cơ thể
+ Ngoài ra, Nhà nước ta cũng cần đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang bị kỹ thuật hiện
đại cùng đội ngũ bác sỹ chuyên sâu cho các trung tâm, các cơ sở y tế được trao nhiệm vụ triển
khai thực hiện ghép Bộ phận cơ thể theo quy hoạch đã duyệt. Đầu tư kinh phí cho các trung tâm,
cơ sở ghép bộ phận cơ thể kết hợp với việc xã hội hóa huy động kinh phí hỗ trợ từ nhiều nguồn
cho việc ghép bộ phận cơ thể, thành lập quỹ hỗ trợ cho hoạt động ghép bộ phận cơ thể cho
những người nghèo
+ Miễn dịch sau ghép là rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của bệnh nhân
vì vậy các trung tâm, các cơ sở tiến hành cấy ghép cần học hỏi và thực hiện khâu miễn dịch tốt
hơn góp phần đảm bảo an toàn tính mạng cho người bệnh. Bên cạnh đó muốn phát triển ngành
ghép bộ phận cơ thể thì ngay tại mỗi bệnh viện cũng nên thành lập khoa ghép mô, bộ phận cơ thể
riêng nhằm chuyên môn hóa hoạt động cấy, ghép bộ phận cơ thể tạo điều kiện cho các bác sỹ
chuyên khoa có cơ hội nâng cao tay nghề và nâng cao trách nhiệm của mình.
+ Hiện tại ở Việt Nam mặc dù đã có nhiều trường hợp ghép bộ phận cơ thể thành công
chứng tỏ khả năng về mặt y học của Việt Nam không thiếu, tuy nhiên do nhiều yếu tố khách
quan, việc ghép bộ phận cơ thể cũng chỉ mới dừng ở những trường hợp riêng lẻ trong đó chủ yếu


là người thân trong gia đình hiến bộ phận cơ thể. Lý do phần vì chi phí xét nghiệm kháng nguyên
hòa hợp mô rất đắt (6-8 triệu đồng/ca) không thể xét nghiệm hết tất cả những người cần bộ phận
cơ thể và những người cho bộ phận cơ thể để đưa vào danh sách chờ có trường hợp trùng khớp,
phần vì đã có luật về hiến, ghép bộ phận cơ thể có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 nhưng thời
gian chờ đợi để ban hành nghị định hướng dẫn thi hành quá lâu. Vì vậy, các cơ quan có thẩm
quyền cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến việc hiến bộ
phận cơ thể để các quy định của pháp luật sớm được thi hành trong cuộc sống.
Để góp phần bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn, Luật hiến, lấy, ghép
mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đã đuợc ban hành. Đây là văn bản luật đầu tiên điều
chỉnh chuyên biệt một lĩnh vực rất mới mẻ, nhạy cảm và phức tạp nên nó không tránh khỏi
những bất cập cần phải hoàn thiện như trên. Hơn nữa để Luật sớm được áp dụng và thật sự đi
vào cuộc sống cần phải thực hiện các kế hoạch như sau:
- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền trong cộng đồng những hiểu biết về ghép mô,
bộ phận cơ thể người. Thành lập các Ngân hàng mô, bộ phận cơ thể người, các Quỹ hoạt động hỗ
trợ cho việc ghép mô, bộ phận cơ thể người. Xây dựng các quy trình đối ngoại trong việc hiến,
lấy, bảo quản và trao đổi nhân đạo các mô bộ phận cơ thể người giữa các ngân hàng mô, bộ phận
cơ thể người trong nước và một số nước trong khu vực ;
- Có dự án xây dựng cơ quan điều phối các hoạt động về hiến, lấy, bảo quản, cung cấp
mô, bộ phận cơ thể người ở cả ba khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam để tập trung điều
phối cung và cầu cho các cơ sở ghép mô, bộ phận cơ thể người;
- Xây dựng các Qũy nhân đạo hỗ trợ việc ghép bộ phận cơ thể cho người nghèo;
- Xây dựng các văn bản dưới luật để hướng dẫn việc thực hiện, tuân thủ theo đúng các
quy định của Luật ;
- Đào tạo quy hoạch đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật chuyên sâu về nội dung ghép mô,
bộ phận cơ thể người để sớm định hướng phát triển, tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức
quốc tế và khu vực về ghép mô, bộ phận cơ thể người như Quỹ nhân đạo; Ngân hàng mô, bộ
phận cơ thể người; Hội ghép mô, Bộ phận cơ thể người; thế vận hội những người ghép tạng; các
tổ chức quốc gia, châu lục về ghép mô, Bộ phận cơ thể người Có thể tổ chức đăng cai thế vận
hội những người ghép tạng tại nước ta trong tương lai;
- Tạo nguồn kinh phí để phát triển ghép tạng: Từ nguồn ngân sách Nhà nước, viện trợ và
tài trợ quốc tế như Quỹ vốn đầu tư phát triển, dự án của Tổ chức y tế thế giới, các khoản tài trợ
quốc tế hay từ nguồn đóng góp của cộng đồng như các Quỹ nhân đạo, bảo hiểm y tế, thu viện phí
của người bệnh.

Kết luận.

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Luận văn : ứng dụng mạng nơron để chế tạo các cảm biến thông minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Luận văn : ứng dụng mạng nơron để chế tạo các cảm biến thông minh": http://123doc.vn/document/570092-luan-van-ung-dung-mang-noron-de-che-tao-cac-cam-bien-thong-minh.htm




5
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẮC ĐỘ CỦA DỤNG CỤ ĐO
VÀ CẢM BIẾN
1.1 Phương pháp khắc độ dụng cụ đo tương tự
Dụng cụ đo tương tự là loại dụng cụ đo mà số chỉ của nó là đại lượng
liên tục tỉ lệ với đại lượng đo liên tục. Trong dụng cụ đo tương tự người ta
thường dùng các chỉ thị cơ điện, trong đó tín hiệu vào là dòng điện còn tín
hiệu ra là góc quay của phần động (kim chỉ) hoặc là di chuyển của bút ghi
trên giấy (dụng cụ tự ghi).
Các cơ cấu chỉ thị này thường dùng trong máy đo các đại lượng như
dòng điện, điện áp, công suất, tần số, góc pha, điện trở.v.v . Những dụng cụ
này chính là dụng cụ đo chuyể
n đổi thẳng. Tức là thực hiện việc biến năng
lượng điện từ thành năng lượng cơ học làm quay phần động một góc α so với
phần tĩnh. Như vậy α = F(x), với x là đại lượng điện ( dòng hay áp hoặc là
tích của hai dòng điện)
Đối với chỉ thị cơ điện ta có phương trình đặc tính

thang đo

α
α
d
dw
D
e
1
=
,
trong đó D là mômen cản riêng và W
e
là năng lượng điện từ trường. Từ
phương trình này ta sẽ biết được đặc tính của thang đo và tính chất của cơ cấu
chỉ thị. Do trong cơ cấu chỉ thị cơ điện tồn tại nhiều mômen như mômen ma
sát, mômen cản dịu, mômen động lượng nên để xác định dạng thang đo của
cơ cấu chỉ thị thường sử dụng phương pháp
đồ thị. Bằng thực nghiệm ta xây
dựng các đường cong mômen quay M
d
= f(α) với các giá trị X khác nhau. Ví
dụ với cơ cấu chỉ thị điện từ ta xây dựng các đường cong mômen quay 1, 2, 3,
4 với các giá trị X tương ứng bằng 40, 60, 80 và 100% X
n
(X
n
- trị số dòng
điện định mức làm kim lệch toàn thang). Trong trường hợp ở đồ thị hình 1.1
X
n
=I
n
=50mA. Các đường cong mômen quay M
q
cắt đường mômen cản M
c
tại
các điểm A, B, C, D. Từ giao điểm A, B, C, D ta có các vị trí cân bằng α =
30
°
, 50
°
, 70
°
, 90
°
tương ứng với các giá trị X=20, 30, 40, 50 mA. Như vậy ta
có thang đo của cơ cấu chỉ thị điện từ theo đơn vị của đại lượng X đầu vào.


6











Tuỳ thuộc vào phương trình đặc tính thang đo mà thang đo có thể là
tuyến tính (ví dụ : cơ cấu chỉ thị từ điện) hoặc phi tuyến (ví dụ : cơ cấu chỉ thị
điện từ , điện động, tĩnh điện). Nếu thang đo phi tuyến ta thường để thang đo
đạt được tương đối đều.
Đối v
ới cơ cấu chỉ thị từ điện ta có phương trình đặc tính thang đo là α=
BswI
D
1
= K.I [TL3]
Trong đó B- Độ từ cảm của nam châm vĩnh cửu
s- Diện tích khung dây
w- số vòng dây
α- góc lệch của khung dây so với vị trí ban đầu
Góc lệch α tỉ lệ thuận với dòng điện I nên đặc tính của thang đo đều.
Cơ cấu chỉ thị điện từ có phương trình đặc tính là α=
2
2
1
I
d
dL
D
α
[TL3].
Góc quay tỉ lệ với bình phương dòng điện do đó thang đo không đều. Ngoài
M
q

α 0
°
30
°
50
°
70
°
90
°

X=40%X
n
(I= 20 mA)
X=60%X
n
(I= 30 mA)
X=80%X
n
(I= 40 mA)
X=100%X
n
(I= 50 mA)
4

3

2

1

0
20
30 40 50
Hình 1.1 : Xác định thang đo bằng phương pháp đồ thị

X(mA)


7
ra đặc tính thang đo lại còn phụ thuộc vào tỉ số
α
d
dL
là một đại lượng phi
tuyến. Để cho đặc tính thang đo đều cần phải tính toán sao cho khi góc lệch α
thay đổi thì tỉ số
α
d
dL
thay đổi theo quy luật tỉ lệ nghịch với dòng điện. Như
vậy đường cong tổng hợp sẽ là đường tuyến tính với một độ chính xác nhất
định.








Cơ cấu chỉ thị điện động có phương trình đặc tính thang đo đối với
trường hợp dòng một chiều I
1
và I
2
: α=
21
12
II
d
dM
α
[TL3]. Trong trường hợp
dòng xoay chiều ta có α=
21
12
cos
II
Dd
dM
ϕ
α
. Như vậy góc lệch α phụ thuộc vào
tích I
1
I
2
nên thang đo không đều. Có thể thay đổi vị trí của các cuộn dây để
thay đổi tỉ số
α
d
dM
12
theo hàm ngược với I
1
I
2
nhằm đạt được thang đo đều
(thường từ 20%÷100% thang đo có thể chia đều còn 20% đầu thang đo chia
không đều)
Đối với Lôgômét điện động ta có phương trình đặc tính thang đo α=








),cos(
),cos(
22
11
III
III
F
[TL3]. Khi cos(I,I
1
)=cos(I,I
2
)=1 tức là dòng điện chạy qua
α
I, L
I
2
α
d
dL

Đặc tính thang đo ~
α
d
dL
I
2

Hình 1.2 : Đặc tính thang đo với
α
d
dL

đã điều chỉnh



8
cuộn động và cuộn tĩnh đồng pha thì α =








2
1
I
I
F
. Như vậy góc lệch α tỉ lệ với
tỉ số hai dòng điện.
Cơ cấu chỉ thị sắt điện động có phương trình đặc tính thang đo :
α=k
1
s
2
w
2
I
1
I
2
cos(I
1
,I
2
), góc lệch α tỉ lệ với tích hai dòng điện.
Đối với cơ cấu chỉ thị tĩnh điện ta có phương trình đặc tính thang đo α=
α
d
dCU
2
2
[TL3]. Như vậy góc lệch α tỉ lệ với bình phương điện áp U. Đặc tính
thang đo không đều (bậc hai) và phụ thuộc vào tỉ số
α
d
dC
là một đại lượng phi
tuyến. Trong thực tế để cho đặc tính thang đo đều cần phải tính toán sao cho
khi góc lệch α thay đổi thì tỉ số
α
d
dC
thay đổi tỉ lệ nghịch với điện áp và đường
cong tổng hợp sẽ là đường tuyến tính với một độ chính xác nhất định. Giống
như trường hợp cơ cấu chỉ thị điện từ.
Đối với cơ cấu chỉ thị tự ghi đầu vào thường là dòng điện biến thiên theo
thời gian i(t) và đầu ra là đường quan hệ α(t). Đường ghi trên băng giấ
y là sự
phối hợp giữa hai chuyển động y=α=f(i) và x=Kt. Theo cách ghi có thể phân
loại cơ cấu tự ghi làm ba loại : loại thứ nhất là ghi các đường cong liên tục;
loại thứ hai là ghi các đường cong rời rạc; loại thứ ba là in số lên băng giấy.
Nhận xét : trong dụng cụ đo tương tự chỉ thị kim thì sai số phi tuyến
được đưa lên thang đo mà không nhất thiết phải tuyến tính hóa đặc tính phi
tuyến nh
ư dụng cụ đo số.
1.2 Phương pháp khắc độ dụng cụ đo có sử dụng vi xử lý hoặc máy
vi tính [TL3]
Việc sử dụng vi xử lý trong lĩnh vực đo lường mở ra những hướng phát
triển và mang lại nhiều ưu điểm cho dụng cụ đo và hệ thống thông tin đo
lường như :


9
- Có thể ghép nối thiết bị đo với bàn phím cho phép nhập thông tin bằng
bàn phím số hoặc đặt trước giá trị đo lường hay kiểm tra của một thông số nào
đó.
- Có thể ghép nối với màn hình để đọc kết quả và sai số
- Có thể gia công kết quả đo theo các thuật toán đã định sẵn và đưa ra
màn hình.
- Có thể nối với máy in để in kết quả
đo hay tự động vẽ lại các đường
cong sau khi đã gia công kết quả bằng phép xây dựng đường cong thực
nghiệm.
- Thay đổi toạ độ bằng cách đưa thêm vào các hệ số nhân thích hợp.
- Tiến hành tính toán khi thực hiện phép đo gián tiếp hay hợp bộ hoặc đo
lường thống kê.
- Hiệu chỉnh được sai số của phép đo
- Bù các kết quả đo bị sai l
ệch do ảnh hưởng của sự biến động các thông
số như nhiệt độ, độ ẩm, tần số….
- Điều khiển các khâu của dụng cụ đo cho phù hợp với đại lượng đo ví
dụ : tự động chọn thang đo.
- Mã hoá các tín hiệu đo
- Ghép nối với kênh liên lạc để truyền số liệu đi xa.
- Có thể ghép nối v
ới bộ nhớ để lưu giữ số liệu của kết quả đo hay các
giá trị tức thời của tín hiệu đo.
Ngoài ra dụng cụ đo có sử dụng vi xử lý hoặc máy vi tính còn có khả
năng tự động khắc độ. Quá trình tự động khắc độ như sau :
- Đầu tiên người ta đo các giá trị của tín hiệu chuẩn, ghi vào bộ nhớ, sau
đó đo các giá trị
của đại lượng cần đo và bằng các công cụ toán học (dưới
dạng thuật toán) có thể so sánh, gia công kết quả đo và loại trừ các sai số.


10
Ví dụ : Trong một Vônmét thực hiện theo phương pháp này việc khắc độ
được thực hiện trước mỗi lần đo (ở chế độ đồng bộ trong). Việc bù sai số do
sự lệch không của bộ khuếch đại (sự trôi điểm không chẳng hạn) sẽ được thực
hiện bằng cách đo mức không (mức đất) của tín hiệu, sau đó bắt đầu đo đ
iện
áp chuẩn cố định từ nguồn mẫu (ví dụ như pin mẫu).
Sử dụng vi xử lý hoặc máy vi tính có thể thay thế cho một loạt các thao
tác mà trong dụng cụ tương tự không thực hiện được ví dụ như : phép nhân,
phép tuyến tính hoá, điều khiển quá trình đo, điều khiển sự làm việc của các
thiết bị vào ra v.v
1.3 Phương pháp khắc độ các chuyển đổi đo lường s
ơ cấp
1.3.1 Chuyển đổi đo lường so cấp
Chuyển đổi đo lường là thiết bị thực hiện một quan hệ hàm đơn trị giữa
hai đại lượng vật lý với một độ chính xác nhất định.
Như vậy chuyển đổi đo lường làm nhiệm vụ biến đổi từ đại lượng vật lý
này sang đại lượng vật lý khác. Mối quan hệ hàm có thể là tuy
ến tính hay phi
tuyến. Tuy nhiên trong kỹ thuật đo lường người ta cố gắng tạo ra các chuyển
đổi tuyến tính để nâng cao độ chính xác của phép đo.
Chuyển đổi đo lường sơ cấp là các chuyển đổi đo lường mà đại lượng
vào là đại lượng không điện và đại lượng ra của nó là đại lượng điện.
Phương trình đặc tính của chuyển đổi Y=f(X)
Trong đó X-là đại lượng không
điện cần đo
Y-đại lượng điện sau chuyển đổi
Hàm đặc tính của chuyển đổi là một hàm đồng biến hoặc nghịch biến.
Khi chuyển đổi sơ cấp được đặt trong một vỏ hộp có kích thước và hình
dáng phù hợp với vị trí điểm đo hoặc có khi tích hợp với mạch đo để tạo
thành một dụng cụ được gọi là
đầu đo, bộ cảm biến hoặc là sensor.
Để có được đặc tính của chuyển đổi sơ cấp người ta thường làm thực
nghiệm để tìm ra mối quan hệ giữa X và Y. Mối quan hệ này thường là phi


11
tuyến, nhưng để nâng cao độ chính xác của thiết bị đo người ta tìm cách tuyến
tính hoá nó bằng các mạch điện tử hay dùng các thuật toán khi gia công số
liệu đo bằng máy tính hoặc vi xử lý.
Trong thực tế tín hiệu ra Y của chuyển đổi không những phụ thuộc vào
X mà còn phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài Z : Y=f(X,Z)
Đặc tính của chuyển đổi phải là hàm đơn trị, nghĩa là với đường cong hồi
ph
ục của chuyển đổi ứng với một giá trị X ta chỉ nhận được một giá trị Y.
Đường cong của chuyển đổi phải ổn định, nghĩa là không thay đổi theo thời
gian. Và tín hiệu ra của chuyển đổi phải tiện cho việc ghép nối vào dụng cụ
đo, hệ thống đo và máy tính.
Đặc tính của chuyển đổi có thể là hàm tuyến tính hoặc phi tuyến, chẳng
hạn như hàm lôga-rít, hàm đa thứ
c, hàm mũ.
Đặc tính tuyến tính được mô tả bởi biểu thức :Y=a+bx
Đặc tính lôga-rít : Y=a+b.lnx
Đặc tính hàm mũ : Y=a.e
kx

Đặc tính hàm đa thức : Y=a
o
+ a
1
.x + a
2
x
2
+ + a
n
x
n
Đặc tính quan trọng của chuyển đổi là sai số.
- Sai số cơ bản của chuyển đổi là sai số gây ra do nguyên lý của chuyển
đổi, sự không hoàn thiện của cấu trúc, sự yếu kém của công nghệ chế tạo.
- Sai số phụ là sai số gây ra do biến động của điều kiện bên ngoài khác
với điều kiện tiêu chuẩn.
Sai số tương đối quy đổi:
%100
max
N
n
X
X
Δ
=
γ
, với X
N
là giá trị cực đại của
thang đo, cần phải nhỏ hơn hoặc bằng cấp chính xác. Sai số tuyệt đối được
tính bằng hiệu của giá trị đo được với giá trị thực. Ví dụ một sensor đo
khoảng cách tuyến tính lý tưởng sẽ tạo ra 1 mV trên 1mm dịch chuyển. Tuy
nhiên trong thực tế một dịch chuyển 10 mm tạo ra 10.5 mV, từ 10.5 mV tính
ngược lại (1mm trên 1 mV) ta được 10.5 mm, lớn hơn 0.5 mm so vớ
i thực tế.


12
0.5mm này là sai số tuyệt đối và do đó trong khoảng 10 mm sai số tương đối
quy đổi của sensor là 0.5mm/10 mm x 100% =5%.
Để cảm biến đạt cấp chính xác nhất định thì đường cong đặc tính thực tế
phải nằm trong hai đường giới hạn sai số cho phép như biểu diễn trên hình 1.3
và hình 1.4 .
















Các đường giới hạn sai số cho phép lệch với đường đặc tính lý t
ưởng
một khoảng
Δ±
và đường cong thực tế lệch với đường đặc tính lý tưởng một
khoảng
δ
±
, trong đó
Δ≤
δ
.
100% x
Y
100%
y
y’
z
z’
x
x’
-
δ

+
Δ

-
Δ

Đường đặc tính
thực tế
Đường đặc tính
lý tưởng
Đường giới hạn
Y
FS
Hình 1.3 : Đường cong đặc tính của cảm biến
Δ−
Δ+
-
δ


Đường giới hạn phải
Đường giới hạn trái Đường hiệu chuẩn
Đường đặc tính thực tế
Hình 1.4 : Đường giới hạn độ chính xác
x
Y


13
Có nhiều phương pháp để tuyến tính hoá đường đặc tính của cảm biến.
Đối với đặc tính có thể tuyến tính bằng một đường thẳng người ta thường
dùng các phương pháp sau :
+ Phương pháp dùng điểm đầu và điểm cuối của đường đặc tính :
Ta xác định các giá trị đầu ra của cảm biến tại giá trị nhỏ nhất và lớn
nhất của đầu vào và vẽ đường thẳ
ng qua hai điểm này (đường 1 trên hình 1.5).
Gần các điểm đầu và điểm cuối thì sai số nhỏ và sai số lớn nhất rơi vào
khoảng giữa của đường đặc tính.







+ Phương pháp xấp xỉ bình phương cực tiểu :
Đo vài giá trị đầu ra Y (n giá trị) tương ứng với các giá trị đầu vào x
trong toàn thang đo. Sử dụng công thức sau để xác định các giá trị a và b củ
a
đường thẳng Y=a+b.x (đường 2 trên hình 1.5)
()
2
2
2
∑∑
∑∑∑∑


=
xxn
xYxxY
a

()
2
2
∑∑
∑∑∑


=
xxn
YxxYn
b

Trong đó

là tổng của n số hạng.
Trong một vài ứng dụng thì độ chính xác cao nhất cần phải đạt được ở
trong một khoảng nhỏ nhất định. Ví dụ nhiệt kế y tế phải có độ chính xác cao
Điểm đầu và điểm
cuối
L2
L1
100% x
Y
100%
0
Hình1.5 : Đường thẳng xấp xỉ đường cong phi tuyến
c
2
1
3


14
trong vùng nhiệt độ sốt của cơ thể từ 37 đến 38°C. Nó có thể kém chính xác ở
ngoài khoảng nhiệt độ đó. Cảm biến được hiệu chuẩn ở vùng yêu cầu độ
chính xác cao nhất . Do đó đường xấp xỉ có thể được vẽ qua điểm hiệu chuẩn
c (đường 3 trên hình 1.5). Sai số nhỏ ở gần điểm hiệu chuẩn và tăng lên về
phía hai đầu củ
a thang đo. Trong phương pháp này thì đường thẳng thường
được xác định như là tiếp tuyến của đường đặc tính tại điểm hiệu chuẩn.
+ Phương pháp dùng đường thẳng độc lập : đường thẳng xấp xỉ độc lập
là đường thẳng nằm giữa hai đường song song sát nhau và bao toàn bộ các giá
trị đầu ra trên đường đặc tính thực tế như hình 1.6.








Đặc tính động củ
a chuyển đổi là khi cho tín hiệu đo vào chuyển đổi
thường xuất hiện quá trình quá độ. Quá trình này có thể nhanh hay chậm tuỳ
thuộc vào dạng chuyển đổi. Đặc tính này được gọi là độ tác động nhanh. Độ
tác động nhanh hay chậm tức là thời gian trễ nhỏ hay lớn của đáp ứng tín hiệu
ra so với sự thay đổi của tín hiệu vào.
Phương trình cơ bản của cảm biến có dạng :
Y=f(x, a, b, c…)
Trong đ
ó x là đại lượng đo hay còn gọi là đại lượng chủ, các đại lượng a,
b, c… được gọi là các yếu tố ảnh hưởng cần được loại bỏ. Yêu cầu của cảm
biến là tạo được đặc tính Y=f(x) và quan hệ này được lặp lại với một giá trị
Hình1.6 : Đường thẳng xấp xỉ độc lập
Đường thẳng xấp xỉ
-
δ

100% x
Y
100%
0
+
δ

c

Tấm ván phóng dao - Mạc Can


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tấm ván phóng dao - Mạc Can": http://123doc.vn/document/570445-tam-van-phong-dao-mac-can.htm


mây đen, còn có một cột mây lẫn nước cuốn tròn xoáy trong gió. Mẹ
tôi cho mọi người biết đó là ông rồng đang hút nước? Có mấy ai coi
trọng gánh hát bèo bọt bán thuốc dạo, nhưng mọi người thật vui khi có
chiếc ghe xập xệ hát xiệc của Sạc lô Trần tới. Trên tấm vải nhựa Cha
tôi bày đủ trò, tôi đánh trống, em gái tôi ngồi cạnh gõ cái phèng la, anh
tôi chuẩn bị những lưỡi dao, vì chính anh là người phóng dao.
Đám đông vây tròn chúng tôi, ở hàng thượng hạng là đám con nít,
nhiều đứa để đầu ba vá, lem luốc, ở truồng, la hét, chen lấn giành chỗ.
Chú Tài “say” cầm cây roi mây đi vòng trong sân giữ trật tự. Khán giả
người lớn cười nói vui vẻ, là mấy bà già trầu xách giỏ đi chợ, là đàn
ông trọng tuổi đầu búi tó củ hành, rồi các cô gái trẻ bên cạnh chàng trai
làng, chợ quê nhộn nhịp đầu trên xóm dưới, bởi tiếng trống của tôi thúc
giục, tôi thích tiếng vang đanh giòn của mặt trống da bò, căng thẳng tới
nỗi nhảy tưng cặp dùi trống bằng gỗ mun, màu nâu, cầm lâu ngày lên
nước láng bóng bởi mồ hôi tay.
Em gái tôi nhỏ xíu ngồi gõ nhịp phèng la, cây dùi chạm vào mặt đồng,
rất ăn ý với tiếng trống, rất nhịp nhàng với tiếng nói sang sảng của Cha
chúng tôi. Ông lớn tiếng nhưng tướng thấp lùn, ông rất hãnh diện khi
khoe với khán giả bộ chân cheo của ông. Ông có thể dlùng ngón chân
đi một bài quyền trên chừng một chục trứng gà mà trứng không bể, ông
gọi đó là thuật “khinh công”, những người làm nghề Sơn Đông mãi võ
thường luyện võ nghệ phòng thân, cha tôi cũng phải như vậy. Ông còn
làm Sạc lô với cái nón tròn như quả dưa hấu, và cây gậy mây, búng một
cái cặp ngay vô nách, cái nón bay khỏi ót ông làm khán giả khoái chí
cười rần, trò vui nhứt ở đâu cũng thích là trò ông tướng thầy ba biết đi
vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo.
Cha tôi đứng giữa sân khấu đất, ông rất dạn chuyện ăn nói, tiếng Tây
tiếng Tàu, tiếng Miên ông biết mỗi thứ một chút, ngoài ra còn những
chuyện tiếu lâm ngắn làm mấy cô gái nghe nhằm đỏ mặt tía tai. Trên
sân diễn không hiếm chi chuyện ông gây lộn với khán giả, nếu như có
ai nói sốc ông. Còn đám du thủ du thực, chuyên môn móc túi sợ Cha tôi
như thần, nếu Cha tôi trông thấy chúng nó móc túi ai, lập tức ông quên
ông đang là nghệ sĩ, ông nhảy tới tóm cổ nó thoi liền tại chỗ, ông có
ngón đòn “sa bù lu” ra tay là bọn móc túi lỗ mũi ăn trầu. Nhiều lần như
vậy khiến cho Mẹ tôi lo:
- Tụi nó móc túi người ta chớ nó móc túi ông đâu mà ông lo chuyện ba
láp, nó thù vặt chém lén là mệt nha, nó tiểu nhơn đánh lén lưng mình
phải sợ chớ.
Nhưng Cha tôi vẫn vậy, nóng như Trương Phi, thấy chuyện bất bình
chẳng tha. Khán giả miền quê vừa ớn vừa khoái cha tôi mới là vui. Cha
tôi rất ghét tay biện chà hống hách, cho nên khi nó nhờ ông nhổ cái
răng, ông cố ý nhổ cho nó nhảy dựng lên, làm cho ai cũng hả giận, mà
tay biện chà khó nói điều gì. Sạc lô Trần là một phần kỷ niệm của cô
bác khán giả, sau nầy khi tôi đã lớn tuổi, nhiều người hỏi tôi, có phải là
con của Sạc lô Trần không, tôi thưa là phải, lập tức cô bác gởi lời thăm
Cha tôi mạnh giỏi, với nụ cười trên môi. Chính tôi cũng là một khán giả
hâm mộ Cha tôi nhứt hạng. Trong đêm trường tĩnh mịch, tôi thường
thấy ông cặm cụi một mình chế biến những trò ảo thuật vui, lúc đó tôi
thương Cha tôi không kể xiết, ông là một nghệ sĩ cô độc, trong con
người nhỏ bé nầy, có một tâm hồn nào khác hơn, trọng nghĩa khinh tài,
khó ai hiểu hết được.
Tôi không quên hình ảnh ông nơi sân khấu đất, sân khấu nầy quả là khó
diễn hơn sân khấu rạp lớn, khán giả ngồi rất gần, nhứt là đối với nghệ sĩ
ảo thuật, sân khấu đất, có lẽ là như bây giờ người ta gọi là sân khấu
nhỏ.
Cần phải đủ bản lĩnh tiếp cận người xem. Cha tôi là một trong những
kịch sĩ bẩm sinh, độc diễn giỏi, có duyên nói, đi vào lòng người, ông
đóng vai của chính ông, với nhiều sáng tạo, và đã đi vào những giai
thoại của khán giả bình dân. Người ta nói Sạc lô Trần dẫn con trâu qua
ống chỉ, điều đó tôi chưa thấy mà cũng không có ai thấy, những lời đồn
đại nầy làm cho Cha tôi nổi tiếng thêm, nơi những chợ quê, khi đó chưa
có nhiều trò giải trí, nhiều nghệ sĩ tài năng hơn như hiện nay.
Tôi đang nghe tiếng chính tôi cười khi nhớ lại trò ông tướng thầy ba.
Cha tôi rất tinh nghịch, ông vừa nói giễu vừa xé một tờ giấy nhựt trình.
Ông khéo tạo mảnh giấy vụn thành một hình nhân, ông trêu chọc hình
nhân nầy với nhiều lời bóng gió tay biện chà, khiến cho bà con đứng
ngoài hả đã, cười ngất ngư
- Đây là ông tướng thầy ba đui then hồi nhỏ khó nuôi, má ổng đen thui
cho nên đặt ổng tên là ông lô xí sộ, thầy ba ơi nói chuyện chút coi, thầy
ba ơi.
- Ơi!
Có tiếng trả lời như tiếng con nít, làm cho khán giả hết hồn, thiệt ra chỉ
có mình Cha tôi nói, đó là trò khẩu thuật nói tiếng bụng, Cha tôi lại
“hỏi” thầy ba rằng:
- Thầy đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo được hông, trả lời?
- Được!
Tiếng thầy ba trả lời dẻo nhẹo, như bà bóng. Cha tôi hỏi:
- Thầy ba nói được là phải làm được nghe chưa. Bây giờ thầy ba chịu
khó cho tui để thầy ba vô cái ống nầy, khoan đừng có đi đâu nha cha
nội, mấy bà già để tui lo cho, người cõi trên như thầy sao mà be he quá
vậy?
Biện chà có tiếng dê sòm, nghe vậy khán giả nhìn ông ta cười rộ lên.
Tới đây Cha tôi bỏ hình nhân vô cái ống thiết tròn, cái ống nầy tôi phải
lau chùi mỗi ngày, nó có hai ống, ống lớn che ngoài, ống nhỏ chứa sẵn
thịt heo.
Mỗi lần diễn trò nầy Cha tôi dặn Mẹ tôi đi chợ sớm, mua thịt heo ngon,
để sau buổi diễn, kho thịt với hột vịt cho cả nhà ăn. Tôi đánh trống theo
lời nói của Cha tôi, ông thích tôi đánh trống, vì tôi hiểu ý ông. Thầy ba
đã nằm trong ống thiết, Cha lại làm như lắng tai nghe:
- Ơi.
- Thầy ba nói trong nầy giống như đêm ba mươi, đen thui. Chịu khó
chút nha thầy ba, chết chưa, cái ông nầy chưa gì đi rồi, thầy ba lặn vô
chợ rồi, thầy độn thổ rồi, bà con chờ chút sẽ thấy thầy ba ăn cắp thịt
heo về cho coi.
Ai cũng phải chờ, vì tò mò vốn là cái tánh chung của con người, chờ
thầy ba đem thịt heo về cho nhãn tiền.
Trong lúc chờ, Cha tôi quảng cáo thuốc nhức răng, ông nói không có
cái gì khổ cho bằng bệnh nhức răng, vợ hun cũng đổ quạu, ông nhái
điệu bộ của người nhức răng.
Cha tôi diễn hay tới mức giống hệt, tuy ông không còn cái răng thiệt
nào. Ông mời một người đàn bà bước vô sân, lúc đầu bà ta mắc cỡ,
nhưng sau đó không vô không được vì bị những người khác đẩy vô:
- Hồi nhỏ tới bi giờ bà có nhức răng hông?
Cha tôi hỏi, bà kia trả lời:
- Dạ có, còn có một cái răng nầy thôi mà nó cũng nhức thấu trời?
Người đàn bà nầy chỉ còn một cái răng cửa.
- Bà có chồng chưa, có chồng rồi thì há miệng ra coi. Hai chuyện, có
chồng hay nhức răng hoàn toàn khác nhau, song bà nầy vẫn há miệng.
Ai lại không có một vài lần nhức răng, nó vô cùng khó chịu, nhưng hầu
như không có thứ thuốc nào trị dứt, trong dân gian người ta lại nói,
nhức răng là tại có con sâu ăn răng? Cha tôi nói:
- Tôi để miếng bông gòn trong miệng bà, thuốc nầy bắt được con sâu
ăn răng, nghe chưa.
Có hai chuyện bây giờ phải đứng chờ, đó là chờ ông tướng thầy ba đem
thịt heo về, hai là chờ coi con sâu ăn răng cho biết, bà nầy cũng chịu
khó ngậm miếng bông gòn, với vẻ mặt tức cười. Lúc nầy Cha tôi giới
thiệu những chai thuốc nhức răng, và lấy miếng bông gòn trong miệng
bà già ra để trên một cái đĩa, trên đó bò lúc ngúc những con sâu “ăn
răng”. Cha tôi bán được khá nhiều chai thuốc nhỏ, đó là những chai dầu
Nhị Thiên Đường xài rồi trống không, ông pha chút rượu trắng với
nước rễ cây, dán nhãn có hình Sạc lô với cái cằm sưng vù và cái răng to
tướng, chai thuốc là một món quà cay cay, vô thưởng vô phạt.
Về sau nầy khi tôi lớn lên tôi mới biết khó khi nào trị được bệnh nhức
răng, khán giả mua thuốc nhức răng của Cha tôi, như là mua vé coi ông
vừa giễu vừa diễn xiệc ảo thuật cho vui, bà con cũng tha thứ không cằn
nhằn gì, coi như ăn trầu nhả bã, hút thuốc phà hơi mấy đồng bạc giây
lát cũng tiêu tan.
- Bên nầy mua bên kia mua, lẹ tay thì còn chậm tay cũng còn, chờ
chút bà hai, đợi chút xíu ông tư ơi, bán một tặng một, mua một chai
tính tiền hai chai.
Có lẽ sân khấu tấu hài ăn nên làm ra một thời, mấy lúc hiện nay, là
nhờ Cha tôi chế ra cách nói chuyện vui kiểu chai thuốc bắt con sâu ăn
răng. Ông còn là tác giả khuyết danh của khá nhiều chuyện tức cười
như “con vịt ăn gì mà nó kêu cạp cạp” ông giải nghĩa rằng, con vịt ăn
bắp, chỉ ăn bắp mới là cạp, giễu bình dân vậy mà ai cũng khoái.
Cha tôi biết viết và nói tiếng Pháp, nghe đâu ông sinh ra trong một gia
đình khá giả nhưng ông bỏ đi giang hồ. Ông nói và sáng tác miệng
thuộc loại giỏi. Ông có một cây viết “máy” hiệu Parker thường giắt trên
nắp túi không khi nào thấy ông viết gì, chỉ dùng để ký tên cho vui, ông
có chữ ký kỳ lạ, nó như một cái hộp lớn trong đó nhốt lại mỗi chữ
“Trần”. Chẳng mấy ai quan tâm thuốc của Sạc lô Trần có chữa khỏi
bịnh hay là không, nhiều người còn cười hả hê mua dùm Cha tôi nhiều
miếng thuốc dán, đau đâu dán đó, bịnh gì cũng hết? Vì Cha tôi hát mà
không bán vé vào cửa cho nên thuốc cũng như tờ vé đứng, dùng để
thưởng thức tài nói “pha trò” của ông mà thôi.
Cha tôi trở lại cái đĩa, ông có vẻ lo lắng cho bà già:
- Trời ơi con sâu trong miệng nè, bà không sợ nó cắn đứt lưỡi bà sao
bà? Ban đêm bà ngủ bà có nghe con sâu nhai răng bà kêu cắc cắc
không?
Thật ra đó cũng là ảo thuật, con sâu là những con mẻ từ hột cơm nguội,
vô hại. Rồi như một lời tạ lỗi, cám ơn khán giả, Cha tôi lập tức biểu
diễn những trò khác rất hay, mà không bán một thứ “thuốc” nào nữa.
Ông lô xí sộ ăn cắp thịt trong nhà lồng chợ trở về, khi mở cái ống thiếc
tròn, khán giả ồ lên một tiếng lớn, như thần thoại, ai cũng thấy rõ một
miếng thịt heo ngon. Ông tướng thầy ba đi chợ còn hơn “nình bà” ông
khéo lựa miếng thịt tươi rói, ai biết Mẹ tôi còn là một người nội trợ nấu
ăn ngon, nếu như trời không mưa, món thịt kho hột vịt tuyệt cú mèo sẽ
thay cho món “nước mắm rô ti” mặn rát lưỡi.
Tôi lại nghe tiếng tôi cười, nhưng cuộc đời không phải là một chuỗi
cười thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều hạt lớn hạt nhỏ, hạt xấu hạt tốt, hạt
cười hạt khóc, hạt hạnh phúc và vô hạnh, nó là xâu chuỗi vô thường.
Anh tôi ra sân, chú Tài “say” thay chỗ tôi đánh trống.
Chú đánh trống khá giỏi, tiếng trống của chú tôi không bắt chước được,
nó có nhiều nhịp căng, có khi rời rạc, có khi liên hồi, tôi hay lắng nghe
tiếng trống của chú Tài khi chú lia nhẹ chiếc dùi ở rìa trống, không thể
giải thích được. Gần giống như người ta nghe nhạc giao hưởng, lạ
thường thay nhiều khi những nốt nhạc lại gợi nhớ hình ảnh nào đó, có
lúc là một dòng sông, có lúc là một áng mây và có lúc làm nhớ tới một
người, tôi nào cho mình là người lương thiện, nhưng khi nghe tiếng
trống tôi chợt nghĩ về Cha tôi. Tôi thấy ông là hai con người, một là
chính ông, tuyệt đối lương thiện, còn người thứ hai sao mà xa lạ với tôi
tới nỗi tôi ngạc nhiên và hổ thẹn, vì mình có những ý nghĩ đó với bậc
sanh thành. Chẳng hạn như những đồng tiền bán thuốc “nhức răng”
nằm đầy trên tấm vải nhựa buổi sáng hôm nào, chẳng qua tôi là một kẻ
kiêu hãnh, làm dáng, chuyên rước cho mình nỗi khổ tâm, dù cho nó là
những hạt cát vốn đã bẩn bụi trần gian.
Hình như tôi cũng có người thứ hai trong tôi, ai mà biết được, lần hồi
tôi cho là có thật. Hai con người nầy trong tôi không hoà thuận, một
trầm tư sám hối, còn một có cơ phá phách, hỗn loạn, bất kham. Chúng
như một con gà chọi nhốt chung với một con vịt, một kẻ hung hăng
thích xung đột, kẻ khác ngây thơ và hoàn toàn thụ động.
Thông thường, xiệc rong bán thuốc, thời đó biểu diễn làm quà, nó
không có nhiều trò lớn, vậy mà ghe hát của Cha tôi có màn phóng dao.
Khán giả không chỉ thích cười cợt, mà họ con thích cảm giác mạnh.
Khổ nổi Cha tôi lại là người đánh trống cho màn phóng dao, ông là một
nghệ sĩ cầu toàn. Tất nhiên tiếng trống của Cha tôi không thể nào chê,
về sự điêu luyện, ông phối các âm thanh thường rất đơn điệu thành một
chuỗi tiếng động thúc giục, hấp dẫn, lôi cuốn, và hồi hộp. Khi anh tôi
xuất hiện ở giữa sân, anh như một ông Hoàng, với những lưỡi dao,
trong tiếng trống trận mạc nôn nao. Còn tôi phải lủi thủi vác tấm ván
phóng dao từ dưới sông cạnh đó lên bờ, chen qua nhiều người như mọi
lần. Em gái nhỏ của tôi, và cả anh tôi, bước ra cúi chào khán giả. Em
tôi là người đứng trước tấm ván.
Anh tôi là một người mà ai gặp, nếu đó lại là những cô con gái, thì khó
thể nào quên, anh thật đẹp, nhứt là khi anh ra sân khấu, mặc cho đó là
sân khấu đất tàn tạ.
Như một Hoàng tử bị đày đoạ xuống cõi trần gian, vị Hoàng tử nầy vừa
tôi nghiệp vừa kiêu hãnh biết bao. Anh tôi tới đây từ một lâu đài trong
chuyện cổ tích, mái tóc anh đen nhánh, nuôi dài chải chuốt, da anh
trắng xanh, nụ cười mê hồn.
Còn tôi là ai? Từ trước khi tôi là một phôi thai chung dòng sữa Mẹ với
anh, chúng tôi không biết nhau trước, nhưng bây giờ vị Hoàng tử là anh
ruột của tôi, tội nghiệp là anh cũng đói khổ cùng cực như mọi người
trong “Hoàng gia” chiếc ghe hát của chúng tôi có 6 người, Cha tôi, Mẹ
tôi, anh em tôi và chú Tài “say”. Cuộc sống trôi giạt, giả thật qua nhiều
năm tháng, điều tôi khổ nhứt lá trái tim quá đỗi nhạy cảm của tôi, nó
thổn thức từ khi tôi chưa đủ hình hài, trôi theo tôi sau chiếc ghe hát,
trên những dòng sông là tấm ván phóng dao, đầy thương tích như nỗi
đau của kiếp người.
Thời thơ ấu của tôi, của anh em tôi cứ vậy, chầm chậm trôi theo những
dòng sông vui buồn, trong cơ khổ đói khát với hoàn cảnh riêng biệt
không giống ai. Vì vậy mà tôi trở nên rất ít nói, có khi nhiều ngày liền
tôi không nói một tiếng, làm cho Cha tôi, nhứt là Mẹ tôi cứ tưởng rằng
tôi bị ai đó cắt mất lưỡi. Tôi chỉ thầm nói trong cái đầu nhỏ của tôi hai
chữ “tại sao” rồi cúi đầu nhẫn nhục, chịu đựng, bởi không ít người nhìn
chúng tôi với đôi mắt chê trách, khinh miệt bầy xướng ca vô loài, mặc
dù chúng tôi có ca hát chi đâu? Tôi sống phiêu linh một kiếp lục bình
trôi nổi, thời tuổi nhỏ của tôi đi và sống qua nhiều nơi, buộc lòng tôi
phải thấy nhiều, suy nghĩ nhiều hơn những thằng nhỏ khác. Đôi khi tôi
ngồi cười một mình, Mẹ tôi cứ tưởng tôi bị tâm thần hay ma ám, Mẹ
dâu có biết con rơi nước mắt vì những điều khổ tâm quá sức con, người
Mẹ bình thường nầy nào đâu đã biết mình sinh ra một con người dị tật,
nó có một trái tim quá lớn. Mưa vẫn rơi vào những tháng mười với
tiếng trống, và trò phóng dao, bên bãi sông cuối chợ sáng chiều, nỗi
đau luôn trở lại bất cứ lúc nào trong cuộc đời sau nầy của tôi, một vở bi
hài kịch trúc trắc.
***
Tấm ván dùng để phóng những lưỡi dao, gồm có ba mảnh ván nhỏ
ghép lại, phía sau nó có hai thanh gỗ chặn, một dưới thấp gần bàn chân
tôi, còn hai dùng cho tôi giữ nó đứng thẳng. Tấm ván cao khỏi đầu tôi
khi tôi đứng sau nó, còn cao hơn em gái tôi đứng ở phía trước nhiều.
Cha tôi nhờ người thợ mộc chuyên đóng hòm đóng tấm ván nầy, đáng
lý bằng gỗ thông mềm, nhưng rồi trại hòm không có loại ván nầy, nó
được đóng bằng gồ dầu cứng, khổ nỗi tấm ván quá cứng, không “ăn”
dao, cho nên ngoài việc đứng làm chú hề con mỗi đêm, phụ diễn với
Cha tôi, ban ngày tôi còn phải tưới nước cho tấm ván mềm đi.
Cha quyết định bán chiếc ghe, lên bờ lập một đoàn xiệc nhỏ, trong đó
có lý do đường sông lúc sau nầy có cướp mà cướp thì không từ ai
Chúng tôi được đi xe hơi, đi tới đâu chú Tài “say” tìm mướn xe tới đó,
nay chú được lên chức quản lý, đi xin phép hát. Cha tôi không còn hát
sân đất, bán những chai, thuốc nhức tăng nữa, mà là một ông bầu, khá
nhiều nghệ sĩ hát rong kéo về hợp tác. Cố chú Phi Long trước đây là
nghệ sĩ phóng dao, nay chuyên đi dây thép trên cao, đặc biệt là chú đi
guốc, đi xe đạp một bánh trên dây, có bác hai Đại Bàng chuyên xiệc
trên chiếc xe đạp kiểu, bác hai cũng diễn ảo thuật, chú Lê Bân là người
miền Bắc chuyên về trò đạp chiếc thang cao, với đứa con gái, nhỏ leo
lên uốn dẻo. Một ban nhạc đệm nữa chớ, gồm tay đàn măng- đô-lin,
ông tên là Bà Kim Cương, người đàn ông mù hết sức sạch sẽ, vui tỉnh,
người vợ suốt ngày cằn nhằn, với đứa con gái không làm gì ráo, chỉ
biết khóc, chú Bảy Hơn một người trước kia thổi kèn đám ma, và một
tay trống, chú tên là Thành cái thùng trống là gia tài lớn của chú, chú
Bê ốm nhách, hoạ sĩ vẽ quảng cáo, với bà vợ ho lao.
Ngoài ra còn có gia đình một người Hoa Miến Điện, gồm người chồng
chuyên về trò chồng người, bốn người con, hai trai hai gái biểu diễn trò
khéo, một gia đình người Hoa Chợ Lớn khác, người cha làm hề xiệc, cô
con gái khá đẹp tung hứng. Cha tôi làm Sạc lô, một tiết mục khác, ông
giả trang thành người Ấn Độ nuốt lửa và trò tàng hình, chú Chín Chim
làm hề ngoài cửa, anh tôi là nghệ sĩ phóng dao. Đoàn xiệc duy nhứt lúc
đó trong miền Nam là đoàn Nghệ Tinh của ông bầu Trần, chúng tôi hát
ở những rạp khá lớn, nhiều nơi.
Mẹ tôi không biết chữ, nhưng nhờ đi đây đi đó quá nhiều, cho nên nói
chuyện rất hay, bà hay đi coi bói, sau đó thuộc tuồng, lại bói cho người
khác. Những buổi trưa trong rạp hát vắng người, bà coi bói cho người
trong đoàn. Còn tôi lúc nào cũng kê tấm ván phóng dao trên một hàng
ghế nằm nhìn lên trần rạp: Mẹ tôi là người tằn tiện, chính bà dành dụm
được một số tiền trong thời gian Cha tôi làm nghề bán thuốc để cho
Cha lập gánh hát.
Mẹ tôi có khách ngoài tới coi bói lúc nào tôi không biết, nhưng khi tới
một rạp hát nào, bên cạnh phòng vé bà cũng cho dán một bảng hiệu
riêng, do chú Bê vẽ, trên đó có một bàn tay, với những lá bài tây, lâu
dần khán giả tới coi bói khá đông. Thu nhập của Mẹ tôi có vẻ tức cười,
nhưng Cha tôi không có ý kiến, riêng ông thỉnh thoảng cũng có người
bệnh đau răng tới mua chai thuốc, hay nhờ ông nhổ dùm cái răng đau,
ông còn có nghề cắt mây hay lột cườm trong mắt, một Đông Y sĩ bẩm
sinh, khá mát tay.
Anh tôi ít khi có mặt trong rạp, chỉ có khi tới màn biểu diễn của anh,
vào ban đêm, tới đâu, lúc nào anh cũng hay ngồi ngoài quán nước với
những người bạn, anh luôn luôn có bạn, họ ngồi rất lâu, có khi là cả
ngày trong quán nước hay quán cà phê giống như anh, những người
bạn lạ mặt nầy trầm tính, nhưng khó biết họ từ đâu tới, làm nghề gì, nói
chuyện gì. Cha tôi thì luôn đi đâu đó với chú Tài “say”, còn em gái tôi
lúc nào cũng nằm trong một góc tối với xâu chuỗi và quyển kinh.
Giữa trưa, tôi nằm trên tấm ván phóng dao nghe Mẹ tôi bói bài cho một
bà khách, một điều tôi phải công nhận là Mẹ tôi có năng khiếu coi bói
bẩm sinh, bà lại ưa quan sát, có thói quen bắt chước giỏi, lại nhiều
tưởng tượng, bà còn thuộc lòng nhiều chuyện đời xưa, số vốn nầy vô
tình khiến cho Mẹ tôi dẫn dắt câu chuyện bói toán trơn tru:
- Theo như lá bài nầy, con đầm chuồng nầy cho tui biết thì hồi nhỏ bà
bị bịnh nặng lắm.
Mẹ tôi trang bài, lật ra một con nói với bà khách, tôi thầm nghĩ, có
người nào lúc còn nhỏ lại không bịnh nầy bịnh kia, chí ít cũng nóng ho.
Bà khách giật mình:
- Dạ có tui đau ban khỉ, sém chết.
- Thấy chưa, tui nói không sai, bà còn té nữa phải không, té xuống
nước, cái mạng bà lớn lắm đó nha
- Dạ có tui té xuống giếng, may là má tui hay kịp vớt lên, không thì tui
chết rồi, rồi cái, tui bịnh ban cua tóc rụng hết ráo, còn nữa, hồi hai tuổi
tui nghe má tui nói lại, tui té xuống sông, chìm lỉm, vớt lên chết luôn
mấy ngày, không biết sao bỏ vô hòm rồi tự nhiên tui sống dậy, rồi cái
tự nhiên bây giờ tánh tui hơi tưng tưng.
- Ông bà khuất mày khuất mặt quở, biết sao hông, tại song thân của bà
đặt tên bà quá đẹp, kỵ huý. Nhờ kiếp trước bà ăn ở nhơn đức hay giúp
người cho nên quới nhơn độ mạng, cứu bà đó nghen.
- Ờ tui nhớ rồi, má tui nói hồi bốn năm tuổi tui đẹp mà dễ thương lắm,
rồi cái ba má tui đặt tên tui là Mộng Hoa, hèn chi ông bà quở, bây giờ
làm sao đây ba. Tui cũng hiền như cục bột, đứa con nít trong xóm, tui
cũng không dám mích lòng, mà sao kỳ, tui khổ triền miên.
- Tôi nói cái nầy bà đừng sợ, có người ghen ghét bà muốn hại bà.
- Trời ơi ai mà ác nhơn sát đức vậy không biết?
Tôi ngẫm nghĩ đây không phải là coi bói thông thương mà hai người
đàn bà tâm sự với nhau, ai cũng đã qua thời con gái, giở nuối tiếc kiếm
cớ nhắc lại, đôi khi chỉ để khen mình. Mẹ tôi xào bộ bài tây:
- Con đầm rô nầy, người nữ nầy hại bà chớ ai vô đây, còn thằng tây già
nầy là chồng hiện tại của bà, bà có tới bốn đời chồng, mà không lần nào
trọn chuyện tình ngãi. Chồng bà lớn tuổi hơn bà phải không, bà phải có
người chồng nhỏ tuổi hơn, bà mới có hạnh phúc.
Tôi lại nghĩ, tất nhiên là vậy rồi, bao giờ thì trong các cuộc hôn nhân
người chồng luôn lớn tuổi hơn người vợ. Bà khách có vẻ hối tiếc, số
phận người phụ nữ thật truân chuyên.
Vẻ hối tiếc hiện rõ trên khuôn mặt người đàn bà nầy, nó đã có quá
nhiều nếp nhăn theo thời gian. Mẹ tôi chỉ một con bài:
- Hồi còn trẻ bà hết lòng thương người trai nầy, tức là ở kế bên nhà bà,
nhưng hai bên gia đình không đồng ý, trắc trở cho tới bây giờ, đúng
chưa.
Bà khách bật khóc, bây giờ chỉ còn một mình bà nói, còn Mẹ tôi lắng
nghe, câu chuyện thật dài, cho tới trời xẩm tối. Bà khách trả tiền công
coi bói cho Mẹ tôi, Mẹ tôi tiễn chân người đàn bà đáng thương nầy ra
cửa rạp.
Tôi còn nghe vẳng lại lời khuyên chí tình của Mẹ tôi:
- Tánh bà khổ vì thương người, không phải ai cũng một bụng như mình
đâu, nhứt là đàn ông, cái bụng bà tốt, nhưng mà bà còn phải trả nợ trần
ai nhiều. Kiếp trước bà là đàn ông, bỏ bê, hất hủi nhiều người, phụ tình
nhiều người, phụ tình thì tình phụ, cái số của bà là vậy.
Đoạn nầy tôi nghe như trong chuyện cổ tích nào đó, mà Mẹ tôi hay kể
cho mọi người nghe. Không sao, Mẹ tôi và bà khách không có gì giận
nhau trong chuyện coi bói, chỉ có một chuyện, có lẽ người khách còn
phải lo, là con đầm.
Người nữ rắp tâm hại bà, nhưng theo tôi sự lo lắng đó vô ích, bởi vì kẻ
thủ ác đó vẫn nằm trong bộ bài, nghĩ vậy vì tôi chưa biết câu chuyện về
sau nầy của Cha tôi với những quân bài ác liệt.
Mẹ tôi coi bói như nói chuyện đời, việc nầy giúp bà có chút tiền mọn,
lai rai bỏ vô con heo đất. Con heo đất nầy Mẹ tôi mua đã lâu, để khỏi
mua con heo đất khác, bà có một cách riêng, khi con heo đất “ăn no” bà
đập một lỗ nhỏ dưới bụng nó moi lấy tiền ra, bà tiện tặn dán cái bụng
nó lại bằng giấy báo, khi nào heo lại “ăn no” bà chỉ có việc xé mảnh
giấy báo đó, không đập con heo.
Tôi thấy con heo đất nầy từ hồi tôi còn nhỏ xíu cho tới khi tôi trở thành
một ông già, nó vẫn ở cạnh Mẹ tôi nhưng bà vẫn nghèo, tôi nghẹn ngào
biết rằng bao năm Mẹ vẫn dành dụm bằng cách đó trong khi Cha tôi
phóng túng vô lo, ông không có chút khái niệm nào về ngày mai. Mẹ
tôi coi con heo đất nầy là quới nhơn hộ mạng cho đủ thứ việc trên đời,
đau ốm, hoạn nạn mưa gió, bà còn một cái bùa hộ mệnh khác là con bồi
rô trong bộ bài tây, với thật nhiều ảo ảnh.
Một đêm vắng lặng sau khi vãn hát, tôi nằm thao thức trên tấm ván
phóng dao. Suất diễn tối rồi em gái tôi suýt chút gặp nạn. Không phải
chỉ lần nầy mà nhiều lần khác, khi tôi đứng vịn ngoài sau tấm ván, tôi
nhìn qua kẽ hở, tôi nghiệm rằng sự nguy hiểm không lường trước được,
không biết nó sẽ xảy ra lúc này. Trò phóng dao, theo tôi nó không xuất
phát từ xứ sở hiền hoà nầy, mà nó du nhập vào đây từ một nơi người ta
ăn thịt người, nơi mà người ta quen việc phóng mũi dao tiêu diệt con
mồi.
Biết bao nhiêu đêm tôi cứ suy nghĩ về cái sự vô lý của trò diễn đầy bạo
lực nầy, một người đứng im cam chịu hàng chục lưỡi dao bén ném về
phía mình, buồn nhứt người đó lại là em gái tội nghiệp của tôi, nó như
bị đóng đinh lúc còn sống. Sao chỉ mỗi một mình tôi thấy điều đó, mà
nào phải tôi đây là bậc cứu nhân độ thế cho cam, tôi cũng là một con
người nhỏ bé tội nghiệp, một con kiến bò quanh miệng chén. Kẻ thủ ác
vô hình nào đó tinh nghịch tạo nên hoàn cảnh nầy chăng, tôi nghiệm ra
trong đó có đồng tiền là thống soái, còn thói vô tâm nữa, nó là câu
chuyện của muôn đời.

DAI 7 KY 1


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "DAI 7 KY 1": http://123doc.vn/document/570753-dai-7-ky-1.htm


Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
B.Chuẩn bị
- Gv:bảng phụ ghi bài tập
- Hs ôn qui tắc nhân, chia phân số , t/c cơ bản của phép nhân phân số , đ/n tỉ số
L6.
C.Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
- Muốn cộng trừ 2 số hữu tỉ ta phải làm thế nào ?Viết công thức tổng quát
- Phát biểu qui tắc làm bài 9d
Hoạt động 2 : Nhân hai số hữu tỷ
Gv:Trong tập Q các số hữu tỉ cũng có
phép nhân , chia số hữu tỉ
Ví dụ: -0,2 .
4
3
Em thực hiện ntn?
?Hãy phát biểu qui tắc nhân phân số ?
?phép nhân phân số có những tính
chất gì?
GV:phép nhân số hữu tỉ cũng có t/c
nh vậy.
Vi dụ: - 0,2 .
4
3
Hs: - 0,2 .
4
3
= -
5
1
.
4
3
=
20
3

Hs:phát biểu và ghi với :
x=
b
a
;y =
d
c
(b,d

0 )
x .y =
b
a
.
d
c
=
db
ca
.
.
Hs:TL .
Hs :ghi :
Với x,y,z

Q: x.y =y.x
(x.y).z =x(y.z) ;
x.1 =1.x ;
x.
x
1
=1(x
0

)
Hoạt động 3: Chia hai số hữu tỷ
Gv:với x=
b
a
, y=
d
c
( y

0)
áp dụng công thức chia phân số hãy
viết x:y
Gv:cho Hs làm ví dụ
Gv:cho Hs làm ? sgk T.11
Gv: cho Hs làm bài 12 T.12 sgk
Hs:viết :với x=
b
a
, y=
d
c
( y

0) Ta

x:y =
b
a
:
d
c
=
cb
ad
Ví dụ: -0,4: (-
3
2
)
Hs:=
5
2

.
2
3

=
5
3
Hs :lên làm .
Hs viết cách khác :
a)
16
5

=
8
5
.
2
1

;

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
5
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
b)
10
5

=
8
5
: (-2)
Hoạt động 4 : Chú ý
?hãy lấy ví dụ về tỉ số của hai số.
Hs:chú ý: với x,y

Q ; y

0 tỉ số
x, y kí hiệu
y
x
hay x:y
Hs:
5
2
75,8
;
3,1
0

Hoạt động 5 : Củng cố luyện tập
Gv:tổ chức trò chơi có sẵn ở bảng phụ cho 2 đội chơi.
Hoạt động 6: Hớng dẫn học ở nhà
-Nắm vững qui tắc nhân, chia số hữu tỉ .Ôn tập giá trị tuyệt đối của 1 số
nguyên
-Làm bài 15,16,(T.13 sgk) bài 10,11.14,15(T4,5 SBT)
Ngày soạn: 24/08/2008
Tiết 4,5 Đ4 Giá trị tuyệt đối của một số hữu tỷ
Cộng,trừ,nhân, chia số thập phân
a. Mục tiêu bài học:
- Hs hiểu khái niệm giá trị tuyệt đối của một số hữu tỉ .
- Xđ đợc giá trị tuyệt đối của 1 số hữu tỉ . có kĩ năng cộng, trừ ,nhân, chia, số
thập phân.
B.Chuẩn bị
- Gv: Bảng phụ.

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
6
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
- Hs: Ôn tập giá trị tuyệt đối của một số nguyên .qui tắc cộng ,trừ , nhân , chia
số thập phân.
C.Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
HS1 : Giá trị tuyệt đối của một số nguyên a là gì? Tìm giá trị x biết : | x | = 2
HS2 : Vẽ trục số biểu diễn các số hữu tỉ : 3,5 ;
2
1

;-2
Hoạt động 2 : Giá trị tuyệt đối của một số hữu tỷ
Gv:Tơng tự nh số nguyên ta có :
Gv:gọi 1 Hs nhắc lại
Gv:cho Hs làm ?1
Gv:Công thức xđ số hữu tỉ cũng giống
số nguyên.
Gv:cho Hs làm vd:
Gv:yêu cầu Hs làm ?2
Gv:đa lên bảng phụ:
Điền đúng sai vào ô :
a) | x |

0

x

Q
b) | x |

x

x

Q
c) | x | = -2

x = -2
d ) | x | = - | - x |
e) | x | = - x (x< 0)
Giá trị tuyệt đối của một số hữu tỉ
x, kí hiệu |x|, là khoảng cách từ
điểm x đến điểm 0 trên trục số.
Hs:cả lớp cùng làm
x nếu x

0
| x | =
x nếu x < 0
Hs:Vd: |
3
2
| =
3
2
( vì
3
2
> 0 )
|-5,75 | = - (- 5,75) = 5,75 ( vì
-5,75 <0 )
Hs:cả lớp làm và Hs lên bảng .
Hs:điền
a) đúng
b) đúng
c) Sai
d) Sai
e) đúng
Hoạt động 3: Cộng trừ nhân chia số thập phân
Gv:ví dụ:
a) 1,13 + ( -0, 264 )
Viết dới dạng phân số thập phân ?có
cách làm nhanh hơn?
Gv:hỏi tơng tự
b) 0, 245 2,134
Hs:
100
113

+
1000
264

=
1000
2641130

= -1,
394
Hs:ta cộng nh 2 số nguyên.
Hs:đa về dạng phân số

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
7
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
c) ( -5,2) . 3,14
? có cách nào làm nhanh hơn
Gv:vậy khi cộng trừ nhân chia 2 số thập
phân ta áp dụng nh số nguyên.
Gv: áp dụng: ?3
a. 3,116 + 0,263
b. (-3,7 ) . ( -2,16 )
Gv:cho Hs làm bài 18
4 ) luyện tập củng cố
?Nêu công thức lấy giá trị tuyệt đối của
1 số hữu tỉ.
Hs :làm
Hs:
a. (3,116 -0,263 ) = -2.853
b. ( -3,7) . ( -2,16 ) = 7 ,992
Hs:làm.
Hs:
x nếu x

0
| x | =
x nếu x < 0
Hoạt động 5: Hớng dẫn học ở nhà
- Học thuộc công thức và xd giá trị tuyệt đối của 1 số hữu tỉ
Bài tập :21,22,24,T15-sgk.
- Tiết sau mang máy tính bỏ túi.

Ngày soạn: 24/08/2008
Tiết 6 Luyện tập
a. Mục tiêu bài học:
- Củng cố qui tắc xđ giá trị tuyệt đối của một số hữu tỉ
- Rèn luyện kĩ năng so sánh các số hữu tỉ,tính gía trị biểu thức ,tìm x, sử dụng
máy tính bỏ túi .
- Phát triển t duy Hs trong quá trình tìm giá trị lớn nhất ,nhỏ nhất của bt.
B.Chuẩn bị
Gv:bảng phụ.
Hs:máy tính bỏ túi .
C.Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
HS1: Nêu công thức tính giá trị tuyệt đối của 1 số hữu tỉ ,chữa bài 24

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
8
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
Tìm x biết : a) | x | =2,1 b) | x | =
4
3
và x < 0
HS2 : c) | x | =
5
1
1

d)| x | =0,35 và x > 0
Hoạt động 2 : Luyện tập
Gv:chữa bài 27
Tính bằng cách hợp lí
a) ( -3,8) + [( -5,7 ) +(3,8 ) ]
b) [ ( -9,6) + ( 4,5 )] +[9,6 +(-1,5)]
d. [( -4,9) + ( -37,8) ] + [ 1,9 +2,8 ]
Gv:cho hs điểm
Gv:tính giá trị của bt:
A=(3,1- 2,5) (-2,5+3,1)
áp dụng các t/c của phép tính để tính
nhanh
a) (-2,5 .0,38.0,4) [0,125.3,15.(-8)]
Gv:sử dụng máy tính bỏ túi và làm theo
hớng dẫn .
Sau đó dùng máy tính bỏ túi tính cau a
và cau b
Gv:so sánh số hữu tỉ .
Bài 22(T16.sgk) Gv hớng dẫn hs làm
Gv:Bài 25.(T16-sgk)
a. | x-1,7 | = 2,3
b. | x+
4
3
|-
3
1
= 0

c.| x-1,5 | +| 2,5-x | = 0
Gv:hớng dẫn trị tuyệt đối của 1 số hoặc
bt có gía trị ntn ?
? vậy | x-1,5 | +| 2,5 x | =0
khi vàchỉ khi nào?
Gv:Bài 32.a : tìm giá trị lớn nhất của
biểu thức :A= 0,5 -| x-3,5 |
Bài 27 (a,c,d) (T8.SBT)
Hs:lên làm
a) = [(-3,8)+(3,8)+(-5,7) =-5,7
b) = [(-9,6)+9,6] +[4,5+(- 1,5) ]
=3
d =[( -4,9) + 1,9 ] + [ ( - 37,8) +
2,8 ] =-38
Hs:nhận xét bài của bạn.
Bài 28(T8.SBT)
Hs:A=3,1-2,5+2,5-3,1=0,0.
Hs:suy nghĩ làm bài .
= [ (-2,5.0,4).0,38]- [(-
8.0,125).3,15]=
=(-1).0,38-(-1).3,15=-0,38-(-
3,15)=
=-0,38+3,15=2,77
Hs:làm theo hớng dẫn .
Hs:áp dụng tính a. 5,497;b. -0,42
Hs : làm theo hớng dẫn .
Hs: làm
a)

x= 2,4 + 1,7

x= 4
b) | x+
4
3
| =
3
1


x+
4
3
=
3
1

x
=
12
5

Hoặc x+
4
3
= -
3
1


x =
12
13

Hs:trị tuyệt đối của 1 số hoặc là 1
bt lớn hơn hoặc băng 0.
| x-1,5|

0; | 2,5-x |

0.
Hs: | x-1,5 | +| 2,5-x | =0
x-1,5 =0 x =1,5

2,5 x =0 x =2,5

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
9
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
?| x- 3,5 | có giá trị ntn?
? Vậy - | x-3,5 | có giá trị ntn?

A = 0,5 - | x -3,5 | có giá trị ntn ?
Gv: cho Hs làm câu b tơng tự
Vậy không có giá trị nào của x để
thoả mãn bt.
Bài 32: ( T 8-SBT )
Hs: TL | x-3,5 |

0

x

- | x- 3,5 |

0

x

A = 0,5 - | x 3,5 |

0,5


x
A có GTLN= 0,5 khi x-3,5 = 0 hay
x= 3,5
Hoạt động 3: Luyện tập theo nhóm
- Cho Hs làm việc theo nhóm bài 24a,b
HD: Sử dụng HĐT một cách triệt để,
chú ý khi bỏ dấu của giá trị tuyệt đối
24a)
2422
)31(2)31(4)961(4 xxxx
+=+=++
24b) Rút gọn đợc
23

ba
. Thay a=-2
và b= -
3
, tính đợc 6
123
+
Kết quả
xấp xỉ 22,392
- Mỗi nhóm cử đại diện lên bảng trình
bày kết quả, cả cho nhận xét
Kết quả bài 24
24a) xấp xỉ 21, 029
24b) xấp xỉ 22,393
Hoạt động 5: Hớng dẫn học ở nhà
- Xem lại bài tập đã làm
- Bài tập về nhà: Bài 26 (b,d) (T 7-sgk)
- Ôn tập luỹ thừa bậc n của a, nhân, chia luỹ thừa cùng cơ số .
Ngày soạn: 24/08/2008
Tiết 7 Đ5 Lũy thừa của một số hữu tỷ
a. Mục tiêu bài học: Qua bài này giúp Hs
- Hs hiểu luỹ thừa với số mũ tự nhiên của 1 số hữu tỉ , biết các qui tắc tính tích
và thơng của hai luỹ thừa cùng cơ số , qui tắc luỹ thừa của luỹ thừa
- Có kĩ năng vận dụng các qui tắc trên trong tính toán .
B.Chuẩn bị
- Gv:bảng phụ và máy tính .
- Hs: Ôn tập luỹ thừa với số mũ tự nhiên , qui tắc nhân chia 2 luỹ thừa cùng cơ
số. Máy tính bỏ tui.
C.Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
HS1 : Cho a là số tự nhiên .Luỹ thừa bậc n của a là gì ?Cho ví dụ ?
Hoạt động 2 : Lũy thừa với số mũ tự nhiên
Gv: tơng tự nh số tự nhiên hãy nêu Hs: Luỹ thừa bậc n của số hữu tỉ x là

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
10
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
định nghĩa luỹ thừa bậc n ( )
của số hữu tỉ x .
Gv :nêu CT:
Gv: Giới thiệu qui ớc .
? Nếu viết số hữu tỉ x dới dạng a / b
thì x đợc tính ntn?
Gv:cho học sinh ghi lại và làm ?1
tích của n thừa số x .
Công thức :
x
n
ã
= x.x x với n thừa số
x (x

Q; n

N; n>1 )
x gọi là cơ số , n gọi là số mũ.
x
1
= x;
x
0
=1 ( x

0 )
Hs:
x
n
= (
b
a
n
) =
b
a
.
b
a
.
b
a

b
a
với n
thừa số
bbbb
aaaa


=
b
a
n
n
, (
b
a
n
) =
b
a
n
n
Hoạt động 3: Tích và thơng của hai lũy thừa cùng cơ số
Gv: cho a

N ,m và n

N , m n
thì:
a
n
.
a
m
=? ;
a
m
:
a
m
=?
Gv:tơng tự x Q :m và n N ta
cũng có: Gv: cho Hs làm ?2
? chọn câu trả lời đúng . Gv đa lên
bảng phụ . a.
3
6
.
3
2
=
A:
3
4
; B :
3
6
; C:
3
12
; D :
9
8
; E:
9
12
b
2
2
.
2
4
.
2
3
= ;A :
2
9
; B:
4
9
;
C:
8
9
;D:
2
4
; E :
8
24
;
Hs:
a
n
.
a
m
=
a
nm
+
;
a
n
.
a
m
=
a
nm

Ta có :
x
m
.
x
n
=
nm
x
+
(với x

Q,
mà x và n

N)
x
m
:
x
n
=
x
nm

(với x

Q, mà x và
n

N)
HS:cả lớp làm bài . HS làm
a. B đúng
b. A đúng
Hoạt động 4 : Lũy thừa của lũy thừa
Gv: cho Hs làm ?3 : tính và so sanh
a)
2
)2(
3

2
6
b)
]
)
2
1
(
[
2
5


)
2
1
(
10

? Vậy khi tính luỹ thừa của 1 luỹ
thừa ta làm nh thế nào?
Hs : Làm
a)
2
)2(
3
=
2
2
.
2
2
.
2
2
=
2
6
b)
]
)
2
1
(
[
2
5

=
)
2
1
(
2

.

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
11
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
Gv: Đa ra công thức :
Gv: Cho Hs làm ?4
Gv:Đa lên bảng phụ : đúng hay
sai?
a)
2
3
.
2
4
=
)
2
3
(
4
b)
5
2
.
5
3
=
)
5
(
2
3
Gv: Nói chung
a
m
.
a
n

)(
a
m
n
? khi nào
a
m
.
a
n
=
)(
a
m
n
)
2
1
(
2

.
)
2
1
(
2

ì
ì
)
2
1
(
2

.
)
2
1
(
2

=
)
2
1
(
10

Hs: Khi tính luỹ thừa của 1 luỹ thừa ta
giữ nguyên cơ số và nhân hai số mũ .
Công thức :
)(
x
m
n
=
x
nm.
Hs: làm ? 4
Hs: Sai vì
2
3
.
2
4
=
2
7
;
)
2
3
(
4
=
2
12
a) Sai vì
5
2
.
5
3
=
5
5
;
)
5
(
2
3
=
5
6
Hs: khi m+n = m.n m = n = 2 và
m =n =0
Hoạt động 5 : Củng cố luyện tập
Gv: ? Nhắc lại định ngiã luỹ thừa bậc
n của 1 số hữu tỉ x .Nêu qui tắc chia
hai luỹ thừa cùng cơ số
Gv: Cho Hs làm bài 27. (T.19.sgk)
Bài 33 :sử dụng máy tính bỏ túi .
Gv: yêu cầu Hs tự đọc sgk rồi tính
Gv: giới thiệu
)5,1(
4
đợc tính:
1,5 SHI FT
x
y
4 = 5,0625
Hs:TL và ghi công thức
x
n
= x.x.x x (với n thừa số )
Hs: 2 em lên bảng ,Hs ở dới làm vào
vở
)
3
1
(
4

=
3
)1
4
4
(

=
81
1
)
4
1
2(
3

=
)
4
9
(
3

=
4
)9(
3
3

=
64
729

=
64
25
11


Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
12
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
)2,0(
2

= 0,04 ;
)3,5(
0

=1
Hs:thực hành trên máy tính .
5,3
2
= 12,25 ;
5,1
4
= 5,0625
Hoạt động6: Hớng dẫn học ở nhà
Học thuộc đinh nghĩa . luỹ thừa bậc n của 1 số hữu tỉ
Bài tập số 29,30, 32 ( T19 .sgk). Đọc mục: có thể em cha biết
Ngày soạn: 07/09/2008
Tiết 8 Đ6 Lũy thừa của một số hữu tỷ (Tiếp)
a. Mục tiêu bài học: Qua bài này giúp Hs
- Hs nắm vững hai qui tắc luỹ thừa của một tích và luỹ thừa của một thơng.
- Hs có kĩ năng vận dụng các qui tắc trên trong tính toán .
B.Chuẩn bị
- Gv: bảng phụ
- Hs: bảng nhóm .
C.Tiến trình dạy học
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
Hs1: phát biểu luỹ thừa bậc n của 1 số hữu tỉ x
Hs2: viết công thức tính tích và thơng hai luỹ thừa cùng cơ số , tính luỹ thừa
của 1 luỹ thừa
Hoạt động 2 : Lũy thừa của một tích
Gv: Nêu câu hỏi ở đầu bài tính nhanh
tích nh thế nào?
Gv: Cho Hs làm ?1
Tính và so sánh
a)
5.2
2

2
2
.
5
2
b)
)
4
3.1
.
2
1
(
3

)
2
1
(
3
.
)
4
3
(
3
Hs:
a)
5.2
2
=
10
2
= 100 ;
2
2
.
5
2
=4.25=100
b)
)
4
3.1
.
2
1
(
3
=
)
2
1
(
3
.
)
4
3
(
3
= = =
8
1
.
64
27
=
512
27
=

Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
13
Giáo án đại số 7 Năm học : 2008-2009
?Muốn nâng một tích lên một luỹ thừa ,
ta có thể làm ntn?
Gv: Đa ra công thức
Gv: Đa c/m ở bảng phụ lên
Ta có :
).( yx
n
= (x.y) . (x.y)
(x.y)=
= ( x.x.x x).( y.y .y ) =
x
m
.
y
n
(với n thừa số )
Gv:cho Hs áp dụng làm bài ?2
a) Tính
)
3
1
(
5
.
3
5
b)
)5,1(
3
.8
Gv:lu ý tác dụng cả hai chiều .
? Viết các tích sau dới dạng của một số
hữu tỉ
a)
10
8
.
2
8
; b)
25
4
.
2
8
c)
15
8
.
9
4
=
)
2
1
(
3
.
)
4
3
(
3
=
)
4
3
.
2
1
(
3
Hs : Ta muốn nhân 1 tích lên một
luỹ thừa ta có thể nâng từng thừa
số đó, rồi nhân các kết quả tìm đợc
.
).( yx
n
=
x
m
.
y
n
với n


N
Hs:làm ?2
a) =
3
5
1
.
3
5
b) =
)5,1(
3
.
2
3
=
)2.5,1(
3
=
3
3
=27
Hs: Lên bảng
a)
20
8
;b)
10
8
c)
45
8
Hoạt động 3: Lũy thừa của một thơng
Gv:Cho Hs làm ?3
a)
)
3
2
(
3


3
)2(
3
3

Hs:cả lớp cùng làm và hai Hs lên
bảng thực hiện cách làm .
a)
)
3
2
(
3

=
3
2

.
3
2

.
3
2

=
27
8


Giáo viên : Nguyễn Đức Tính

Trờng THCS Hoằng Lu
Trang
14