Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. Đây có thể là các hiệp định chính phủ đã
ký kết, hoặc các nghị định thư ký kết giữa các bộ ở các quốc gia, hoặc nêu ra sự tự
nguyện thực sự của hai bên ký kết hợp đồng.
Trong phần các điều khoản của hợp đồng người ta phải ghi rõ nội dung của
từng điều khoản.
Theo mức độ quan trọng của các điều khoản có thể chia thành:
Các điều khoản chủ yếu là các điều khoản bắt buộc phải có đối với một hợp
đồng mua bán, thiếu các điều khoản đó hợp đồng không có giá trị pháp lý. Theo
luật thương mại Việt Nam, những nội dung đó là: Tên hàng, số lượng, qui cách,
chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng hộ
và thoả thuận giữa các bên thì mới đưa ra cuộc đàm phán đến thành công.
Những sự nhượng bộ này có thể được thực hiện từng phần nhỏ kế tiếp nhau
hoặc nhượng bộ toàn bộ. Sự nhượng bộ này là kết quả của những cái được và cái
thua trong thương lượng cho nên người đàm phán phải biết kết hợp chặt chẽ giữa
sự nhượng bộ của mình và của đối phương làm sao để đàm phán được thành công
mà các bên đều có lợi, đặc biệt là đạt được mục tiêu đàm phán của mình.
1.3. Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế:
Hợp đồng TMQT có thể được phân loại như sau:
- Xét theo thời gian thực hiện hợp đồng có hai loại hợp đồng:
Hợp đồng ngắn hạn và hợp đồng dài hạn. Hợp đồng ngắn hạn thường được
ký kết trong một thời gian tương đối ngắn và sau khi hai bên đã hoàn thành nghĩa
vụ của mình thì quan hệ pháp lý giữa hai bên về hợp đồng đó cũng kết thúc. Hợp
đồng dài hạn có thời gian thực hiện tương đối dài mà trong thời gian đó việc giao
hàng được thực hiện làm nhiều lần.
- Theo nội dung quan hệ kinh doanh có: Hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập
khẩu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Hợp đồng xuất khẩu là hợp đồng bán hàng cho thương nhân nước ngoài
thực hiện quá trình chuyển giao sở hữu hàng hoá sang cho thương nhân nước ngoài
và nhận tiền hàng.
Hợp đồng nhập khẩu là hợp đồng mua hàng của thương nhân nước ngoài,
thực hiện quá trình nhận quyền sở hữu hàng hoá và thanh toán tiền hàng.
- Xét theo hình thức của hợp đồng có hai loại: Hình thức văn bản và hình
thức miệng. Công ước viên 1980 (CiSG) cho phép các thành viên sử dụng tất cả
các hình thức trên. ở Việt Nam, hình thức văn bản hợp đồng là bắt buộc đối với hợp
đồng thương mại quốc tế cũng phải làm bằng văn bản. Thư từ, điện thoại và telex
cũng được coi là hình thức văn bản.
- Theo cách thức thành lập hợp đồng:Bao gồm hợp đồng một văn bản là
trong đó ghi rõ nội dung mua bán, các điều kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ
ký của hai bên.
Hợp đồng gồm nhiều văn bản như: Đơn chào hàng cố định của người bán
và chấp nhận của người mua, đơn đặt hàng của người mua và chấp nhận của người
bán, đơn chào hàng tự do của người bán, hỏi giá của người mua, chào hàng cố định
của người bán và chấp nhận của người mua.
1.4. Một số hợp đồng thương mại quốc tế:
1.4.1. Hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá dịch vụ:
Việc uỷ thác mua bán hàng hoá và dịch vụ phải được lập thành văn bản với
các nội dung chủ yếu sau:
- Tên địa chỉ các bên ký kết.
- Nội dung công việc uỷ thác: Là uỷ thác mua hay bán hàng hoá dịch vụ …
- Mặt hàng được uỷ thác mua bán, số lượng, chất lượng, qui cách, đặc điểm,
giá cả và các điều kiện cụ thể khác
- Chi phí uỷ thác: Qui định cụ thể phí uỷ thác hoặc các thành phần cấu thành
nên phí uỷ thác.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Phương thức thanh toán:Phương thức thanh toán phí uỷ thác, phương thức
thanh toán tiền hàng hoá được uỷ thác.
- Uỷ thác lại cho bên thứ ba: Qui định bên được uỷ thác được(hoặc không
được) uỷ thác là cho bên thứ ba thực hiện hợp đồng uỷ thác đã ký kết.
- Nghĩa vụ của bên được uỷ thác: Như thực hiện mua, bán hàng hoá, dịch vụ
theo hợp đồng uỷ thác. Thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề có liên quan đến
việc thực hiện hợp đồng. Bảo quản, gìn giữ tài liệu được giao để thực hiện hợp
đồng. Giữ bí mật về những thông tin có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng uỷ
thác. Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác.
- Quyền của bên được uỷ thác: Như yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin,
tài liệu cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng uỷ thác. Nhận phí uỷ thác và yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại do bên uỷ thác gây ra.
- Nghĩa vụ của bên uỷ thác: Như cung cấp thông tin, trả phí uỷ thác, giao tiền,
giao hàng theo đúng thoả thuận và thời gian qui định.
- Quyền của bên uỷ thác: Yêu cầu bên được uỷ thác thông báo thông tin,
khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại do bên được uỷ thác gây ra.
- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
II. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC
TẾ
1. KHÁI NIỆM VỀ LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm về đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Mua bán hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận tiền; Người mua có
nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của hai bên (Điều
luật 46 – Luật thương mại Việt Nam 1997)
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng
hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa, do đó mang đầy đủ các đặc trưng của hợp đồng
mua bán hàng hóa. Ngoài ra hợp đồng này còn có thêm yếu tố quốc tế - là yếu tổ
vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia nên nó còn phải thỏa mãn một số yếu tố do yêu
cầu này đòi hỏi. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng
hóa có yếu tố quốc tế như:
“Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó
các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa được chuyển
từ nước này sang nước khác, hoặc việc trao đổi có ý chí ký kết hợp đồng giữa các
bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau” (Điều 1 – Công ước La Haye 1964
về mua bán quốc tế những động sản hữu hình).
Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế gián tiếp
định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với
những loại hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương
mại tại các quốc gia khác nhau” (Điều 1 – Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế)
Như vậy có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thống nhất về ý
chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài mà thông
qua đó, thiết lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các
chủ thể với nhau.
Những biểu hiện của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế là:
- Các bên tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các thương
nhân có quốc tịch khác nhau và có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau;
- Hàng hóa – đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới quốc gia
hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước
khác nhau;
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc
chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua ở các nước
khác nhau;
- Đồng tiền thanh toán trong mua bán hàng hóa quốc tế là ngoại tệ đối với ít
nhất là một bên trong quan hệ hợp đồng;
- Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế và các tập
quán quốc tế khác về thương mại và hàng hải.
Ở nước ta, trước khi ban hành Luật thương mại 1997, loại hợp đồng này được
thể hiện trong khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại thương” và được quy định; “là
những cam kết giữa một bên là tổ chức xuất nhập khẩu Việt Nam với một bên là
khách hàng nước ngoài nhằm thiết lập, thay đổi, đình chỉ mối quan hệ nghĩa vụ và
quyền lợi trong lĩnh vực mua bán, trao đổi hàng hóa, mua bán xác minh sáng chế và
bí quyết kỹ thuật (know – how) cung ứng dịch vụ gia công …” (Điều 1, Quyết định
127 – BNgT/XNK ngày 18/3/1986 của Bộ Ngoại thương).
Quy chế tạm thời của Bộ Thương nghiệp số 4794/TN XNK ngày 31/7/1991
hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương đã định nghĩa tại
Điều 1: “Hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hóa
có tính chất quốc tế” Đồng thời bản Quy chế cũng xác định: “Tính chất này (quốc
tế) của hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương thể hiện ở những mặt sau:
a. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương là các pháp nhân có
quốc tịch khác nhau.
b. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyể từ nước
này qua nước khác.
c. Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương là
ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng”.
Bản thân khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được pháp
luật hiện hành của nước Việt Nam quy đinh rõ ràng. Điều 80 Luật Thương mại
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1997 chỉ đề cập một loại “ợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài”. Điều quy định này chỉ đề cập đến những điểm khác biệt của hợp đồng này
thông qua sự khác biệt trong quốc tịch của các chủ thể tham gia hợp đồng. Theo
đó”hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết một bên là thương nhân Việt Nam với
một bên là thương nhân nước ngoài”.
Như vậy, có thể thấy rằng hiện chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ
pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chình hợp đồng mua bán hàng hóa có tính
chất quốc tế.
1.2. Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hình thức pháp lý của quan hệ
thương mại quốc tế. Vì vậy, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh loại hợp đồng
này tương đối phức tạp. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể chịu sự điều
chỉnh của các nguồn luật khác nhau như các điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế,
các tập quán quốc tế về thương mại, pháp luật của quốc gia …tùy từng trường hợp
cụ thể.
1.2.1. Điều ước quốc tế:
Là một hình thức chức đựng các quy phạm pháp luật quốc tế. Đó là cam kết
của các quốc gia đối với nhau trong lĩnh vực nhất định. Công ước Viên năm 1969
về Luật điều ước Quốc tế định nghĩa: “Điều ước quốc tế là tất cả các văn bản được
kỹ kết giữa các quốc gia và do luật Quốc tế điều chỉnh”.
Điều 2 pháp luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ngày 24/8/1998 của
Việt Nam đã định nghĩa:
“Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết giữa nước
CHXHCN Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể
khác nhau của luật quốc tế hoặc chủ thể khác nhau của luật quốc tế, không phụ
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thuộc vào tên gọi như: hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, công
hàm trao đổi và danh nghĩa ký kết…”
Như vậy, có thể định nghĩa điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận
bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ
bản của Luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối
với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế.
Xét về chủ thể ký kết, điều ước quốc tế thương mại có thể phân thành hai loại
là điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương. Một điều ước
quốc tế quan trọng trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế là Công ước của Liên
hiệp quốc về mua bán quốc tế được ký kết ngày 11-4-1980. Tại Viên (Áo – sau đây
gọi tắt là Công ước viên). Ngày nay đã có hơn 60 nước phê chuẩn Công ước này.
Công ước viên là kết quả của quá trình thống nhất hóa luật về mua bán hàng
hóa quốc tế của liên hiệp quốc, nhằm loại bỏ những quy định khác nhau trong hệ
thống pháp luật quốc gia về thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữa các bên.
Việt Nam chưa phải là thành viên của Công ước Viên nhưng Công ước này
cũng có thể được các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn làm luật điều chỉnh quan hệ
mua bán của mình với các chủ thể ký kết ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc Việt Nam
chính thức tham gia Công ước Viên sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất
cho hoạt động mua bán giữa thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước
ngoài.
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 hiệp định thương mại song phương,
quan trọng nhất phải kể đến:
- Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU là hiệp định thương mại
chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất sứ của hàng hóa, điều khoản liên
quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng. Hiệp định này trực
tiếp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp nước
ta với các thương nhân trong khối EU.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Hiệp định thương mại Việt Mỹ, được ký kết ngày 13 – 7 – 2000 tại
Washington, D.C và có hiệu lực từ ngày 11 – 12 – 2001.
Các hiệp định này là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các hợp đồng mua bán
hàng hóa, thiết lập giữa các doanh nghiệp của Việt Nam với các doanh nghiệp
thuộc các quốc gia ký kết.
1.2.2. Tập quán thương mại quốc tế:
Các tập quán được hình thành lâu đời trong các quan hệ thương mại quốc tế,
khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận sẽ trở thành
nguồn luật điều chỉnh đối với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau.
Các tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết. Một tập quán
thông dụng trong buôn bán quốc tế được phòng thương mại quốc tế (ICC) tổng kết,
soạn thảo và ban hành là incoterms. Sở dĩ incoterms được các thương mại thừa
nhận trong thương mại quốc tế là do nó giúp các bên tiết kiệm nhiều công sức và
thời gian khi tham gia quan hệ hợp đồng, khi đó có các quy định cụ thể về nội dung
từng điều kiện và các bên chỉ cần lựa chọn một điều kiện là đã chấp nhận tất cả các
nội dung của điều kiện đó. Chẳng hạn nó giúp người bán chào giá một cách đơn
giản mà các bên đều hiểu là trong đó đã có sự phân bổ rõ ràng về chi phí và rủi ro
trong chuyên chở quốc tế giữa người bán và người mua. Tương tự như vậy là trách
nhiệm bảo hiểm và nghĩa vụ làm và chịu chi phí về thủ tục hải quan.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp Việt
Nam càng ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn.
1.2.3. Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại
Các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án được gọi là tiền
lệ pháp, tại các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, các tòa án thường sử dụng một
hay một số phán quyết của tòa án đã được công bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho
giải quyết các tranh chấp tương tự. Trong lĩnh vự thương mại quốc tế, việc công
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhận và sử dụng các phán quyết của tòa án cũng như thừa nhận vai trò phán quyết
của các án lệ đang có xu hướng gia tăng tại các nước có hệ thống pháp luật với
nhau.
Một ví dụ điển hình của việc áp dụng các án lệ tại Anh là vụ tranh chấp giữa
công ty bảo hiểm Yangtse với công ty Lukmangre. Theo hợp đồng, gỗ được bán ra
trước khi được chuyên chở bằng đường biển phải do bên bán lo bảo hiểm. Gỗ được
chở tới cảng, nhưng vì thời tiết xấu, đã bị tổn thất do bè bị trôi. Bên mua hàng kiện
đòi bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm đối với hàng hóa theo hợp đồng mua
bán đã ký kết. Tòa án đã bác yêu cầu đó của bên mua, sau khi đã tham khảo một số
vụ việc cùng loại xảy ra trước đó, phân biệt hai điều kiện giao hàng Ẽ-ship và CÌ,
để kết luật là mọi tổn thất đối với hàng hóa (gỗ) đã được chuyển cho bên mua. Ở
nước ta, tuy tiền lệ pháp không được thừa nhận là các nguồn luật điều chỉnh, nhưng
do sự thiếu vắng của một số quy phạm pháp luật trong các văn bản luật và dưới
luật, việc xét xử các tranh chấp về kinh tế - thương mại thường dựa vào các công
văn hướng dẫn của tòa án nhân dân tối cao để làm cơ sở để giải quyết các tranh
chấp tương tự.
1.2.4. Luật quốc gia
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bên
cạnh các điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và án lệ, luật quốc gia có
vai trò quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ
hợp đồng.
Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
trong các trường hợp:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng của
hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng. Ví dụ trong
trường hợp bán màn tuyn giữa một công ty của Việt Nam và một công ty của Pháp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có điều khoản: “mọi vấn đề không được quy định, hoặc quy định chưa dầy đủ trong
hợp đồng này sẽ được giải quyết theo luật Pháp”.
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế được quy định
trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đương nhiên
trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó. Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng
mua bán hàng hóa thông thường là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật
của nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký kết hợp đồng, luật của
nước mà các bên mang quốc tịch, luật nơi thực hiện hợp đồng…
Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế điều khoản luật
áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó
xác định luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Trong vụ kloseckner
COAG và Gtoil Overseas Inc…, bên bán (Đức) kiện bên mua (Italia) tại tòa án ở
Đức về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo hợp đồng, nhưng bên mua lại gửi đơn
yêu cầu hủy hợp đồng đã ký tại một tòa án ở Italia. Tòa án Châu Âu đã phán quyết
là khi tòa án Đức đã có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp thì việc này sẽ không
được giải quyết ở tòa án Italia nữa, mặc dù bên mua Italia là một chủ thể ký kết hợp
đồng.
Việc thỏa thuận lựa chọn luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải
thông thạo luật nước mình, mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước mình có quan hệ
hợp đồng, luật của nước mình thỏa thuận lựa chọn áp dụng cho hợp đồng để đảm
bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do sự thiếu hiểu biết pháp luật
gây ra.
Thông thường, quyền và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch mua bán
quốc tế được điều chỉnh bằng luật quốc gia hay bằng một điều ước quốc tế. Một
trong những công ước quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét