Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xe khách Thanh Long

Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Vũ Thị Hà Anh
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỒN VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN KINH DOANH
1.1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền
kinh tế, với chức năng chủ yếu là tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo
ra những sản phẩm hàng hoá dịch vụ phục vụ cho mọi nhu cầu của xã hội và nhằm
mục tiêu tối đa hoá giá trị cho doanh nghiệp. Đế có thể tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh thì điều đầu tiên mang tính bắt buộc đối với bất kỳ một doanh
nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển được là phải có vốn. Vốn là điều kiện
tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuấtkinh doanh.
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, muốn tồn tại và phát triển bền vững, doanh
nghiệp phải có khả năng sử dụng vốn của mình sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Từ
đó, không những doanh nghiệp có thể tồn tại và có chỗ đứng trên thị trường mà có
thể sử dụng lợi nhuận từ hiệu quả sử dụng vốn đem lại để tiến hành đầu tư, tái sản
mở rộng quy mô, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh hơn.
 Các quan điểm về vốn kinh doanh
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 5
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” có nghĩa là “tư
bản”. Tuy nhiên, khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác
nhau định nghĩa về vốn và hiện nay vẫn tiếp tục có sự tranh luận về định nghĩa
chính xác của nó.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, Vốn là một trong các yếu tố để
sản xuất kinh doanh (như đất đai, lao động, tiền…), vốn là các sản phẩm được sản
xuất ra để phục vụ cho sản xuất (như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…). Theo
quan điểm này, vốn được xem xét dưới góc độ hiện vật là chủ yếu. Ưu điểm của
quan điểm này là đơn giản, dễ hiểu, nhưng nó chưa nói lên được đặc điểm vận
động cũng như vai trò của vốn trong quá trình sản xuấtkinh doanh.
Theo Karl Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thành
phạm trù tư bản. K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng
dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vì
bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị cho dù
nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà cửa,
nguyên vật liệu, tiền công Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự
sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn
chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K.Marx đã bó hẹp khái niệm về vốn trong
khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị
thặng dư cho nền kinh tế. Điều này không đúng với nền kinb tế thị trường hiện
nay.
Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học),
cho rằng: Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là giá trị của
hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài
chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa trên, D.Begg
đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Thực chất vốn của doanh nghiệp là
biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái
biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử
dụng vốn.
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 6
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, Vốn kinh doanh trong các
doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt, có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất
kinh doanh. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, được sử dụng vào
kinh doanh và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt
động sau. Vốn kinh doanh phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình
thái biểu hiện vừa tồn tại dưới dạng tiền, vừa tồn tại dưới dạng vật tư hoặc tài sản
vô hình nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.
Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai
trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ
thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch toán
và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Thông thường có tiền sẽ làm
nên vốn, nhưng tiền chưa hẳn là vốn. Tiền được gọi là vốn phải đồng thời thoả
mãn các điều kiện sau:
+ Một là, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, tức là: tiền
phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực.
+ Hai là, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức
để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
+ Ba là, khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh
lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền do phương thức đầu tư
kinh doanh quyết định, cụ thể:
- Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh:
- Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại: T- H- T’
- Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh: T- T’
Trên thực tế, một doanh nghiệp có thể vận dụng đồng thời cả 3 phương thức
đầu tư vốn tiền tệ theo các mô hình trên miễn sao đạt mục tiêu có mức doanh lợi
cao và nằm trong khuôn khổ của pháp luật.
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 7
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Qua các phương thức vận động của tiền tệ trên đây cho phép rút ra những
nhận xét sau:
+ Để tiến hành bất kỳ một quá trình kinh doanh nào cũng cần phải có một
lượng tiền ứng trước. Khác với thời kỳ bao cấp, trong nền kinh tế thị trường, lượng
tiền đó không bỗng nhiên mà có, các doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu
hút vốn trên thị trường.
+ Mục đích vận động của tiền vốn là để sinh lời. Trong quá trình vận động,
vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng diểm xuất phát và điểm cuối cùng
của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền. Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với
giá trị lớn hơn. Đây là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn.
Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải quản lí và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn và phát triển
vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Do đó, để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, doanh nghiệp cần nắm vững được bản chất cũng như những đặc
trưng cơ bản về vốn. Chỉ khi nào hiểu rõ tầm quan trọng cũng như giá trị của đồng
vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách có hiệu quả.
 Những đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh:
Một là, vốn là đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, có nghĩa là vốn
được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình (như nhà xưởng, máy móc thiết
bị…) và giá trị của tài sản vô hình (như nhãn hiệu, bản quyền phát minh, sáng
chế ). Với tư cách này, các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đều
không bị mất đi mà sẽ thu hồi được giá trị.
Hai là, vốn phải được vận động và sinh lời: để tiền biến thành vốn thì đồng
tiền đó phải được vận động và sinh lời. Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Lượng tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá
trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ ra ban đầu, đồng thời phải có lãi. Quá
trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 8
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Ba là, vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể đầu
tư vào sản xuấtkinh doanh. Lượng đó phải đủ để mua sắm máy móc thiết bị, đất
đai, nguyên vật liệu… để sản xuất. Để làm được điều này, các doanh nghiệp không
chỉ khai thác vốn của mình mà còn phải tỉm cách huy động vốn từ nhiều nguồn
khác nhau như phát hành cổ phiếu, phát hình trái phiếu, liên doanh liên kết, vay
ngân hàng…
Bốn là, vốn phải có giá trị về mặt thời gian. Trong nền kinh tế thị trường, do
ảnh hưởng cúa giá cả, lạm phát, khủng hoàng kinh tế… nên sức mua của đồng tiền
ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Cho nên khi bỏ vốn vào đầu tư, doanh
nghiệp cần phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn.
Năm là, vốn gắn liền với chủ sở hữu. Khi đồng vốn gắn với một chủ sở hữu nhất
định thì nó mới được chi tiêu hợp lí, sử dụng vốn có hiệu quả để tránh hiện tượng thất
thoát, lãng phí vốn. Ở đây cần phải phân biệt quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng
vốn, tuỳ theo hình thức đầu tư mà người đầu tư và người sử dụng vốn đồng nhất hay
tách rời nhau. Tuy nhiên, dù ở trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên
đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sử dụng vốn của mình.
Sáu là, vốn là một loại hàng hoá đặc biệt. Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ
có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người sở hữu vốn có thể bán
quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Những người có vốn có thể đưa
vốn vào thị trường, những người ần vốn có thể đến thị trường vốn vay và được
quyền sử dụng vốn. Chi phí của việc sử dụng vốn chính là lãi vay. Chính nhờ có sự
tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư
kinh doanh để sinh lợi. Quá trình giao dịch vay mượn này tuân theo quy luật cung
cầu của thị trường.
Từ những phân tích trên, ta có thể nêu một định nghĩa khái quát về vốn như sau:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản
được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ
bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản
xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 9
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt
thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên đến
chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Giá trị nguồn vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh
doanh. Tùy từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh
nghiệp có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh
Nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản
đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Để thuận tiện cho công tác quản lí và sử
dụng vốn, giúp doanh nghiệp có phương thức khai thác và tạo lập vốn kinh doanh
có hiệu quả, cần phải tiến hành phân loại vốn một cách khoa học và hợp lí.
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại như theo nguồn hình thành, theo
phương thức chu chuyển, theo thời gian huy động và sử dụng vốn Tuỳ theo loại
hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn
phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp của mình.
1.1.2.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện, vốn kinh doanh được chia thành vốn hữu hình và
vốn vô hình.
 Vốn hữu hình: bao gồm tiền, các giấy tờ có giá trị và những tài sản biểu
hiện bằng hiện vật (nhà xưởng, máy móc, thiết bị).
 Vốn vô hình: là giá trị của tài sản vô hình (bản quyền, phát minh sáng
chế…)
Việc nhận thức đúng đắn về các hình thái biểu hiện của vốn sẽ giúp việc
quản lý và khai thác triệt để về vốn đặc biệt là vốn vô hình.
1.1.2.2. Phân loại theo nguồn hình thành
 Nguồn vốn chủ sở hữu: thể hiện quyền sở hữu của người chủ về các tài
sản của doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì có nguồn vốn chủ
sở hữu khác nhau:
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 10
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là nguồn vốn do ngân sách nhà nước
cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước lúc mới hình thành doanh nghiệp. Đây là
nguồn vốn được hình thành từ quỹ tích luỹ của ngân sách nhà nước và được dùng
vào mục đích chi phát triển kinh tế.
Hiện nay, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp phát cho các doanh nghiệp
Nhà nước có xu hướng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lượng. Các doanh nghiệp
Nhà nước phải chủ động bổ sung vốn bằng các nguồn tài trợ khác.
- Nguồn vốn tự có: là nguồn vốn do chủ đầu tư bỏ ra. Nguồn gốc của vốn tự
có là tiền để dành, tích luỹ được từ lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp hoặc huy
động vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu.
Nguồn vốn tự có được hình thành đối với doanh nghiệp mới bắt đầu đi vào
hoạt động sản xuất kinh doanh:
 Nếu là doanh nghiệp Nhà nước vốn tự có là vốn điều lệ ngân sách cấp.
 Nếu là doanh nghiệp tư nhân vốn tự có là vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra để
đấu tư.
 Nếu là Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn vốn tự có do các cổ
đông hay thành viên trong Công ty góp vốn.
- Vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh gồm:
 Lợi nhuận chưa phân phối.
 Chênh lệch do đánh giá lại tài sản.
 Các quỹ doanh nghiệp
- Nguồn vốn liên doanh: là những nguồn đóng góp theo tỷ lệ giữa các chủ
đầu tư cùng kinh doanh và cùng hưởng lợi nhuận. Việc góp vốn liên doanh có thể
được hình thành từ nhiều nguồn tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, ví dụ:
 Liên doanh giữa nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn tự có của tư nhân.
 Liên doanh giữa tư nhân với nhau
 Nguồn vốn nợ phải trả
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy động từ các chủ thể khác qua
vay nợ, thuê mua, ứng trước tiền hàng Doanh nghiệp được quyền sử dụng tạm
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 11
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
thời trong một thời gian sau đó phải hoàn trả cho chủ nợ.Trong điều kiện kinh tế
thị trường nguồn vốn vay đóng một vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp gồm:
- Nguồn vốn tín dụng: là khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của
các ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức
tài chính trung gian khác; huy động của cán bộ công nhân viên làm việc trong
doanh nghiệp; vay nước ngoài theo cơ chế tự vay, tự trả hoặc bằng hình thức
doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn cho đầu tư kinh doanh.
- Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp: Đây cũng là một nguồn vốn tương đối
quan trọng trong doanh nghiệp. Nguồn vốn này xuất phát từ việc doanh nghiệp
chiếm dụng tiền hàng của nhà cung cấp (trả chậm), việc chiếm dụng này có thể
phải trả phí (lãi) hoặc không phải trả phí nhưng lại đáp ứng được việc doanh
nghiệp có nguyên vật liệu, điện, nước, để sản xuất kinh doanh mà chỉ phải bỏ ra
ngay lập tức một số tiền ít hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ra ngay lập tức để có được
số nguyên vật liệu, điên, máy móc, để tiến hành sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp
có thể sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích khác. Tuy nhiên, sử dụng
nguồn vốn này cần lưu ý: không nên chiếm dụng quá nhiều hoặc quá lâu một
khoản nợ nào đó vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác, với
thị trường hoặc kiện tụng pháp luật, tốt nhất nên có sự thoả thuận về việc chiếm
dụng vốn.
1.1.2.3. Phân loại theo phương thức chu chuyển
 Vốn cố định
- Khái niệm
Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản cố định
của doanh nghiệp.
- Đặc điểm
+ Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và chuyển dần từng
phần vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ.
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 12
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
+ Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn của
TSCĐ, đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được thu hồi về đủ thì
vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
 Vốn lưu động
- Khái niệm
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu động của doanh
nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm
+ Vốn lưu động chuyển một lần toàn bộ vào giá thành sản phẩm mới được
tạo ra.
+ Vốn lưu động được thu hồi một lần toàn bộ sau khi bán hàng đi thu tiền về
và khi đó kết thúc vòng tuần hoàn của vốn.

 Vốn đầu tư tài chính
Vốn đầu tư tài chính là vốn đầu tư ra bên ngoài của doanh nghiệp nhằm tìm
kiếm lợi nhuận và khả năng đảm bảo an toàn về vốn.
Đối với doanh nghiệp, trước khi đi tới quyết định đầu tư tài chính ra bên
ngoài cần phải hết sức thận trọng, cân nhắc độ an toàn và độ tin cậy của dự án, am
hiểu tường tận những thông tin cần thiết, phân tích đánh giá các mặt lợi hại của dự
án để chọn đúng đối tượng và hình thức đầu tư thích hợp.
1.1.2.4. Phân loại theo thời gian luân chuyển của vốn kinh doanh
 Vốn ngắn hạn là loại vốn có thời hạn luân chuyển trong vòng một năm hoặc
một chu kỳ kinh doanh.
 Vốn trung hạn là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ trên một năm đến ba
năm.
 Vốn dài hạn là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ trên ba năm trở lên.
1.1.2.5. Phân loại theo nội dung vật chất
 Vốn thực (vốn phi tài chính)
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 13
Khoá luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng
Vốn thực là toàn bộ tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất và dịch vụ gồm: máy
móc thiết bị, vật kiến trúc nhà cửa Nó tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất
kinh doanh.
 Vốn tài chính
Vốn tài chính là biểu hiện dưới dạng tiền, chứng khoán và giấy tờ có giá trị như
tiền, phần vốn này dùng vào việc mua tài sản, máy móc thiết bị, tài nguyên khác. Nó
gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua công tác đầu tư.
1.1.3. Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Vốn là điều kiện
không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh.
1.1.3.1. Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp. Về mặt
pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và
phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh vực
kinh doanh đó. Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại
của doanh nghiệp trước pháp luật. Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo
quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy
định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo
hiểm, Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ.
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy
định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ
hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp.
1.1.3.2. Vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại
hình sản xuất kinh doanh nào. Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P=
F(K, L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnh
Sinh viên: Vũ Thị Hà Anh - Lớp: QT 902N 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét