Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Lạm phát, hiện trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát hiện nay ở Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

I - Lời nói đầu
Lạm phát, và những giảI pháp trong nềng kinh tế là hai vấn đề cơ bản và lớn
trong kinh tế vĩ mô. Sự tác động qua lại của tăng trởng kinh tế và lạm phát hết sức
phức tạp và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế . Lạm phát là
một vấn đề không phải xa lạ và là một đặc diểm của nền kinh tế hàng hoá và ở mỗi
thời kì kinh tế với các mức tăng trởng kinh té khác nhau sẽ có những mức lạm phát
phù hợp. Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hởng của lạm phát tới tăng trởng kinh tế là
một đề tài rất hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội
nhập và phát triển kinh tế hiện nay vấn đề này càng trở nên cần thiết. Việc xác định
mối quan hệ tăng trởng kinh tế và lạm phát đã và đang thu hút sự chú ý của nhiều
nhà kinh tế. Còn không, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc các giải pháp
vĩ mô để thúc đẩy tăng trởng kinh tế và yếu tố lạm phát trở thành thứ yếu. Mặc dù
vẫn phải duy trì mức độ kiểm soát. ở nớc ta trong bối cảnh đổi mới kinh tế dới sự
lãnh đạo của Đảng, vấn đề lạm phát không những là một tiêu thức kinh tế mà còn
kiến mang ý nghĩa chính trị nữa. Xuất phát từ những kiến thc bài giảng của thầy
cô, và cần thiết hiểu biết về lạm phát, vì vậy em quyết định chọn đề tài nghiêm
cứu: Lạm phát, hiện trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát hiện nay ở Việt
Nam.
Do kiến thức hiểu biết còn cha sâu, và sự nắm bắt về hiện trạng về lạm phát hiện
nay ở nớc ta còn cha đợc đầy đủ nên còn nhiều sai sót mong thầy chỉnh sửa và đóng
góp ý kiến để bài viết em đợc hoàn thành tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
II Phần Nội dung
a: Những lý luận chungvề lạm phát
1. Khái niệm
Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan điểm đều có
sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình.
Theo L.V.chandeler, D.C cliner với trờng phái lạm phát giá cả thì khẳng định
:lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn , chu kỳ hay đột xuất.
G.G. Mtrukhin lại cho rằng : Trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trớc hết
thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới
việc tăng giá cả nói chung. Với ý nghĩa nh vậy có thể xem sự mất giá của đồng tiền
là lạm phát. Ông cũng chỉ rõ: lạm phát, đó là hình thức tràn trề t bản một cách tiềm
tàng ( tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành
kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân c xã hội.
ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh tế
học đã đợc dịch ra tiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xẩy ra khi mức
chung của giá cả chi phí tăng lên.
Với luận thuyết Lạm phát lu thông tiền tệ J.Bondin và M. Friendman lại
cho rằng lạm phát là đa nhiều tiền thừa vào lu thông làm cho giá cả tăng lên.
M.Friedman nói lạm phát ở mọi lúc moị nơi đều là hiện tợng của lu thông tiền tệ.
Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lợng tiền trong lu thông tăng
lên nhanh hơn so với sản xuất
Nh vậy, tất cả những luận thuyết, những quan điểm về lạm phát đã nêu trên
đều đa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát, và theo quan điểm của
tôi về vấn đề này sau khi nghiên cứu một số luận thuyết ở trên thì nhận thấy ở một

2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khía cạnh nào đó của lạm phát thì: khi mà lợng tiền đi vào lu thông vợt mức cho
phép thì nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại hàng hoá
khác.
2. Khái niệm lạm phát trong điều kiện hiện đại
Trong điều kiện hiện đại khi mà nền kinh tế của một nớc luôn đợc gắn liền
với nền kinh tế thế giới thì biểu hiện của lạm phát đợc thể hiện qua một số yếu tố
mới.
a. Sự mất giá của các loai chứng khoán có giá.
Song song với sự tăng giá cả của các loai hàng hoá, giá trị các loại chứng
khoán có giá trị bị sụt giảm nghiêm trọng, Vì việc mua tín phiếu là nhằm để thu các
khoản lợi khi đáo hạn. Nhng vì giá trị của đồng tiền sụt giảm nghiêm trọng nên ng-
ời ta không thích tích luỹ tiền theo hình thức mua tín phiếu nữa. Ngời ta tích trữ
vàng và ngoại tệ.
b. Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng.
Trong điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế, vàng và ngoại tệ mạnh đợc coi nh là
tiền chuẩn để đo lờng sự mất giá của tiền quốc gia. Đồng tiền càng giảm giá so với
vàng và USD bao nhiêu nó lại tác động nâng giá hàng hoá lên cao bấy nhiêu. ở đâu
ngời ta bán hàng dựa trên cơ sở qui đổi giá vàng hoặc ngoại tệ mạnh để bán mà
không căn cứ vào tiền quốc gia nữa (tiền giấy do Ngân hàng Nhà nớc phát hành)
c. Lạm phát còn thể hiện ở chỗ khối lợng tiền ghi sổ tăng vọt nhanh chóng.
Bên cạnh khối lợng tiền giấy phát ra trong lu thông. Nhng điều cần chú ý là
khi khối lợng tiền ghi sổ tăng lên có nghĩa là khối lợng tín dụng tăng lên, nó có tác
động lớn đến sự tăng trởng của nền kinh tế. Nh vậy lạm phát trong điều kiện hiện
đại còn có nghĩa là sự gia tăng các phơng tiện chi trả trong đó có khối lợng tín dụng
ngắn hạn gia tăng nhanh
d. Lạm phát trong điều kiện hiên đại còn là chính sách của Nhà nớc

3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhằm kích thích sản xuất, chống lại nạn thất nghiệp, bù đắp các chi phí thiếu
hụt của ngân sách.
3. Các Loại hình của lạm phát
Cũng nh ở trên đã có rất nhiều cách hiểu ở các góc độ khác nhau về lạm phát
thì ở phần này cũng nh vậy ngời ta có thể phân loại lạm phát theo nhiều tiêu chí
khác nhau.
Căn cứ vào mức độ ngời ta chia lam ba loại
- Lạm phát vừa phải :Loai lạm phát này xẩy ra với mức tăng chậm của gía
cả đợc giới hạn ở mức độ một con số hàng năm (tức là > 10%). Trong điều kiện lạm
phát thấp gía cả tơng đối thay đổi chậm và đợc coi nh là ổn đị
- Lạm phát phi mã :Mức độ tăng của gía cả đã ở hai con số trở lên hàng năm
trở lên. Lạm phát phi mã gây tác hại nghiêm trọng trong nền kinh tế. Đồng tiền mất
giá một cách nhanh chóng-lãi suất thực tế giảm xuống dới 0 (có nơi lãi suất thực tế
giảm xuống tới 50-100/năm), nhân dân tránh giữ tiền mặt.
- Siêu lạm phát:Tiền giấy đợc phát hành ào ạt, gía cả tăng lên với tốc độ chóng
mặt trên 1000 lần/năm. Siêu lạm phát là thời kì mà tốc độ tăng giá vợt xa mức lạm
phát phi mã và vô cùng không ổn định.

Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ngời ta phân biệt
- Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách: Đây là nguyên nhân
thông thờng nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nớc (y tế, giáo dục,
quốc phòng) và do nhu cầu khuếch trơng nền kinh tế. Nhà nớc của một quốc gia
chủ trơng phát hành thêm tiền vào lu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang
thiếu hụt.
ở đây chúng ta thấy vốn đầu t và chi tiêu của Chính phủ đợc bù đắp bằng
phát hành, kể cả tăng mức thuế nó sẽ đẩy nền kinh tế đi vào một thế mất cân đối
vựợt quá sản lợng tiềm năng của nó. Và khi tổng mức cần của nền kinh tế vợt quá
khả năng sản xuất của nền kinh tế (vì các yếu tố sản xuất của một nền kinh tế là có

4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
giới hạn) lúc đó cầu của đồng tiền sẽ vợt quá khả năng cung ứng hàng hoá và lạm
phát sẽ xẩy ra, gía cả hàng hoá tăng lên nhanh chóng.
-Lạm phát do nguyên nhân chi phí : Trong điều kiện cơ chế thị trờng,
không có quốc gia nào lại có thể duy trì đợc trong một thời gian dài với công ăn
viêc làm đầy đủ cho mọi ngời, gía cả ổn định và có một thị trờng hoàn toàn tự do.
Trong điều kiện hiện nay, xu hớng tăng gía cả các loại hàng hoá và tiền lơng
công nhân luôn luôn diễn ra trớc khi nền kinh tế đạt đợc một khối lợng công ăn việc
làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy gía cả tăng lên ngay cả
trong các yếu tố sản xuất cha đợc sử dụng đầy đủ, lạm phát xẩy ra.
Lạm phát nh vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất.
Một số nhà kinh tế t bản cho rằng việc đẩy chi phí tiền lơng tăng lên là do
công đoàn gây sức ép. Tuy nhiên một số nhà kinh tế khác cho rằng chính công
đoàn ở nớc t bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tốc độ tăng của
lạm phát và giữ không cho lạm phát giảm xuống quá nhanh khi nó giảm . Vì các
hợp đồng lơng của các công đoàn thuờng là dài hạn và khó thay đổi.
Ngoài ra các cuộc khủng hoảng về các loai nguyên liệu cơ bản nh dầu mỏ,
sắt thép đã làm cho giá cả của nó tăng lên (vì hiếm đi) và điều đó đã đẩy chi phí
sản xuất tăng lên. Nói chung việc tăng chi phí sản xuất do nghiều nguyên nhân,
ngay cả việc tăng chi phí quản lý hành chính hay những chi phí ngoài sản xuất khác
cũng làm cho chi phí sản xuất tăng lên và do vậy nó đẩy gía cả tăng lên.
Có thể nói nguyên nhân ở đây là sản xuất không có hiệu quả, vốn bỏ ra nhiều
hơn nhng sản phẩm thu lại không tăng lên hoặc tăng rất chậm so với tốc độ tăng của
chi phí.
- Lạm phát ỳ : Là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong
một thời gian dài. ở những nớc có lạm phát ỳ xẩy ra, có nghĩa là nền kinh tế ở nớc
đó có một sự cân bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ đợc trông đợi và dợc đa vào
các hợp đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó đợc Ngân hàng

5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trung ơng, chính sách tài chính của Nhà nớc, giới t bản và cả giới lao động thừa
nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự
cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh tế xảy ra (tỷ lệ ỳ
tăng hoặc giảm). Nếu nh không có sự chấn động nào về cung hoặc cầu thì lạm phát
có xu hớng tiếp tục theo tỷ lệ cũ.
- Lạm phát cầu kéo :Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ
tại mức sản lợng đã đạt hoặc vợt quá tiềm năng. Khi xảy ra lạm phát cầu kéo ngời ta
thờng nhận thấy lợng tiền không lu thông và khối lợng tín dụng tăng đáng kể và vợt
quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa. Bản chất của lạm phát cầu kéo là
chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lợng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất
đợc trong điều kiện thị trờng lao động đã đạt cân bằng.
Chính sách tiền tệ lạm phát có thể xảy ra khi mục tiêu công ăn việc làm cao.
Ngay khi công ăn việc làm đẩy đủ, thất nghiệp lúc nào cũng tồn tại do những xung
đột trên thị trờng lao động. Tỷ lệ thất nghiệp khi có công ăn việc làm đẩy đủ (tỷ lệ
thất nghiệp tự nhiên) sẽ lớn hơn 0. Nếu ấn định một chỉ tiêu thất nghiệp thấp dới tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ tạo ra một địa bàn cho một tỷ lệ tăng trởng tiền tệ cao hơn
và lạm phát phát sinh.Nh vậy theo đuổi một chỉ tiêu sản phẩm quá cao hay tơng đ-
ơng là một tỷ lệ thất nghiệp quá thấp là nguồn gốc sinh ra chính sách tiền tệ lạm
phát.
- Lạm phát chi phí đẩy: Ngay cả khi sản lợng cha đạt mức tiềm năng nhng vẫn
có thể xảy ra lạm phất ở nhiều nớc, kể cả ở những nớc phát triển cao. Đó là một đặc
điểm của lạm phát hiện tại. Kiểu lạm phát này gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm
phát vừa suy giảm sản lợng, tăng thêm thất nghiệp nên cũng gọi là lạm phát đình
trệ.
Các cơn sốc giá cả của thị trờng đầu vào, đặc biệt là các vật t cơ bản: xăng,
dầu, điện là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đờng AS dịch chuyển lên
trên. Tuy tổng cầu không thay đổi nhng giá cả lại tăng lên và sản lợng giảm xuống.

6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giá cả sản phẩm trung gian (vật t) tăng đột biến thờng do các nguyên nhân nh thiên
tại, chiến tranh, biến động chính trị kinh tế
Lạm phát chi phí cũng có thể là kết quả của chính sách ổn định năng động
nhằm thúc đẩy một mức công ăn việc làm cao. Nó xảy ra do những cú sốc cung tiêu
cực hoặc do việc các công nhân đòi tăng lơng cao hơn gây nên
Căn cứ vào quá trình bộc lộ hiện hình lạm phát ngời ta phân biệt
-Lạm phát ngầm đây là loại lạm phát đang ở giai đoạn ẩn náu, bị kiềm chế về
t ốc độ tăng giá.
-Lạm phát công khai đây là loại lạm phát mà sự tăng giá cả hàng háo, dịch vụ
rõ rệt trên thị trờng.
4. Những hậu quả của lạm phát
Qua thực tế của lạm phát ta thấy rằng hậu quả của nó để lại cho nền kinh tế
là rất trầm trọng, nó thể hiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là một số hậu quả
sau:
- Xã hội không thể tính toán hiệu qủa hay điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh của mình một cách bình thờng đợc do tiền tệ không còn giữ đợc chức năng
thớc đo giá trị hay nói đúng hơn là thớc đo này bị co giãn thất thờng.
- Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nớc điều tiết nền
kinh tế đã bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa, các
biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và do vậy tác
dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trờng hợp nhà nớc có thể chỉ số hoá luật
thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng bị hạn chế.
- Phân phối lại thu nhập làm cho một số ngời nắm giữ các hàng hoá có giá
cả tăng đột biến giầu lên nhanh chóng và những ngời có các hàng hoá mà giá cả của
chúng không tăng hoặc tăng chậm và ngời giữ tiền bị nghèo đi.
- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc gây
ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thờng và lãng phí.
- Xuyên tạc, bóp méo các yếu tố của thị trờng làm cho các điều kiện của thị
trờng bị biến dạng. hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hoá, giá

7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cả tiền tệ, giá cả lao động một khi những giá cả này tăng hay giảm đột biến và liên
tục , thì các yếu tố của thị trờng không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo.
- Sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành nào có lợi nhuận cao.
- Ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngày càng giảm về
mặt giá trị.
- Đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình rhờng của ngân hàng bị
phá vỡ, ngân hàng không thu hút đợc các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội.
- Đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân về hàng hoá
tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lợng về hàng hoá tiêu dùng, đặc biệt là
đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn. mặt khác lạm phát cũng làm
thay đổi nhu cầu tiêu dùng, khi lạm phát gay gắt sẽ gây nên hiện tợng mọi ngời tìm
cách tháo chạy khỏi đồng tiền tức là không muốn giữ và cất giữ đồng tiền mất giá
bằng cách họ xẽ tìm mua bất kỳ hàng hoá dù không có nhu cầu để cất trữ từ đó làm
giầu cho những ngời đầu cơ tích trữ.
Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soát lạm phát và giữ lạm
phát ở mức độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn của mọi nền
kinh tế hàng hoá. Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không có nghĩa là phải đa
lạm phát ở mức bằng không tức là nền kinh tế không có lạm phát mà phải duy trì mức
lạm phát ở một mức độ nào đó phù hợp vơí nền kinh tế bởi vì lạm phát không phải hoàn
toàn là tiêu cực, nếu nh một quốc gia nào đó có thể duy trì đợc mức lạm phát vừa phải và
kiềm chế, có lợi cho sự phát triển kinh tế thì ở quốc gia đó lạm phát không còn là mối
nguy hại cho nền kinh tế nữa mà nó đã trở thành một công cụ đắc lực giúp điều tiết và
phát triển kinh tế một cách hiệu quả
B __ THựC TRạNg LạM PHáT ở Việt nam hiện nay
1.Nguyên nhân lạm phát
- Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại,
mọi nền kinh tế tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế tiền tệ, thì còn lạm phát,
ngời ta chỉ có thể kiềm chế mức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển nền
kinh tế, mà ít gây ra những hậu quả tai hại. Từ đó, có thể phân định nhiều mức độ
lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, từ lạm phát nớc kiệu
(chung quanh 10%) tới lạm phát phi mã, thậm chí là siêu tốc, tức là tình trạng

8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bùng nổ giá cả hoàn toàn không thể kiểm soát đợc, trong trờng hợp này dấu hiệu
tiền tệ hầu nh không còn ý nghĩa nữa.ất
a). Nguyên nhân thứ nhất :
- Lạm phát bởi tăng cầu, khi cầu không kèm theo sự gia tăng sản xuất, hàng
hoá, dịch vụ. Vậy tạo tiền thái quá của lợng tiền tệ diễn ra trong bối cảnh này.
b). Nguyên nhân thứ hai :
- Lạm phát do tăng chi phí sản xuất, khi việc tăng chi phí sản xuất làm tăng
giá sản xuất. Có thể do nhiều nguyên nhân :
+ Tăng những phơng tiện đặc thù riêng của sản xuất.
+ Tăng chi phí phân xởng.
2. Thực tiễn trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế :
a).Các bằng chứng thực nghiệm:
Nghiên cứu gần đây nhất là của M.Khan và A.Senchadji (năm 2000). Các tác
giả đã sử dụng các kỹ thuật phân tích hiện đại nhất để kiểm định mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trởng. Công trình của các ông bao quát số liệu của 140 nớc trong
đó có cả các nớc phát triển và các nớc đã công nghiệp hoá trong giaiđoạn 1960-
1998. Một lần nữa kết quả cho thấy có tồn tại một mức ngỡng mà dới đó lạm phát
và tăng trởng có mối tơng quan dơng và trên đó lạm phát gây ra ảnh hởng tiêu cực
đến tăng trởng. Một phát kiến rất có ý nghĩa của các tác giả là mức ngỡng đó khác
nhau giữa các khối nớc ở các nớc công nghiệp, mức ngỡng này rất thấp chỉ vào
khoảng 1-3% năm, trong khi đó ở các nớc đang phát triển mức ngỡng này vào
khoảng 7-11%.
Bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam dờng nh cũng phù hợp với kết quả ở
trên. Bảng dới đây cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trởng
trong 14 năm đổi mới. Vào những năm 80, lạm phát đã khiến nền kinh tế lâm vào
khủng hoảng. Song từ năm 1992 khi chúng ta đã kiềm chế đợc lạm phát, tốc độ tăng
trởng kinh tế không ngừng đợc cải thiện. Tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân giai
đoạn 1992-1997 là 8,8%, trong khi tỷ lệ lạm phát bình quân là 9,7%. Nhng từ năm
1997 trở lại đây lạm phát ở mức rất thấp và GDP cũng tăng chậm. NĂm 1998-1999
tốc độ giảm xuống dới 6%_một hiện tợng đáng lo ngại với một nền kinh tế nh nớc
ta có tốc độ tăng dân số 2% năm, tỷ lệ tăng năng suất lao động khoảng 5-7% năm
và tỷ lệ thất nghiệp 7%.
Tóm lại, cả lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trởng kinh tế có thể biểu diễn bằng hình chữ U ngợc. Điều đó hàmý rằng ở
mỗi nớc tồn tại một phạm vi lạm phát an toàn khi mà lạm phát và tăng trởng có
mối quan hệ cùng chiều. Trong trờng hợp đó, lạm phát là cái giá phải trả cho tăng
trởng kinh tế. Nới lỏng tài khoá và tiền tệ, một mặt, có xu hớng làm tăng lạm phát,
mặt khác, sẽ có tác dụng khuyến khích đầu t, mở rộng tổng cầu và do vậy cho phép
sử dụng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có và thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Tuy
nhiên, lạm phát quá cao chắc chắn sẽ ảnh hởng xấu đến tăng trởng kinh tế. Trong cả
hai trờng hợp_lạm phát quá cao hoặc quá thấp_chính phủ đều cần có các biện pháp

9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
điều chỉnh sao cho có lợi cho tăng trởng kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo ổn
định kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở khuôn khổ lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế diễn biến lạm phát và
tăng trởng kinh tế của Việt Nam những năm qua, nhiều học giả cho rằng mức lạm
tối u đối với Việt nam có thể nằm trong khoảng 5-7% năm.
b). Thực tiễn của vấn đề :
- Trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế, câu hỏi đặt ra là nớc
có lạm phát cao tăng trởng nhanh hơn hay chậm hơn nớc có lạm phát thấp ? Thực tế
đã đa ra lời giải không cùng một đáp số. Trong thời kỳ 1971-1991, Thuỵ Sĩ tăng tr-
ởng bình quân 1.1% năm, mặc dù đây là nớc có mức lạm phát thấp thứ hai trong số
20 nớc đợc nghiên cứu. Trong khi đó Italy, Tây Ban Nha, Iceland lại đạt đợc sự tăng
trởng cao dù mức lạm phát hơn 10%.
- Về mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp, lý thuyết của J.M.Keynes với
luận điểm lấy lạm phát và bội chi ngân sách để xoá khủng hoảng và thất nghiệp đã
đợc nhiều nớc t bản ứng dụng thành công sau thập kỉ 1933. Nhng tiếp đó, từ những
năm 1960, lạm phát tràn lan mà vẫn không loại trừ đợc thất nghiệp. Trong khi đó
thời kỳ1974-1991, các nớc lạm phát thấp cũng có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất.
- Trong mối quan hệ gia tăng lợng tiền trong lu thông với mức độ lạm phát
thực tế cũng không diễn ra hoàn toàn trùng hợp với lý thuyết. Năm 1990, chúng ta
tăng khối lợng tiền giấy trong lu thông thêm 73%, tỷ lệ lạm phát lên 67%. Nhng
năm 1991, tiền giấy lu thông chỉ tăng 41%, tỷ lệ lạm phát lại lên tới 64%; Trong khi
đó hai năm 1992 và 1993 tiền phát hành thêm tới 70-80% nhng tỷ lệ lạm phát lại đ-
ợc kéo xuống 17,6% (1992) và 5,2% (1993).
ở nớc ta, quá trình kéo lạm phát xuống và kiềm chế lạm phát ở mức thấp
cũng đợc ghi nhận là thành tựu nổi bật trong công cuộc đổi mới.
Bảng trên chothấy sau nhiều năm liền lạm phát ở mức 3 con số/năm, năm
1989 lần đầu tiên ta đã kéo lạm phát xuống hai con số. Đặc biệt năm 1993, lạm phát
từ 17,6% (1992) xuống 5,2%, nhng GDP vẫn đạt mức tăng cao 7,2%.
Tuy vậy chúng ta vẫn cha đa đợc lạm phát xuống mức mong muốn và đặc
biệt là những khó khăn trong tơng lai. Do chỗ mức lạm phát không đợc dự báo
chính xác trong nhiều trờng hợp đã hạn chế tính ham muốn chấp nhận rủi ro của
các nhà đầu t. Đồng thời gây khó khăn cho việc thực hiện các hợp đồng kinh tế,
hoạch định chính sách tiền lơng, lãi suất và thuế. Vì vậy, cùngvới việc kéo lạm phát
xuống 1 con số còn nổi lên một vấn đề rất trọng yếu là phải giữ đợc mức lạm phát
đó ổn định. Để thực hiện công việc trên nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến
yêu cầu xây dựng hệ thống chính sách tiền tệ, tài chính hiệu quả; tỷ giá hối đoái
linh hoạt; dữ trữ quốc gia đủ mạnh và can thiệp vào nền kinh tế đúng lúc
Xin nhấn mạnh thêm một số điểm nh sau :
+ Thứ nhất : Đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển đổi nền kinh tế và cơ chế
quản lý kinh tế. Trên cơ sở đó có thể tận dụng tối đa u thế của thị trờng và khai thác

10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tối u tiềm năng của nền sản xuất xã hội. Nhờ vậy màtăng nhanh số lợng chủng loại
vàchất lợng hàng hoá cung ứng ra thị trờng.
+ Thứ hai : ổn định giá cả những mặt hàng thiết yếu và những mặt hàng mà
nhà nớc độc quyền sản xuất kinh doanh.
+ Thứ ba : Thớc đo thông thờng nhất của lạm phát là CPI, nhng việc đo lờng
CPI không phải luôn chính xác. Vì nó vừa không thể hiện đợc đầy đủ những biến
đổi chất lợng hàng hoá và do nhng sai sót về mặt kỹ thuất tính toán.
+ Thứ t : Cần nhận thức rằng chống và kiềm giữ lạm phát không phải là mục
đích của điều tiết kinh tế vĩ mô, mà chỉ là công cụ, phơng tiện, cách thức để tạo môi
trờng và kích thích tăng trởng kinh tế. Nghĩa là toàn bộ công cụ, cách thức vĩ mô
đều phải hớng tới một mục đích duy nhất là thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và
bền vững Tóm lại, chống và kiềm giữ lạm phát đòi hỏi phải vừa sử dụng kết hợp
nhiều công cụ, biện pháp đồng bộ; vừa phải nghiên cứu lý thuyết không ngừng và
kiểm nghiệm thờng xuyên mọi lý thuyết trong thực tiễn.
C _ Các giải pháp khắc phục lạm phát
1. Những biện pháp tình thế
Những biện pháp này đợc áp dụng với mục tiêu giạm tức thời cơn sốt lạm phát
trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài . Các biện pháp này
thờng đợc áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát .
Thứ nhất :các biện pháp tình thế thờng đợc chính phủ các nớc áp dụng , trớc hết
là giảm lợng tiền giấy trong nền kinh tế nh ngừng phát hành tiền vào lu thông . Biện
pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ . Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay lập
tức ngân hàng trung ơng phải dừng các biện pháp có thể đa đến tăng cung ứng tiền
tệ nh ngừng thực hiện các nghiệp vụ triết khấu và tái triết khấu đối với các tổ chức
tín dụng , dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ ,
không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách. Nhà nớc áp dụng các biện pháp
làm giảm lợng tiền cung ứng trong nền kinh tế nh: ngân hàng trung ơng bán ra các
chứng khoán ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ , bán ngoại tệ vàvay , phát hành các
công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội chi ngân
sách nhà nớc , tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền gửi tiét kiệm dân c .
các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt đ-
ợc một khối lơngj khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân c do đó giảm đợc sức ép lên giá
cả hàng hoá vầ dịch vụ trên thị trờng . ở việt nam các biện pháp này đã dợc áp dụng
thành công vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 .
Thứ hai :thi hành chính sách tài chính thắt chặt nh tạm hoãn những khoản chi
cha cần thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức
có thể đợc .

11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ ba : tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lợng tiền có trong lu
thông bằng cách khuyến khichs tự do mậu dịch , giảm nhẹ thuế quan và các biện
pháp cần thiết khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.
Thứ t : đi vay và xin viện trợ từ nớc ngoài .
Thứ năm : cải cách tiền tệ , đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên
cha đem lại hiệu quả mong muốn .
2. Những biện pháp chiến lợc
Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân . Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài cho đất n-
ớc
Thứ nhất : thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng lu thông hàng
hoá. Đây là biện pháp chiến lợc hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy trì sự ổn định
tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân . Sản xuất trong nớc càng phát triển thì càng tạo
tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ . Chú trọng thu hút ngoại tệ qua việc xuất
khẩu hàng hoá , phát triển ngành du lịch
Thứ hai : kiện toàn bộ máy hành chính , cắt giảm biên chế quản lý hành chính .
Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thờng xuyên
của ngân sách do đó giảm bội chi ngân sách nhà nớc .
Thứ ba : tăng cờng công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nớc trên cơ sở
tăng các khoản thu cho ngân sách một các hợp lý , chống thất thu , đặc biệt là thất
thu về thuế , nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nớc .

3. Một số biện pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát ở nớc ta hiện nay
Tình hình kinh tế tài chính của nớc ta trong những năm vừa qua đạt đợc sự ổn
định và có chiều hớng tốt, nạn lạm phát đã đợc kiềm chế và đẩy lùi từ 67.5% năm
1991 xuống còn 17,5% năm 1992, 5,2% (1993), 14.2% (1994), trong khi đó vẫn
đảm bảo mức tăng trởng kinh tế 8,6% (!992), 8,1% (1993), 8,7% (1994). Tỷ giá
VNĐ so với đôla Mỹ từ cuối năm 1991 là 14,194 VNĐ đã lên giá dần và giữ ở mức
trên dới 10.800 VNĐ/USD từ tháng 11.1992 cho đến nay. Đồng thời cán cân thanh
toán đợc cải thiện rõ rệt. Mặt khác xuất nhập khẩu có xu hớng tăng lên.
Để khắc phục và kiềm chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay cần phải thực
hiện nhiều biện pháp đồng bộ nh sau :
- Trớc hết phải khống chế tỷ lệ bội chi ngân sách ở dới mức 5% GDP. Bởi và
bội chi ngân sách là một nhân tố quan trọng gâỵ ra sự mất cân đối giữa cung và cầu.
- Phải nâng cao sản lợng hàng hoá trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất
công, nông nghiệp, cụ thể là tạo ra nhiều lơng thực, thực phẩm, một số hàng hoá là
t liệu sản xuất và các loại hàng hoá là nhiên liệu, năng lợng. Mặt khác cần tiếp tục
đổi mới cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ, cải tiến kỹ thuật đảm bảo từng bớc
giảm chi phí sản xuất.

12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Về lĩnh vực ngân hàng với trách nhiệm là một ngành đóng vai trò quan trọng
nhất trong việc kiềm chế lạm phát, cần tiến hành các bớc sau :
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên cơ sở tích cực huy động vốn và
cho vay hiệu quả các dự án
+ Kiểm soát chặt chẽ cung ứng tiền tệ của ngân hàng nhà nớc cho mục tiêu
ngoại tệ, ổn định thị trờng ngoại tệ và tỷ giá đồng Việt Nam.
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc.
+ Tăng cờng hiệu lực của công tác thanh tra đối với ngân hàng thơng mại.
+ Xử lý tôt mối quan hệ với ngân sách nhà nớc, phát triển thị trờng vốn, đồng
thời xúc tiến nhanh việc thiết lập thị trờng chứng khoán ở Việt Nam và sự hoà nhập
của thị trờng này vào cộng đồng kinh tế quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam trở thành
thành viên thứ 7 của khối ASEAN để thuhútnhanh chóng hơn nữa nguồn vốn nớc
ngoài góp phần phát triển kinh tế đất nớc.
Ngoài ra cần tổ chức quản lý nợ nớc ngoài có kế hoạch và sử dụng có hiệu quả
các nguồn vốn vào Việt Nam dới nhiều hình thức khác nhau nh vay vốn của IMF,
WB, ADB,
Tóm lạ, trong tình hình hiện nay cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành,
các cấp trong việc thực hiện có hiệu quả về chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô của
nhà nớc (giải quyết tốt vấn đề thâm hụt ngân sách, chấn chỉnh hoạt động xuất nhập
khẩu, điều hành tốt giá cả và lu thông hàng hoá, ) để đảm bảo vừa tăng trởng kinh
tế vừa kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất.

13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
III__ Kết luận
Lạm phát và tăng trờng kinh tế là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ, phức
tạp. Lạm phát có thể là động lực thúc đẩy kinh tế ngợc lại cũng có thể là tác nhân
kìm hãm sự phát triển kinh tế thậm chí . Vì vậy cần chú trọng sự cân đối, mối quan
hệ hài hoà giữa hai vấn đề này ,chỉ có vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của
Viêt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Trong những năm vừa qua Việt Nam đã
đạt đợc những thành tựu nhất định về kinh tế đó cũng là nhờ một phần đóng góp
của các chính sách điều chỉnh tỉ lệ lạm phát hợp lí. Tuy nhiên những bất ổn sự mất
cân đối giữa lạm phát trong một số thời gian là dấu hiệu để chúng ta cần điều chỉnh
và đa ra những chính sách có hiệu quả. Hiểu rõ và giải quyết đợc tốt vấn đề này sẽ
góp phần không nhỏ cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế ở nớc ta.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét