1) Chỉ định người thừa kế
Là chỉ định ai hoặc những ai được hưởng di chúc của người lập di chúc sau
khi người đó chết. Thông thường, một người bao giờ cũng mong muốn rằng, sau
khi chết tài sản của mình sã được chuyển dịch cho những người gần gũi, thân thiết
nhất. Mong muốn này được thể hiện rất rõ trong di chúc mà họ đã lập trước khi
chết.
Vì thế, người được chỉ định trong di chúc thường là những người thuộc diện thừa
kế theo luật của người lập di chúc. Họ có thể là vợ hoặc chồng của người để lại di
sản được xác định theo quan hệ hôn nhân; là con,cha, mẹ, anh chị em ruột của
người để lại di sản theo quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng ( cha,mẹ –
con nuôi hay con – cha,mẹ kế). Tuy nhiên, những người thừa kế được xác định
trong di chúc không chỉ là những người nằm trong phạm vi nói trên. Họ có thể là
bất cứ ai, không nhất thiết phải là người thừa kế theo pháp luật của người lập di
chúc ( trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hằng
năm,nuôi trồng thủy sản), miễn là đó là ý chí thực sự tự nguyện của người lập di
chúc.
2) Truất quyền hưởng di sản
Người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của người hoặc những
người thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật thì
những người đã được pháp luật xác định là người thừa kế của người để lại di sản
sẽ được hưởng di sản đó. Tuy nhiên, thừa kế theo pháp luật chỉ là sự dự liệu để
dịch chuyển di sản trông những trường hợp không thể dịch chuyển di sản theo ý
chí của người để lại di sản được. Do vậy, có những người thừa kế, dù đã đáp ứng
đủ các điều kiện và có quyền hưởng di sản theo pháp luật nhưng quyền hưởng di
sản đó sẽ bị mất nếu họ bị người để lại di sản truất quyền thừa kế.
5
Tôn trọng ý kiến của người để lại di sản, pháp luật thừa kế nước ta cho phép người
lập di chúc phế truất quyền hưởng di sản của một người thừa kế nào đó (nếu
muốn). Hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về “truất quyền hưởng di sản”.
Có quan điểm cho rằng người lập di chúc không cho người thừa kế nào hưởng di
sản theo di chúc thì người đó là người bị truất quyền. Theo quan điểm này, có hai
cách truất quyền khác nhau:
Truất quyền hưởng di sản được nói rõ: là việc người lập di chúc tuyên bố
minh bạch, công khai trong di chúc là một hay nhiều người thừa kế theo pháp luật
nào đó không có quyền hưởng di sản.
Truất quyền hưởng di sản không được nói rõ: là người lập di chúc chỉ định
một hoặc nhiều người để hưởng toàn bộ di sản nhưng lại không nói gì đến những
người thừa kế theo pháp luật không được chỉ định.Khi đó người không được chỉ
định trong di chúc trở thành người bị truất quyền hưởng di sản không được nói rõ.
Theo quan điểm này,người bị truất quyền hưởng di sản không mất tư cách người
thừa kế mà họ có được do luật định.
Quan điểm khác cho rằng,chỉ coi người thừa kế theo pháp luật bị truất quyền
hưởng di sản nếu trong di chúc, người lập di chúc đã nói rõ là truất quyền hưởng
di sản của họ. Khoản 1, điều 648 BLDS 2005 quy định người thừa kế có quyền
“truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”. Theo quy định này, người bị truất
quyền bao giờ cũng là người thừa kế theo luật và vì thế, khi họ bị truất quyền đó
thì đương nhiên họ không phải là người thừa kế theo luật của người lập di chúc
nữa. Nói cách khác, người thừa kế đã bị truất quyền hưởng di sản thừa kế mà họ
có được do luật định.
Người thừa kế theo pháp luật nhưng không được chỉ định trong di chúc thì
khác với người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản, vì họ là những người không
được hưởng di sản theo di chúc nhưng họ không bị mất tư cách người thừa kế mà
họ có được do luật định. Chính vì vậy, tình trạng của người thừa kế đã bị truất
6
quyền hưởng di sản với người không được chỉ định trong di chúc là hoàn toàn
khác nhau:
- Người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản là trường hợp người thừa
kế theo pháp luật bị người để lại thừa kế nói rõ trong di chúc về việc truất
quyền hưởng di sản của họ. Trong trường hợp di chúc bị vô hiệu toàn bộ,
tức là việc truất quyền hưởng di sản cũng bị vô hiệu thì tư cách người thừa
kế theo luật của những người này không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên trong
trường hợp di chúc có hiệu lực toàn bộ hay vô hiệu một phần mà không
ảnh hưởng đến hiệu lực của việc truất quyền hưởng di sản thì tư cách
người thừa kế theo luật của họ đương nhiên bị mất. Vì vậy trong trường
hợp này, nếu có phần di sản liên quan đến phần di chúc vô hiệu được chia
theo luật thì người đó vẫn không được hưởng. Ví dụ: ông T có số di sản trị
giá 300.000.000 đồng, có bốn người thừa kế ở hàng thứ nhất là E, F, G, H.
Trước khi chết ông có lập di chúc, trong đó truất quyền hưởng di sản của
H và cho E,F,G hưởng những phần di sản bằng nhau. Khi giải quyết thừa
kế, vì E từ chối nhận di sản của ông T nên phần di sản của E se được tiến
hành chia theo pháp luật. Tuy nhiên do H đã bị truất quyền hưởng di sản
nên H cũng không phải là người thừa kế theo luật nữa, phần di sản ( trị giá
100.000.000 đồng) của E chỉ được chia cho hai người thừa kế theo luật
còn lại của ông T là F và G được hưởng.
- Người thừa kế không được hưởng di sản theo di chúc là người không được
người lập di chúc chỉ định hưởng di sản. Trong những trường hợp người
để lại di sản lập di chúc trong đó xác định người thừa kế theo di chúc của
mình thì những người thừa kế theo pháp luật nào không có tên sẽ là người
không được hưởng di sản theo di chúc. Ngoài ra cũng có trường hợp
người lập di chúc đã định đoạt hết tài sản thì những người thừa kế theo
luật không được người lập di chúc định đoạt cho phần tài sản nào cũng là
7
người không được hưởng di sản.Tóm lại, vì người thừa kế không được
hưởng di sản theo di chúc là người có quyền hưởng di sản của người chết
theo quy định của pháp luật nên nếu có một phần di sản nào đó được chia
theo pháp luật thì họ vẫn sẽ được hưởng. Ví dụ, trong trường hợp nêu trên,
H không bị truất quyền hưởng di sản nhưng ông T cũng không để lại di
sản cho H, đến lúc giải quyết thừa kế, vì E từ chối nhận di sản nên phần di
sản đó sẽ được chia đều cho cả F, G và H.
3) Phân định di sản cho từng người thừa kế
Là việc quyết định người thừa kế theo di chúc được hưởng di sản như thế
nào (một phần di sản là bao nhiêu, một số hiện vật nhất định hoặc một số tiền nhất
định trong khối tài sản).
Nếu người lập di chúc cho một người hưởng toàn bộ di sản, thì khi chia di
sản cần lưu ý đến việc dành lại một phần di sản cho cha,mẹ,vợ,chồng,con chưa
thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Nếu chỉ định
nhiều người thừa kế tho di chúc thì người lập di chúc cần phân định rõ mỗi người
thừa kế được hưởng những phần di sản trong khối di sản như thế nào? Nếu người
lập di chúc không phân định rõ phần quyền của mỗi người thừa kế, thì mỗi người
thừa kế được hưởng phần tài sản ngang nhau.
Theo luật định, người lập di chúc có quyền phân chia một cách cụ thêt cho
người thừa kế nào hưởng phần di sản là bao nhiêu, vì vậy quyền phân định di sản
của người lập di chúc được xem xét dưới ba góc độ sau:
- Phân định tổng quát: là trường hợp không xác định rõ phần di sản mà
từng người thừa kế được hưởng. Theo góc độ này, nếu trong di chúc
chỉ có một người thừa kế thì toàn bộ di sản sẽ thuộc về người đó. Nếu
di chúc chỉ định nhiều người thì di sản được chia đều cho những
8
người có tên trong danh sách, nếu những người này có sự thỏa thuận
thì việc phân chia di sản sẽ tuân theo sự thỏa thuận đó.
- Phân định theo tỷ lệ: là trường hợp di chúc nói rõ mỗi người thừa kế
được hưởng một phần di sản theo một tỷ lệ nhất định so với tổng giá
trị của di sản.Vì vậy, khi phân chia di sản theo di chúc thì mỗi người
thừa kế được hưởng phần di sản theo tỷ lệ đã được định sẵn trên tổng
số di sản đang còn vào thời điểm phân chia. Nếu có phần di sản
không còn do người thừa kế đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt thì vẫn
tính vào tổng giá trị khối di sản.
- Phân định cụ thể: là trường hợp người để lại di sản xác định rõ người
thừa kế nào được hưởng di sản là hiện vật gì Vì vậy khi phân chia
di sản, các thừa kế được nhận hiện vật theo sự xác định trong di chúc.
4) Dành một phần di sản để di tặng
Người để lại di sản có quyền dành một phần trong khối di sản để tặng cho
người khác thông qua việc thể hiện ý nguyện trong di chúc. Tài sản tặng cho này
gọi là vật di tặng.
Về nguyên tắc, hiệu lực của việc di tặng được xác định theo hiệu lực của di
chúc. Nghĩa là việc di tặng chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm người lập di chúc chết
và người được di tặng phải còn sống vào thời điểm đó. Mặt khác, người nhận tài
sản di tặng được coi là một bên trong hợp đồng tặng cho nên họ được hưởng di
sản mà không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.
Đồng thời, vì di tặng trong bộ luật dân sự chỉ là một hành vi dân sự đơn
phương nên không cần sự chấp thuận của người thụ tặng, di chúc vẫn được coi là
hợp pháp. Nó chỉ bị thất hiệu, nếu sau khi người lập di chúc chết mà người được
di tặng từ chối quyền thụ tặng.
9
Mặt khác, chỉ được coi là di tặng nếu phần tài sản đó được người để lại di
sản di tặng cho người khác nhưng mới chỉ xác định trong di chúc, và vì vậy đối
tượng của di tặng có thể là một bất động sản nhưng cũng có thể là một động sản.
Người được hưởng di sản theo di tặng khác với người được hưởng di sản theo
thừa kế về quyền và nghĩa vụ. Vậy nên khoản 1,điều 643 BLDS 2005 có áp dụng
cho người được di tặng hay không là một vấn đề cần xem xét.
5) Để lại di sản dùng vào việc thờ cúng
Người lập di chúc còn có quyền dành một phàn tài sản trong khối di sản vào
việc thờ cúng.
Nhân dân ta vốn coi việc thờ cúng tổ tiên là một bổn phận hết sức thiêng
liêng, hệ trọng của con cháu. Đây là một vấn đề đã có từ lâu đời trong tục lệ và
pháp luật Việt Nam. Việc dành ra một khối tài sản của gia đình để lo việc cúng giỗ
ông bà tổ tiên là một tập quán đã ăn sâu vào nếp sống cổ truyền của dân tộc ta.
Tôn trọng và ghi nhận truyền thống đó, bộ luật dân sự hiện nay của nước ta đã ghi
nhận quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng của người lập di chúc. Khoản 1,
Điều 670 quy định:
“ 1.Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào
việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một
người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu
người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận
của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng
vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ
cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.
10
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di
sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số
những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.”
Như vậy, việc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng là do ý muốn
của người để lại thừa kế. Không ai có thể buộc một người phải dành một số di sản
khi chết để con cháu lo việc cúng giỗ ma chay cho họ và tổ tiên nhưng nếu bằng di
chúc, người để lại di sản thể hiện ý nguyện như vậy thì ý nguyện đó phải được tôn
trọng và bảo vệ.
Theo nguyên tắc quyền tự do của người lập di chúc, người để lại di chúc có
thể chỉ định bất cứ ai do mình muốn để quản lý di sản do mình lập ra, và thông
thường, khi người lập di chúc có ý định để lại di sản thờ cúng thì họ đều xác định
ai là người quản lý di sản để thực hiện việc thờ cúng. Tuy nhiên, pháp luật vẫn
phải dự liệu những trường hợp vì lý do nào đó mà trong di chúc không xác định
điều này. Trong trường hợp này thì người quản lý di sản thờ cúng là ai, do những
người thừa kế thỏa thuận cử ra.
Theo tập quán từ xa xưa cho đến nay thì người quản lý di sản thường là
những người sau : con trai trưởng, con cả của người trưởng nam, em trai của
người chết Tuy nhiên theo quy định của BLDS thì người quản lý di sản không
nhất thiết phải là một trong những người nói trên, miễn rằng người đó là do các
thừa kế cùng thỏa thuận cử ra. Mặt khác, quyền để lại di sản thờ cúng còn bao
gồm cả việc xác định nghĩa vụ của người quản lý di sản thờ cúng như thế nào
trong việc phụng tự. Vì vậy để xác định người được giao quản lý di sản thờ cúng
có thực hiện việc thờ cúng hay không cần xem xét các trường hợp sau :
- Nếu trong di chúc đã xác định công việc thờ cúng mà người quản lý
di sản để thực hiện việc thờ cúng không tuân theo sẽ bị những người
thừa kế khác lấy lại di sản thờ cúng giao cho người khác để người đó
trực tiếp quản lý thực hiện việc thờ cúng.
11
- Nếu trong di chúc không xác định công việc thờ cúng thì ngời quản
lý di sản phải thực hiện việc thờ cúng theo thỏa thuận của những
người thừa kế.
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc, pháp luật
nước ta cho phép người đó dành một phần di sản để dùng vào việc thờ cúng và
cũng không cần quy định cụ thể "phần " đó là tỷ lệ bao nhiêu so với giá trị khối
tài sản.
6) Giao nghĩa vụ cho người thừa kế
Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế theo di chúc
trong phạm vi di sản hay phần di sản người đó được hưởng.
Nghĩa vụ của người thừa kế là những nghĩa vụ về tài sản. Theo sự chỉ định trong
di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc vì lợi ích vật chất của người
khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thực hiện như việc trả nợ,
bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, vì những tài sản gắn liền với nhân thân của người
để lại di sản thì không phải là di sản thừa kế nên người thừa kế không phải thực
hiện những nghĩa vụ loại này.
Việc phân định nghĩa vụ được hiểu theo ba góc độ sau :
- Trong trường hợp người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ tài sản
nhưng trong di chúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện
nghĩa vụ đó thì theo quy định của pháp luật, ai hưởng thừa kế người
đó phải thực hiện. Tuy nhiên người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế. Do đó
nếu di chúc chỉ xác định một người thừa kế thì người thừa kế đó phải
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trong phạm vi di sản.
Nếu có nhiều người thừa kế theo di chúc thì tất cả những người đó
phải thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trước khi chia di sản phải từ di sản
đó thực hiện các nghĩa vụ mà người chết để lại. Trong trường hợp di
12
sản đã chia thì mỗi người thừa kế phải thực hiện một phần nghĩa vụ
tương ứng với phần di sản mà mình đã nhận.
- Trong trường hợp người để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ
mà từng người thừa kế phải thực hiện phần đó trong phạm vi di sản
mà mình được hưởng. Phần nghĩa vụ vượt quá số di sản người này
được hưởng sẽ chia đều cho những người thừa kế khác thực hiện
tương ứng với phần di sản mà họ đã nhận.
- Nếu người lập di chúc đã giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế thì
riêng người thừa kế đó phải thực hiện nghĩa vụ ấy. Tất nhiên nếu có
phần nghĩa vụ vượt quá số di sản mà người đó được hưởng thì những
người thừa kế khác phải thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ
được hưởng. Ví dụ : ông A lập di chúc định đoạt di sản trị giá 60triệu
của mình như sau : B hưởng 20 triệu, C hưởng 10 triệu, D hưởng 30
triệu. Khi chết, A còn nợ của E 15 triệu đồng. Ông giao cho C phải
thay ông trả khoản nợ đó. Như vậy theo di chúc, thực tế C không
được hưởng di sản theo di chúc. Ngoài 10 triệu C đã dùng để thanh
toán nghĩa vụ, khoản nợ vẫn còn 5 triệu đồng. Khoản nợ này do B và
D cùng phải thực hiện với tỷ lệ tương ứng : B 2 triệu, D 3 triệu. Như
vậy B còn 18 triệu và D còn 27 triệu.
7) Chỉ định người giữ di chúc, quản lý di sản, phân chia di sản
Để đảm bảo di chúc không bị thất lạc, hư hỏng hay có sự xâm phạm ý
nguyện sau khi người lập di chúc chết, người lập di chúc có quyền chỉ định người
giữ di chúc, quản lý di sản, phân chia di sản.
Thông thường sau khi người để lại di sản chết một thời gian, di sản mới
được phân chia cho những người thừa kế. Để giữ gìn tài sản không bị hư hỏng, đề
phòng trường hợp tài sản có thể bị người khác tẩu tán, chiếm đoạt, người lập di
13
chúc có thể chỉ định trong di chúc người quản lý di sản sau khi người lập di chúc
chết. Người giữ di chúc, quản lý di sản, phân chia di sản có thể là một người,
nhiều người khác nhau tùy thuộc vào ý chí của người lập di chúc.
Nếu di chúc được gửi ở công chứng nhà nước thì cơ quan công chứng phải đảm
bảo giữ gìn bản di chúc theo quy định của pháp luật. Khi người lập di chúc chết
thì cơ quan đó phải công bố di chúc trước những người thừa kế bằng việc sao gửi
di chúc đến tất cả những người có liên quan đến nội dung bản di chúc. Nếu di
chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng
Việt. Tất cả các bản dịch và sao di chúc đó đều phải có chứng nhận hoặc chứng
thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nếu người giữ bản di chúc là cá nhân thì cá nhân đó phải giữ bí mật nội
dung di chúc.Người nhận giữ bản di chúc phải bảo quản, giữ gìn cẩn thận bản di
chúc. Trong thời gian người lập di chúc còn sống, nếu không may di chúc bị thất
lạc, hư hại thì cá nhân giữ bản di chúc phải thông báo ngay cho người lập di chúc
biết. Khi người lập di chúc chết thì phải giao lại bản di chúc cho người thừa kế
hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc.
Nếu người giữ di chúc đồng thời là người được chỉ định công bố di chúc thì
khi người lập di chúc chết, người đó phải công bố di chúc trước những người thừa
kế theo đúng thủ tục như trường hợp cơ quan công chứng là người công bố di
chúc.
Để di sản của người lập di chúc không bị mất mát hư hỏng, pháp luật đã dự
liệu nhiều trường hợp cụ thể nhằm xác định người quản lý di sản là ai, trước hết
người quản lý di sản phải là người được chỉ định trong di chúc, khi nào di chúc
không xác định người quản lý di sản thì sẽ xác định người quản lý di sản theo một
trong các trường hợp sau:
- là người được những người thừa kế cùng thỏa thuận cử ra để quản lý
di sản trong thời gian di sản chưa được chia.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét