Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải
chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy
đủ vốn và lãi.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
- Theo hình thức quản lý thì rủi ro tín dụng bao gồm hai loại:
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: Đối với rủi ro này ngân hàng
phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh
hưởng của rủi ro, đồng thời dự kiến được thời gian phát sinh từ đó có những
biện pháp phòng ngừa và hạn chế ở mực thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra cho
ngân hàng. Những rủi ro này thường ro tính chủ quan của con người gây ra,
có thể do khách hàng gây ra như kinh doanh kém hiệu quả hoặc quản lý yếu
kém, có thể do nguyên nhân từ phía ngân hàng như không tuân thủ nguyên
tắc cũng như quy trình thẩm định, năng lực, đạo đức cán bộ tín dụng…
Thông thường là do khách hàng gây ra rủi ro này.
+ Rủi ro tín dụng không kiểm soát được: Đây là loại rủi ro mà ngân
hàng không thể dự đoán trước được , không biết chúng sẽ xảy ra vào thời
điểm nào, cũng như không thể tính toán một cách chính xác được những ảnh
hưởng thiệt hại mà chúng gây ra. Những rủi ro này chủ yếu do những bất lợi
về yếu tố tự nhiên như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, hoả hoạn…Ngoài ra rủi ro
này còn do những thay đổi cơ chế cũng như chính sách của nhà nước.
- Theo tính chất của rủi ro thì chia làm hai loại:
+ Rủi ro sai hẹn: Rủi ro này xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc
và lãi đúng hẹn như trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ngân hàng và
khách hàng.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Rủi ro mất vốn: Rủi ro xảy ra khi người vay vốn không trả đầy đủ gốc tiền
vay.
1.2.3. Dấu hiệu và các biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Một số dấu hiệu của rủi ro tín dụng
• Các dấu hiệu liên quan đến mqh với NH.
Trì hoãn hoặc gây khó khăn đối với NH trong quá trình kiểm tra theo
định kỳ hoặc đột suất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tổ chức, hoạt
động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích
minh bạch, thuyết phục.
- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật
trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà
không có sư giải thích minh bạch, thuyết phục.
- Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ
- Đề nghị gia hạn điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc
thiếu căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều
chỉnh kỳ hạn nợ
- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại NH, xuất hiện
nhiều thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong
tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của KH.
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn.
- Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn.
- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng, không có khả năng hoàn trả hoặc
KH không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi còn nợ chậm
hơn dự tính.
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá
nhu cầu dự kiến.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tài sản bảo đảm không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với
định giá khi cho vay. Có dấu hiện tài sản đã cho người khác thuê, bán
hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại.
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn
khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của NH.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện
• Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh của KH
- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự
kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
- Nhiều thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ
hoạt động của KH.
- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự
gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi
phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao
thông đắt tiền.
- Thay đổi thường xuyên ban điều hành.
- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành,
tranh chấp trong quá trình quản lý.
- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án
sai dẫn đến việc đầu tư dự án không hiệu quả.
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, dịch vụ mới.
• Nhóm hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của NH
- Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu
tính bảo đảm của khách hàng về việc duy trì, khoản tiền gửi lớn hay các lợi
ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng,
năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của NH
- Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng
hạn như rút nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty con hạch
toán độc lập
- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng
mập mờ, không rõ ràng không sê dịch hoàn trả đối với từng khoản vay, có ý
thoả hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặcn dù biết có tiềm ẩn
rủi ro.
- Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo để kẽ hở cho
khách hàng lợi dụng
- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không
thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của NH.
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không
đầy đủ. Các quy định hiện hành phê duyệt tín dụng.
1.2.3.2. Các biểu hiện của rủi ro tín dụng
* Nợ có vấn đề: là những khoản cho vay mặc dù chưa đến hạn và
chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trình theo dõi, nhân viên ngân
hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấu hiệu kém lành mạnh, có
nguy cơ trở thành nợ quá hạn. Khoản cho vay có vấn đề được xây dựng dựa
trên quy định của ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn,
cán bộ tín dụng thường xuyên kiểm tra đánh giá các hoạt động của dự án có
tuân thủ các điều đã ghi trong hợp đồng tín dụng không. Có như vậy mới
hạn chế được khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc đầu tư vào các
hoạt động kinh doanh có rủi ro cao dễ dẫn đến họ không có khả năng trả nợ
cho ngân hàng.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
* Nợ quá hạn: là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến
hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng
nhất của rủi ro tín dụng, nó là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn
hảo, khi người vay vi phạm nguyên tắc tín dụng là phải hoàn trả đầy đủ cả
gốc và lãi đúng hạn, gây mất lòng tin của người cấp tín dụng với người được
cấp tín dụng. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì càng có nhiều các khoản nợ
chưa được thanh toán đùng thời hạn như trong hợp đồng khi đó rủi ro của
ngân hàng càng lớn. Thường thì các ngân hàng thường dùng chỉ tiêu nợ quá
hạn để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/Dư nợ
Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng cho vay thì có bao
nhiêu đơn vị tiền tệ ngân hàng không thể thu hồi đúng hạn tại thời điểm xác
định. Chỉ tiêu này chỉ phản ánh phần nào của nợ quá hạn. Để hiểu được bản
chất của nợ quá hạn ta phải hiểu được nguyên nhân cụ thể của nó. Thứ nhất
là do kỳ hạn nợ không đúng, không phù hợp với chu kỳ thu nhập của người
vay. Khi đến hạn trả nợ người vay không thể trả được nợ, gây ra nợ quá hạn.
Thứ hai là do đảo nợ hoặc giãn nợ. Nhiều khoản nợ người vay không có khả
năng hoàn trả có thể được đảo nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế. Để
che dấu ngân hàng cấp trên khách hàng và nhân viên ngân hàng thoả thuận
với nhau vay một khoản mới để trả nợ cũ. Hoặc nhân viên ngân hàng có thể
thực hiện giãn nợ đối với những khoản nợ mà chắc chắn người vay không
thể trả được. Những hành vi này lam cho không phản ánh đúng rủi ro tín
dụng. Thứ 3 là do chính sách vay: Có nhiều các khoản cho vay khó đòi
không thể thu hồi bằng phát mại tài sản. Những khoản cho vay này chủ yếu
là những khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ. Nợ quá hạn là rủi ro
trong hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng. Rủi ro là không thể tránh khỏi
đối với ngân hàng. Chính vì vậy ta chỉ có những biện pháp hạn chế rủi ro tín
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng. Rủi ro tín dụng coi là hiện tượng bình thường. Tuy nhiên cũng phải có
tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý vì nếu nợ quá hạn cao quá thì ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động của ngân hàng vì không thu hồi được nợ. Xác định tỷ lệ nợ quá
hạn là rất cần thiết, nhiều nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ ở
mức dưới 5% là chấp nhận được và được coi là ngưỡng an toàn trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng.
* Nợ khó đòi: là khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ gia hạn nợ. Đây là
những khoản nợ ma ngân hàng khó có khả năng thu hồi được của người vay
nếu không muốn nói là khả năng thu hồi băng không. Chính vì vậy khi xuất
hiện nợ khó đòi thì ngân hàng phải có quỹ dự phòng bù đắp rủi ro đủ lớn để
có thể loại bỏ nó ra khỏi Tài sản có của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ khó đòi = Nợ khó đòi/Tổng dư nợ
* Tổn thất tín dụng: Có thể nói đây là biểu hiện rõ ràng nhất của rủi ro
tín dụng, là sự mất mát vốn trong hoạt động tín dụng. Thể hiện ở chỗ khoản
vay không thu hồi được. Tổn thất tín dụng được đo lường bằng chỉ tiêu tổn
thất tín dụng ròng:
Tổn thất tín dụng = Khoản cho vay bị mất – Giá trị thu hồi được
1.2.4. Các mô hình phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng
• Phân tích tín dụng
Đối với mỗi đơn xin vay, cán bộ tín dụng cần phải đi sâu vào phân tích
mức độ tín nhiệm của người đi vay, phải xem xét xem hợp đồng tín dụng
được ký kết có đúng đắn, hợp lý không và ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi
bằng tài sản bảo đảm. Một số khách hàng có tín nhiệm cao thì không cần có
bảo đảm tín dụng.
• Kiểm tra tín dụng
Kiểm tra tín dụng không phải là việc thừa, lãng phí mà rất cần thiểt để
hình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh. Nó
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không những giúp cho nhà quản lý nhận ra những vấn đề một cách nhanh
chóng mà còn có tác dụng kiểm tra thường xuyên sem cán bộ đã có chấp
hành đúng chính sách cho vay của NHNN. Mặt khác, nó giúp Hội đồng quản
trị và Ban giám đốc điều hành trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro với
NH từ đó đưa ra biện pháp phòng chống những định hướng chính sách và
chiến lược tăng vốn chủ của NH.
• Xử lý tín dụng có vấn đề:
Mặc dù NH đã XD cơ chế đảm bảo an toàn lâu dài, nhưng đều không tránh
khỏi 1 số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín
dụng có vấn đề nhiều khoản tài sản bảo đảm tín dụng giảm đáng kể. Các
chuyên gia NH sẽ tìm ra các giải pháp nhằm thu hồi những khoản tín dụng
có vấn đề. Giải pháp tối ưu phải bảo đảm thu hồi được nợ, đồng thời tạo cơ
hội cho cả NH và khách hàng có thể duy trì hoạt động tiếp theo 1 cách bình
thường.
• Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng
+Nhóm chỉ tiêu thanh khoản:
-Chỉ tiêu thanh toán nhanh: Là khả năng chuyển tài sản lưu động thành
tiền 1 cách nhanh chóng của Doanh nghiệp.
Các tài sản lưu động chuyển thành tiền tức thời
Chỉ tiêu thanh =
tóan tức thời Nợ ngắn hạn
Các tài sản lưu động không kế hàn, tồn kho
=
Nợ ngắn hạn
-Chỉ tiêu thanh toán ngắn hạn : Phương án khả năng của Doanh nghiệp
trong việc chuyển đổi TSLĐ thành tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn.
TSLĐ
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu thanh =
toán ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Nếu > 1 thì khả năng trả nợ ngắn hạn là tốt, nếu < 1 tức là Doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ ngắn hạn đúng hạn. Chỉ tiêu này phán
ánh tỷ lệ giữa TSLĐ và nợ NH mà chưa phản ánh chênh lệch số tuyệt đối
giữa chúng.
-Chỉ tiêu vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này đã khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu thanh toán
ngắn hạn.
+ Nhóm chỉ tiêu hoạt động:
Chỉ tiêu này đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của Doanh
nghiệp
- Vòng quay hàng tồn kho
Doanh thu hàng năm
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
- Kỳ thu nợ bình quân :
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân mà công ty phải chờ đợi kể từ khi
bán hàng dựa cho đến khi thu được tiền
Tài khoản phải thu bình quân
Kỳ thu nợ bình quân =
Doanh số bán chịu hàng ngày bình quân
- Vòng quay tổng tài sản :
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực của Doanh nghiệp trong việc sử dụng tổng
tài sản để tạo doanh thu là ntn?
Chỉ tiêu này càng cao càng có lợi so với các đối thủ cạnh tranh.
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Doanh thu hàng năm
Vòng quay tổng tài sản =
Tổng tài sản.
+ Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy : phản ánh quy mô so với vốn cổ phần của DN,
đồng thời là bằng chứng về khả năng hoàn trả các khoản nợ của Doanh
nghiệp trong dài hạn
Tổng dư nợ
Tỷ số nợ =
Tổng tài sản
Chỉ số này còn cao phản ánh hoạt động của Doanh nghiệp dựa vào
nguồn vốn vay càng lớn. Vậy khi cho vay phải xem xét thận trọng nhiều
Doanh nghiệp có hệ số đòn bẩy quá cao so với bình quân ngành những DN
có hệ số đòn bẩy thấp phán ánh hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn
chủ do đó việc NH cho các DN này vay đảm bảo an toàn hơn.
Lợi nhuận trước khi trả thuế và lãi vay
- Khả năng trả lãi tiền vay =
Chi phí lãi tiền vay
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời :
Mục đích của chỉ tiêu sinh lời là để đánh gía hiệu quả công việc sử
dụng các nguồn lực của Doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông.
- Tỷ lệ sinh lời trên Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu =
Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ phát sinh trên 1 đơn vị Doanh thu là bao
nhiêu với cùng 1 mức Doanh thu nếu Doanh nghiệp nào cần, giảm được chi
phí đầu vào thì tỷ lệ sinh lời trên Doanh thu càng lớn
Sinh viên: Lê Quang Hoà Lớp: Tài chính công 44
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét