Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Quyết định 21/2006/QĐ-BTNMT ban hành quy phạm quan trắc hải văn ven bờ do Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường ban hành

1.5.1. Yêu cầu về vị trí quan trắc
Vị trí quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn phải cố định và chỉ thay đổi trong trường hợp có quyết
định của cơ quan có thẩm quyền.
Vị trí quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm phải thỏa mãn yêu cầu sau:
a) Mục đích, yêu cầu đặt trạm;
b) Tài liệu quan trắc được có tính đại diện và đạt được độ chính xác cần thiết;
c) Sau khi đạt được mục đích yêu cầu trên, cần chọn địa điểm quan trắc ở những vị trí thuận lợi
cho quan trắc, cho công tác bảo vệ, bảo dưỡng công trình, thiết bị quan trắc.
1.5.2. Chọn địa điểm quan trắc
Việc chọn địa điểm quan trắc phải tuân thủ theo Quy chế thành lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp,
giải thể trạm khí tượng thủy văn.
1.5.3. Di chuyển địa điểm quan trắc
a) Di chuyển địa điểm quan trắc trong các trường hợp:
- Các công trình quan trắc bị vi phạm hành lang an toàn kỹ thuật nghiêm trọng hoặc địa điểm quan
trắc bị tai biến (sạt lở, nứt lún) không thể tiến hành quan trắc bình thường được;
- Chế độ yếu tố quan trắc tại vị trí quan trắc hiện tại đã thay đổi, không còn tính đại điện;
- Do yêu cầu về xây dựng kinh tế và quốc phòng buộc phải di chuyển.
b) Việc di chuyển địa điểm quan trắc phải được tiến hành thận trọng và tuân thủ Quy chế thành
lập, di chuyển, nâng cấp, hạ cấp, giải thể trạm khí tượng thủy văn.
1.6. Các thiết bị đo, công trình quan trắc ở trạm
1.6.1. Thiết bị đo, công trình quan trắc ở trạm phải bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Đạt được yêu cầu về độ chính xác quan trắc trong mọi tình huống;
b) Thiết bị đo phải có xuất xứ, chứng từ kiểm định;
c) Công trình quan trắc phải chắc chắn, an toàn khi quan trắc;
d) Các thiết bị đo, công trình ở trạm phải được bảo quản, bảo dưỡng theo đúng quy trình, quy
phạm hiện hành;
đ) Phải có thiết bị đo, vật tư dự trữ.
1.6.2. Thiết bị đo ở trạm phải được trang bị tương ứng với nhiệm vụ quan trắc được giao
cho trạm:
a) Thiết bị đo phục vụ cho quan trắc các yếu tố khí tượng được trang bị theo Quy phạm quan trắc
khí tượng bề mặt hiện hành;
b) Thiết bị đo phục vụ cho quan trắc các yếu tố hải văn được trang bị theo Quy phạm này:
- Quan trắc nhiệt độ nước biển tầng mặt: phải có nhiệt kế đo nhiệt độ nước có vỏ bảo vệ bằng kim
loại hoặc máy đo nhiệt độ nước biển;
- Quan trắc độ muối nước biển tầng mặt: phải có máy đo độ muối nước biển;
- Quan trắc mực nước bằng thủy chí, cọc: phải có thủy chí, cọc, thước đo mực nước cầm tay;
- Quan trắc mực nước bằng máy đo mực nước: phải có máy đo mực nước;
- Quan trắc sóng bằng mắt: phải có đồng hồ bấm giây;
- Quan trắc sóng bằng máy đo sóng: phải có máy đo sóng, phao, rùa, xích, đồng hồ bấm giây;
- Quan trắc phụ về gió khi quan trắc sóng (đối với trạm có địa điểm quan trắc sóng cách xa vườn
quan trắc khí tượng quá 1,5 - 2 km, hoặc vườn quan trắc khí tượng ở trên đồi cao): phải có máy
đo gió.
1.6.3. Công trình quan trắc, vật tư kỹ thuật ở trạm
a) Công trình quan trắc mực nước
- Hệ thống mốc độ cao: mốc chính, mốc kiểm tra.
- Tuyến cọc, thủy chí, nhà đặt máy đo mực nước, giếng đặt máy đo mực nước.
b) Công trình đo sóng
c) Vật tư kỹ thuật: xô đựng nước, vật tư bảo quản bảo dưỡng máy (dầu, mỡ, khăn lau, bộ dụng cụ
đồ nghề cơ khí), vật tư kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho thiết bị đo hoạt động (giản đồ, mực ghi giản
đồ, pin chuyên dùng), đèn pin, đồng hồ, dầu thắp, cáp, xích, văn phòng phẩm. Ngoài ra trạm phải
có vật tư dự trữ.
1.7. Nhiệm vụ của trạm
1.7.1. Thực hiện quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.7.2. Cập nhật các thông tin mới liên quan đến công tác quan trắc ở trạm vào hồ sơ kỹ thuật trạm.
Gửi tài liệu quan trắc (sổ quan trắc, bảng số liệu quan trắc,…) và báo cáo tháng về Đài Khí tượng
Thủy văn khu vực đúng thời gian quy định.
1.7.3. Bảo quản chu đáo thiết bị đo, công trình chuyên môn, kiểm tra đồng hồ, bảo đảm quan trắc
đúng giờ quy định.
1.7.4. Tham gia khảo sát kỹ thuật vị trí địa điểm quan trắc các yếu tố, thông báo tin tức về hiện
tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm bằng điện thoại, công văn về cơ quan
quản lý cấp trên và chính quyền địa phương.
1.7.5. Phối hợp với chính quyền địa phương trong việc bảo vệ công trình thiết bị, tài liệu và các cơ
sở vật chất khác của trạm. Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ 1 tháng 1 lần. Nếu có vấn đề
gì xảy ra đột xuất ảnh hưởng đến việc quan trắc, thực hiện nhiệm vụ ở trạm, phải kịp thời báo cáo
lên cấp có thẩm quyền.
1.7.6. Thực hiện các nhiệm vụ khác do cơ quan quản lý cấp trên giao.
1.8. Nhiệm vụ và trách nhiệm của quan trắc viên
1.8.1. Trực tiếp thực hiện quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn theo đúng quy trình, quy phạm
hiện hành.
1.8.2. Chỉnh lý sơ bộ kết quả quan trắc, ghi sổ quan trắc và lập bảng số liệu quan trắc.
1.8.3. Chỉ quan trắc và ghi những gì mà tự quan trắc viên thấy được, không suy đoán, không bịa
số liệu. Khi quan trắc có hiện tượng gì nghi vấn, phải quan trắc lại và ghi chú vào sổ SHV-1.
1.8.4. Không được dùng các thiết bị đo không có chứng từ kiểm định, chứng từ kiểm định hết hạn
để quan trắc.
1.8.5. Trước khi quan trắc phải kiểm tra thiết bị đo, nếu phát hiện thấy hỏng thì phải sửa chữa
ngay. Trường hợp thiết bị đo hỏng không chữa được, phải thay thiết bị đo dự trữ.
1.8.6. Khi gặp sự cố, làm gián đoạn quan trắc (thiết bị đo hỏng không khắc phục được nhưng
không có thiết bị đo dự trữ; công trình quan trắc bị thiên tai phá hỏng,…) phải kịp thời báo cáo lên
cấp có thẩm quyền.
1.8.7. Không được bỏ quan trắc, không nhờ người khác không biết chuyên môn làm quan trắc.
1.8.8. Thực hiện quan trắc đúng giờ và đúng trình tự.
1.8.9. Phải sử dụng và bảo quản thiết bị đo cẩn thận, cần che đậy, lau chùi, không để gỉ.
1.8.10. Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy tắc an toàn lao động.
1.8.11. Thường xuyên học hỏi, trao đổi, trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
1.8.12. Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác do trưởng trạm phân công.
1.9. Giờ quan trắc và trình tự quan trắc
Quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn tại trạm được thực hiện theo giờ của Đài phát thanh Tiếng
nói Việt Nam và theo trình tự ghi trong Bảng 1.
Đối với những hiện tượng khí tượng hải văn nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm, quan trắc viên phải
theo dõi suốt thời gian xảy ra, phải ghi chú, nhận xét và báo cáo những hậu quả của các hiện
tượng ấy.
Ngoài ra, theo chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền có thể làm thêm các quan trắc phụ. Nội dung
quan trắc, thời gian và trình tự quan trắc của quan trắc phụ này thực hiện theo chỉ thị, nhiệm vụ do
cơ quan có thẩm quyền giao.
Trường hợp quan trắc không đúng giờ quy định, phải ghi chú rõ vào sổ quan trắc và cho biết giờ
thực làm quan trắc. Đồng hồ quan trắc hàng ngày phải hiệu chỉnh theo giờ của Đài phát thanh
Tiếng nói Việt Nam. Trạm phải có hai đồng hồ tốt, chính xác đến phút. Nếu đồng hồ nhanh hoặc
chậm quá 5 phút trong một ngày phải chỉnh lại cho chính xác.
Bảng 1: Trình tự quan trắc các yếu tố khí tượng hải văn ven bờ
Giờ quan trắc Yếu tố quan trắc Thiết bị đo Thời gian quan trắc
7, 13, 19 Gió và các yếu tố
sóng biển
Bằng mắt hoặc
bằng máy
Quan trắc trước giờ tròn 15 phút, riêng
kỳ quan trắc 19 giờ có xê dịch theo
mùa.
1, 7, 13, 19 Tầm nhìn xa phía
biển
Các tiêu điểm Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19 Nhiệt độ nước Nhiệt kế hoặc
bằng máy
Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19 Độ muối Bằng máy Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 19 Sáng biển Bằng mắt Quan trắc trước giờ tròn 10 phút.
1, 7, 13, 19 Mực nước biển Thủy chí hay
tuyến cọc
Bắt đầu quan trắc trước giờ tròn 2 - 5
phút, thực hiện quan trắc đúng giờ tròn.
1, 7, 13, 19 Mực nước biển Máy đo mực
nước
Đọc mực nước trên giản đồ và đánh
mốc trên giản đồ đúng giờ tròn.
24/24 Các hiện tượng khí
tượng hải văn nguy
hiểm và diễn biến
Bằng mắt hoặc
bằng thiết bị đo
Quan sát, theo dõi diễn biến và ghi
chép trong suốt thời gian xảy ra.
1.10. Ghi và chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc
1.10.1. Ghi kết quả quan trắc
a) Sau mỗi kỳ quan trắc, số liệu quan trắc và số đọc trên máy phải ghi vào sổ quan trắc bằng bút
chì đen, chữ viết phải rõ ràng, đúng chỗ, đúng quy phạm.
b) Tuyệt đối không được dùng bút chì màu, không được tẩy hoặc xóa. Khi cần chữa những chữ
hoặc số đã ghi sai thì dùng bút chì gạch chéo từ góc trên trái sang góc phải, sao cho khi gạch vẫn
còn đọc được số liệu và ghi số đúng lên góc phải phía trên chữ hoặc số đã gạch bỏ.
c) Khi tiến hành quan trắc, nhưng vì một lý do nào đó mà không quan trắc được thì ghi dấu "x" và
ghi chú nguyên nhân không quan trắc được vào sổ SHV-1 (trừ trường hợp quan trắc sáng biển).
1.10.2. Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc
a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải bảo đảm cơ sở khoa học và phải tuân thủ theo quy trình,
quy phạm và tài liệu hướng dẫn chỉnh lý số liệu quan trắc hiện hành. Đối với phương pháp quan
trắc mới và thiết bị quan trắc mới không có trong quy phạm hiện hành thì phải tuân thủ theo hướng
dẫn sử dụng.
b) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải làm các công việc sau:
- Quy hiệu chính cho số đọc trên thiết bị đo;
- Tính các giá trị trung bình;
- Xác định các cực trị;
- Thảo mã điện;
- Chuyển các số liệu đã hiệu chính từ sổ SHV-1 sang bảng BHV-1;
- Kiểm tra, tính toán và chọn cực trị ở bảng BHV-1;
- Chỉnh lý, quy toán giản đồ tự ghi mực nước (đối với trạm có quan trắc mực nước bằng máy tự
ghi);
- Chuyển các số liệu từ giản đồ của máy tự ghi sang bảng BHV-2;
- Kiểm tra, tính toán và chọn cực trị ở bảng BHV-2;
- Viết báo cáo về những hiện tượng đặc biệt.
1.11. Tài liệu kỹ thuật
Để đảm bảo công tác hàng ngày, trạm phải có:
1.11.1. Quy phạm quan trắc hải văn ven bờ và Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt;
1.11.2. Bảng tra độ ẩm;
1.11.3. Mã luật khí tượng bề mặt;
1.11.4. Tập Atlat mây;
1.11.5. Hướng dẫn sử dụng và bảo quản máy và các công trình hải văn;
1.11.6. Hướng dẫn xây dựng các công trình mốc, thủy chí, cọc, thả phao;
1.11.7. Các bảng hướng dẫn nghiệp vụ: tính mực nước, sóng;
1.11.8. Quy tắc an toàn lao động;
1.11.9. Sổ ghi các số hiệu chính máy, số hiệu chính cọc, thủy chí;
1.11.10. Hồ sơ kỹ thuật trạm;
1.11.11. Hướng dẫn chỉnh lý số liệu quan trắc hải văn ven bờ;
1.11.12. Quy phạm đo độ cao hạng I, II, III, IV do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước ban hành năm
1988;
1.11.13. Hướng dẫn sử dụng và bảo quản thiết bị đo mới (đối với trạm có thiết bị đo mới mà trong
quy phạm hiện hành không đề cập đến).
1.12. Gửi số liệu về Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển
Số liệu quan trắc phải được chỉnh lý cẩn thận, kịp thời. Chậm nhất là vào ngày 10 mỗi tháng, tài
liệu quan trắc (sổ SHV-1, bảng BHV-1, BHV-2, giản đồ máy tự ghi mực nước) và báo cáo công tác
tháng của tháng trước phải gửi về Đài Khí tượng Thủy văn khu vực và chậm nhất là vào ngày cuối
cùng tháng sau, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực gửi tài liệu đã kiểm soát về Trung tâm Khí tượng
Thủy văn Biển.
Trường hợp đặc biệt: đối với các trạm khí tượng hải văn ở đảo xa, phương tiện giao thông đi lại
khó khăn, thì thời gian gửi tài liệu quan trắc về Đài Khí tượng Thủy văn khu vực, về Trung tâm Khí
tượng Thủy văn Biển có thể muộn hơn tùy theo tình hình thực tế của trạm.
1.13. Hồ sơ kỹ thuật trạm
Trạm có nhiệm vụ thường xuyên ghi, bổ sung đầy đủ vào hồ sơ kỹ thuật trạm, những thay đổi về
công trình, việc thay thế, sửa chữa thiết bị đo, công trình cũng như việc bổ sung hoặc rút bớt thiết
bị đo, tình trạng thuyên chuyển cán bộ chuyên môn, ý kiến nhận xét của các đoàn kiểm tra…
1.14. Đơn vị đo lường, ký hiệu và các từ viết tắt trong quy phạm
Các đơn vị đo đạc sử dụng trong quan trắc là các đơn vị đo lường hợp pháp của Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một số từ viết tắt được dùng để thuận lợi trong hình thức trình
bày. Ý nghĩa của ký hiệu, đơn vị đo lường, từ viết tắt được thể hiện trong Phụ lục A, Quy phạm
này.
2. QUAN TRẮC TẦM NHÌN XA PHÍA BIỂN
2.1. Quan trắc tầm nhìn xa ban ngày
Việc quan trắc tầm nhìn xa ở trạm khí tượng hải văn phải xác định riêng: về phía biển và phía lục
địa. Tầm nhìn xa về phía lục địa xác định theo 10 cấp từ 0 đến 9. Quan trắc tầm nhìn xa về phía
lục địa phải tuân thủ theo Quy phạm quan trắc khí tượng bề mặt hiện hành.
2.1.1. Khi xác định tầm nhìn xa về phía biển thì dùng Bảng 2, các tiêu điểm có thể chọn là: mũi đất,
các hòn đảo, các phao, đèn pha, cột buồm, ống khói tàu…
Bảng 2: Bảng phân cấp tầm nhìn xa phía biển
Đặc tính tầm
nhìn xa
Khoảng cách
tầm nhìn xa
Cấp quy ước Hiện tượng khí quyển
Tầm nhìn xa rất
xấu
0 - 50 m
50 - 200 m
200 - 500 m
0
1
2
Sương mù rất dày
Sương mù dày
Sương mù vừa phải
Tầm nhìn xa
xấu
500 m - 1 km
1 - 2 km
3
4
Sương mù nhẹ
Mưa rất to hoặc mù hoặc khói vừa phải
Tầm nhìn xa
trung bình
2 - 4 km
4 - 10 km
5
6
Mưa to, mù nhẹ (hoặc khói)
Mưa vừa phải hoặc mù nhẹ (hoặc khói)
Tầm nhìn xa tốt 10 - 20 km 7 Mưa nhỏ hoặc không có giáng thủy
Tầm nhìn xa rất
tốt
20 - 50 km 8 Không có giáng thủy
Tầm nhìn xa
đặc biệt
Trên 50 km 9 Trời hoàn toàn quang đãng (trời trong vắt)
2.1.2. Trường hợp không có đủ số lượng hoặc thiếu hẳn các tiêu điểm về phía biển thì có thể xác
định cấp tầm nhìn xa dựa vào mức độ nhìn rõ nét đường chân trời:
a) Nếu tầm nhìn xa tốt, nghĩa là có thể nhìn thấy hết mặt biển cho tới đường chân trời thì cấp tầm
nhìn xa được xác định bằng mức độ nhìn thấy rõ đường chân trời, nhưng phải tùy theo độ cao của
mắt quan trắc viên (xem Bảng 3);
b) Nếu tầm nhìn xa quá kém đến mức không nhìn thấy đường chân trời thì phải xác định tầm nhìn
xa mặt nước biển ước lượng bằng mắt, bằng máy ngắm sóng hoặc thước ngắm khoảng tầm nhìn
xa.
Bảng 3: Phân cấp tầm nhìn xa về phía biển theo độ cao của mắt quan trắc viên
Độ cao của mắt QTV trên
mặt biển (m)
Cấp tầm nhìn xa
ước lượng
Đường chân trời phía biển
Từ 1 đến 7m
8 và 9
7
6
5
Nét rất thanh, rất rõ.
Rõ, nhìn thấy dễ dàng.
Không rõ (hơi mờ).
Hoàn toàn không nhìn thấy.
Từ 8 đến 27 m
9
8
7
6
Nét rất thanh, rất rõ.
Rõ, nhìn thấy dễ dàng.
Không rõ (hơi mờ).
Hoàn toàn không nhìn thấy.
Quá 27 m
-
9
8
7
Hầu như không bao giờ nhìn thấy đường
chân trời có nét thanh.
Rõ, nhìn thấy dễ dàng.
Không rõ (hơi mờ).
Hoàn toàn không nhìn thấy.
Nếu tầm nhìn xa phía biển theo các hướng không giống nhau thì trong sổ quan trắc sẽ ghi tầm
nhìn xa tốt nhất và xấu nhất cùng hướng tương ứng.
Khi tầm nhìn xa nhỏ hơn 4 km (nghĩa là từ cấp 5 trở xuống) phải ghi thêm ký hiệu hiện tượng giới
hạn tầm nhìn xa (mù, sương mù, mưa…).
2.2. Quan trắc tầm nhìn xa ban đêm
Quan trắc tầm nhìn xa ban đêm về phía biển đều dựa vào bảng phân cấp tầm nhìn xa (xem Bảng
2).
2.2.1. Có thể dựa vào những tiêu điểm ban ngày, chúng chỉ được nhận ra dưới ánh sáng trăng
sao, chứ không được trực tiếp nhìn nguồn sáng hay ánh sáng đèn chiếu tới. Trường hợp thiếu
những tiêu điểm, áp dụng như đối với trường hợp ban ngày.
2.2.2. Trường hợp thiếu tiêu điểm sáng mà trời tối quá thì xác định tầm nhìn xa trước lúc mặt trời
lặn một, hai giờ. Nếu từ lúc đó đến 01 giờ đêm không có hiện tượng nào làm giảm tầm nhìn xa thì
vẫn có thể lấy tầm nhìn xa ban đêm là tầm nhìn xa đã xác định lúc chiều tối.
2.2.3. Không làm quan trắc tầm nhìn xa ban đêm ngay khi vừa ra khỏi nơi sáng, quan trắc viên
phải đứng nhìn trong tối một lúc cho quen mắt (không dưới 10 phút) rồi hãy bắt đầu quan trắc.
2.2.4. Chỉ xác định tầm nhìn xa tới các đèn trông thấy được ban đêm ở biển (kể cả đèn pha, phao
đèn, đèn cảng) nếu đã biết khoảng cách từ các đèn đó và cường độ sáng của đèn không thay đổi.
2.3. Ghi và chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc
2.3.1. Ghi kết quả quan trắc tầm nhìn xa phía biển
Sau kỳ quan trắc, số liệu quan trắc tầm nhìn xa phía biển phải được ghi vào sổ SHV-1. Cách ghi
kết quả quan trắc vào sổ SHV-1 phải tuân thủ theo quy định ở Điều 1.10.1 và Mục 9.2, Quy phạm
này.
2.3.2. Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc tầm nhìn xa phía biển
a) Chỉnh lý sơ bộ số liệu quan trắc phải tuân thủ theo quy định tại Khoản a, Điều 1.10.2, Quy phạm
này.
b) Kiểm tra việc quy đổi từ tầm nhìn xa về cấp tương ứng.
c) Kiểm tra cách ghi ký hiệu hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa.
d) Kiểm tra tính hợp lý giữa hiện tượng giới hạn tầm nhìn xa và cấp tầm nhìn xa.
3. QUAN TRẮC MỰC NƯỚC BIỂN
3.1. Thuật ngữ và giải thích
Trong Quy phạm này các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
3.1.1. Mặt mực chuẩn của nước biển
Mặt mực chuẩn của nước biển là mặt nước đại dương thế giới và các biển phụ thuộc ở thế cân
bằng dưới tác dụng của tất cả các lực tác dụng lên nó.
Mặt mực nước chuẩn này ở thế thẳng góc với lực tổng hợp của tất cả các lực tác động vào khối
nước. Lực chính yếu tác dụng vào các phần tử nước ở đại dương là trọng lực. Vì vậy, nếu quy
ước rằng đại dương ở trạng thái yên tĩnh thì mặt nước đó sẽ luôn luôn thẳng góc với hướng của
trọng lực hay dây dọi.
3.1.2. Mực nước biển quan trắc
a) Mực nước biển quan trắc là tổng của 3 thành phần:
- Mực nước biển trung bình (MSL);
- Thủy triều (T);
- Dao động dư (MR).
Mực nước biển quan trắc = MSL + T + MR.
b) Mực nước biển trung bình là giá trị trung bình của tất cả các quan trắc mực nước trong một chu
kỳ ít nhất là một năm. Mực nước biển trung bình nhiều năm có ý nghĩa rất lớn vì nó được lấy làm
mốc để đo độ cao trên đất liền.
c) Thủy triều là dao động tuần hoàn gây ra do lực tạo triều. Lực tạo triều xuất hiện do tác động của
các lực vũ trụ - các lực hấp dẫn giữa Trái đất, Mặt trăng và Mặt trời. Những nét cơ bản của hiện
tượng thủy triều được quyết định chủ yếu bởi vị trí tương hỗ của Mặt trăng và Trái đất. Thành
phần thủy triều là tính toán được.
d) Dao động dư là thành phần phi triều gây ra do những nhiễu động của thời tiết và nó được xác
định sau khi tách thủy triều ra khỏi dao động mực nước tổng cộng. Dao động dư không có quy luật
cũng giống như biến động của thời tiết. Nước dâng do bão, do áp thấp là thành phần dao động dư
điển hình.
3.1.3. Một số thuật ngữ và định nghĩa cơ bản về thủy triều
a) Độ cao thủy triều là độ cao mực nước triều tính từ mực "0" độ sâu.
b) Nước lớn là mực nước cực đại trong một chu kỳ dao động thủy triều.
c) Nước ròng là mực nước cực tiểu trong một chu kỳ dao động thủy triều.
d) Chu kỳ triều là khoảng thời gian giữa hai lần nước lớn, hoặc hai lần nước ròng liên tiếp nhau.
đ) Biên độ thủy triều là độ cao của nước lớn hay nước ròng tính từ mực nước triều trung bình.
e) Độ lớn triều là hiệu độ cao của nước lớn và nước ròng kế tiếp.
g) Vùng nhật triều đều là vùng có thủy triều với chu kỳ trung bình bằng một ngày mặt trăng
(khoảng 24 giờ 50 phút), hàng ngày có một lần nước lớn, có một lần nước ròng.
h) Vùng bán nhật triều đều là vùng có thủy triều với chu kỳ trung bình bằng nửa ngày mặt trăng (12
giờ 25 phút), hàng ngày có hai lần nước lớn (nước lớn cao, nước lớn thấp) và hai lần nước ròng
(nước ròng cao, nước ròng thấp).
i) Vùng nhật triều không đều là vùng có thủy triều với chu kỳ thay đổi từ nửa ngày sang cả ngày,
nhưng chu kỳ cả ngày chiếm ưu thế.
k) Vùng bán nhật triều không đều là vùng có thủy triều với chu kỳ thay đổi từ nửa ngày sang cả
ngày, nhưng chu kỳ nửa ngày chiếm ưu thế.
l) Nước lớn cao (NLC) là nước lớn lớn hơn trong hai nước lớn xảy ra trong một ngày đối với bán
nhật triều.
m) Nước lớn thấp (NLT) là nước lớn nhỏ hơn trong hai nước lớn xảy ra trong một ngày đối với
bán nhật triều.
n) Nước ròng cao (NRC) là nước ròng lớn hơn trong hai nước ròng xảy ra trong một ngày đối với
bán nhật triều.
o) Nước ròng thấp (NRT) là nước ròng nhỏ hơn trong hai nước ròng xảy ra trong một ngày đối với
bán nhật triều.
p) Triều dâng (TD) là khoảng thời gian từ nước ròng đến nước lớn liền kề.
q) Triều rút (TR) là khoảng thời gian từ nước lớn đến nước ròng liền kề.
r) Kỳ nước cường: trong một tháng vào thời kỳ sóc vọng tức là khi Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất ở
vào vị trí thẳng hàng với nhau, triều lên xuống rất mạnh, có biên độ triều lớn nhất trong tháng, triều
lên rất cao, đồng thời cũng xuống rất thấp.
s) Kỳ nước kém: vào thời kỳ triều trực thế, tức là khi Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất ở vào vị trí
vuông góc với nhau, dao động của triều lên xuống rất yếu quanh vị trí mực nước trung bình, mực
nước không lên cao và không xuống kiệt, biên độ triều rất nhỏ.
3.1.4. Mực nước cực trị tần suất hiếm
Mực nước cực trị tần suất hiếm là mực nước cao nhất cực đại và thấp nhất cực tiểu có thể xảy ra
một lần trong chu kỳ 5, 10, 25, 50 hay 100 năm. Các giá trị cực trị này có tầm quan trọng rất lớn
trong thiết kế các công trình ven biển, chúng được phân tích, tính toán từ các số liệu thực đo.
3.1.5. Mực nước biển dâng
Khi có gió mùa mạnh, áp thấp nhiệt đới hoặc bão, mực nước biển có thể bị dâng lên cao hơn mực
nước trong điều kiện thời tiết bình thường và có thể tràn qua đê biển gây ra ngập lụt.
Mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu: do biến đổi khí hậu Trái đất dần nóng lên làm cho các
núi băng ở hai đầu Bắc cực và Nam cực tan ra, dẫn đến hậu quả là mực nước biển có xu thế tăng
lên với tốc độ trung bình vài mi li mét một năm.
3.1.6. Các loại số "0"
a) Số "0" trạm là mặt phẳng nằm ngang (quy ước) ứng với mực nào đó lấy làm gốc để đo mực
nước và thường được chọn thấp hơn cả mực nước biển thấp nhất có thể xảy ra tại trạm. Độ cao
vị trí số "0" trạm được quy định gián tiếp bằng trị số chênh lệch độ cao của mốc trên số "0" trạm.
Ví dụ: tại trạm Hòn Dấu, mốc chính là +3,35 m trên số "0" trạm. Như vậy số "0" trạm Hòn Dấu ở
thấp dưới mốc chính là 3,35 m.
b) Số "0" độ sâu (hoặc số "0" hải đồ) là mặt phẳng chuẩn quy ước được chọn làm gốc để đo độ
sâu của biển, mặt này là một mặt phẳng nằm ngang, được quy định cho từng vùng biển sử dụng
số "0" này và thường được chọn là mực nước thấp nhất có thể có theo điều kiện thiên văn (nước
ròng thấp nhất) tại vùng này.
c) Số "0" lục địa là mặt phẳng nằm ngang quy ước trùng với mực nước biển trung bình nhiều năm
quan trắc tại một trạm cố định, được lấy làm gốc để đo độ cao của đất liền.
d) Số "0" quy ước, số "0" tuyệt đối: Số "0" lục địa, số "0" độ sâu dùng cho một khu vực, một vùng
nào đó gọi là số "0" địa phương hay số "0" quy ước. Số "0" lục địa, số "0" độ sâu dùng cho toàn bộ
lãnh thổ, lãnh hải của một quốc gia gọi là số "0" Nhà nước hay số "0" tuyệt đối. Ở Việt Nam số "0"
lục địa Nhà nước là mặt mực chuẩn trùng với mực nước trung bình nhiều năm tại trạm Hòn Dấu.
Số "0" độ sâu Nhà nước là mặt mực chuẩn trùng với mực nước triều thấp nhất lịch sử tại trạm
Hòn Dấu. Hệ thống các mốc độ cao trên đất liền có độ cao quy chiếu về số "0" lục địa Nhà nước
gọi là hệ độ cao Nhà nước. Hệ thống các độ sâu đáy biển quy chiếu về số "0" độ sâu Nhà nước
gọi là hệ hải đồ Nhà nước. Độ cao của tất cả điểm trên đất liền (ghi trên bản đồ địa hình) được
tính từ số "0" lục địa trở lên. Độ sâu của tất cả các điểm trên đáy biển (ghi trên bản đồ hàng hải)
được tính từ số "0" độ sâu trở xuống. Vì vậy muốn biết độ sâu thực của biển tại một vị trí nào đó
vào thời điểm nào đó thì phải cộng thêm độ cao thủy triều tại thời điểm đó vào độ sâu ghi trên bản
đồ hàng hải.
đ) Số "0" thủy chí (hoặc thước đo nước cầm tay) là vạch "0" từ đó để khắc các khoảng chia
centimet, deximet, mét trên cột đo nước đó.
3.2. Phương pháp, thiết bị đo mực nước biển
3.2.1. Phương pháp đo mực nước biển:
a) Đo trực tiếp dao động của mặt biển;
b) Đo sự thay đổi áp lực của cột nước;
c) Đo thời gian chênh lệch giữa sóng âm truyền tới mặt nước và sóng âm phản xạ từ mặt nước;
d) Đo thời gian chênh lệch giữa sóng rađa truyền tới mặt nước và sóng rađa phản xạ từ mặt nước;
đ) Viễn thám - đo từ vệ tinh.
3.2.2. Thiết bị đo mực nước biển
Tùy theo các phương pháp đo mực nước khác nhau người ta chế tạo ra những thiết bị đo khác
nhau:
a) Thước đo nước (hay thủy chí), dụng cụ đơn giản nhất;
b) Máy đo mực nước kiểu phao, thiết bị phổ biến nhất;
c) Máy đo mực nước kiểu áp lực;
d) Máy đo mực nước kiểu hồi âm;
đ) Máy đo mực nước kiểu ra đa;
e) Thiết bị đo mực nước từ vệ tinh.
3.3. Địa điểm quan trắc mực nước biển
3.3.1. Địa điểm quan trắc mực nước biển phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
a) Lưu thông tự do với biển khơi;
b) Khá sâu để có thể đo được mực nước ròng thấp nhất có thể xảy ra tại nơi quan trắc;
c) Được bảo vệ, không để cho thuyền cập bến làm hư hỏng công trình và ảnh hưởng đến độ
chính xác của quan trắc;
d) Được che chắn sóng;
đ) Đi lại quan trắc và kiểm tra độ cao của mốc kiểm tra, số "0" thủy chí, đầu cọc tương đối dễ dàng
thuận lợi;
e) Nền phải ổn định không gây sụt lún đối với các công trình đo mực nước.
Các vị trí đặt tuyến đo mực nước ở cảng, vùng có kè bảo vệ, đập chắn sóng, giếng đặt máy đo
mực nước đặt ở trên bờ nối thông với biển bằng ống dẫn hoặc kênh lạch phù hợp với các điều
kiện trên.
3.3.2. Nếu bờ biển ở khu vực quan trắc hoàn toàn thoáng không có khả năng xây dựng các công
trình bảo vệ cho tuyến đo thì cho phép đặt ở cửa sông gần đó, chọn nơi mà tính chất và biên độ
dao động mực nước không khác nhiều so với vùng biển gần đây. Cần quan trắc song song ở vùng
biển và vùng cửa sông một thời gian để so sánh.
3.4. Công trình quan trắc mực nước biển
3.4.1. Việc thiết kế, xây dựng công trình quan trắc mực nước biển phải bảo đảm các yêu
cầu sau:
a) Đạt được yêu cầu về độ chính xác quan trắc trong mọi tình huống;
b) Vững chắc;
c) An toàn và thuận lợi khi quan trắc, bảo quản, bảo dưỡng;
d) Quan trắc được mực nước cao nhất và mực nước thấp nhất có thể xảy ra tại trạm;
đ) Tồn tại lâu dài, ít có khả năng phải di chuyển do quy hoạch, xây dựng, do tai biến, do thay đổi
điều kiện đo đạc làm cho số liệu quan trắc được không mang tính đại diện.
3.4.2. Các mốc độ cao của trạm đo mực nước biển
Mỗi trạm đo mực nước biển phải xây dựng một mốc chính và ít nhất một mốc kiểm tra (hay còn
gọi là mốc phụ). Cấu tạo mốc chính, mốc kiểm tra xem Phụ lục B, Quy phạm này.
Mốc chính có ký hiệu là Mc, được xây ở nơi có địa hình vững chắc, ổn định lâu dài, độ cao không
bị thay đổi. Mốc chính có tác dụng cố định số "0" trạm, và để kiểm tra độ cao của mốc kiểm tra. Độ
cao mốc chính được dẫn từ mốc độ cao Nhà nước (nếu điều kiện cho phép), ở nơi chưa có điều
kiện dẫn từ mốc độ cao Nhà nước thì xác định độ cao giả định trên số "0" trạm (tức là độ cao của
mốc tính từ số "0" trạm).
Mốc kiểm tra có ký hiệu là Mkt, nếu trạm có từ hai mốc kiểm tra trở lên thì thêm số thứ tự bên cạnh
(ví dụ: Mkt1, Mkt2,…). Mốc kiểm tra phải đặt ngoài khu vực nước ngập, gần tuyến đo mực nước
nhằm bảo đảm việc đo đạc số hiệu chính, kiểm tra số "0" thủy chí, các số "0" trạm được thuận
tiện, dễ dàng. Độ cao của mốc kiểm tra được dẫn từ độ cao của mốc chính.
3.4.3. Tuyến thủy chí, cọc
a) Việc thiết kế, xây dựng tuyến thủy chí, cọc phải tuân thủ quy định tại Điều 3.4.1, Quy phạm này.
Cách thiết kế, xây dựng tuyến thủy chí, cọc được trình bày chi tiết tại Phụ lục C, Quy phạm này.
b) Ghi số hiệu cọc (thủy chí)
- Cọc được ghi ký hiệu là C, thủy chí được ghi ký hiệu là P.
- Dùng số nguyên để ghi số hiệu cọc (thủy chí) từ trên xuống dưới theo thứ tự tăng dần, số hiệu
được ghi bên phải ký hiệu, cọc (thủy chí) liền kề có số hiệu chênh nhau một đơn vị (ví dụ: C1, C2,
C3,…; P1, P2, P3,…).
- Cọc (thủy chí) được xây dựng thêm thì ghi thêm ký hiệu là các chữ cái: a, b, c,… vào phía sau số
hiệu của cọc (thủy chí) đã có ở vị trí cao hơn (ví dụ: xây dựng thêm một cọc giữa C2 và C3 thì ký
hiệu của cọc xây dựng thêm này là C2a).
- Cọc (thủy chí) được làm lại thì ký hiệu được ghi như cũ nhưng thêm số thứ tự lần xây dựng lại,
ngăn cách bằng dấu gạch ngang vào bên phải (ví dụ: cọc C3 được làm lại lần thứ nhất thì ký hiệu
được ghi là C3-1, được làm lại lần thứ hai thì ký hiệu được ghi là C3-2).
3.4.4. Giếng đặt máy đo mực nước
a) Các kiểu giếng đặt máy đo mực nước
- Giếng kiểu bờ có ống dẫn nước nằm ngang (xem Hình 1);
- Giếng kiểu bờ có ống dẫn nước xi phông (xem Hình 2);
- Giếng kiểu lấy nước trực tiếp (xem Hình 3).
b) Cấu tạo giếng đặt máy đo mực nước

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét