Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Sở giao dịch – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

phiếu phục vụ cho một mục đích sử dụng nhất định, ví dụ như đầu tư cho một
dự án hay một công trình.
Ba là: Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác.
Ngân hàng thương mại có thể đi vay các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng
nhu cầu thanh khoản của mình. Họ có thể vay qua thị trường liên ngân hàng
hay bằng hình thức vay thương mại.
Bốn là: Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
Cũng giống như trường hợp đi vay các tổ chức tín dụng khác, Ngân hàng
thương mại cũng chỉ vay Ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản, để giải quyết những vấn đề cấp bách nảy sinh trong hoạt động ngân
hàng chứ không phải đi vay để cho vay. Vì vậy có thể nói “Ngân hàng Nhà
nước là cứu cánh của Ngân hàng thương mại”. Ngân hàng thương mại vay
Ngân hàng Nhà nước bằng cách chiết khấu hay tái chiết khấu thương phiếu,
quy mô vay bị tác động bởi lãi suất chiết khấu và lãi suất chiết khấu cao hay
thấp lại phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà Ngân hàng Nhà nước đang áp
dụng là thắt chặt hay nới lỏng.
Trên đây là các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Nếu như
các hoạt động huy động vốn làm ngân hàng phải mất chi phí thì các hoạt động
sử dụng vốn sau đây sẽ đem lại doanh thu cho Ngân hàng.
+ Các hoạt động sử dụng vốn.
Ngân hàng có các hình thức sử dụng vốn sau:
Một là: hoạt động ngân quỹ.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động liên quan đến chi trả hàng ngày cho khách
hàng. Ngân hàng luôn phải giữ lại một khoản tiền nhất định (gọi là tiền tại
quỹ) để chi trả, và ngân hàng cũng có thể thanh toán với khách hàng bằng tiền
gửi ở Ngân hàng Nhà nước là tiền dự trữ bắt buộc hay tiền gửi thanh toán.
55
Các khoản này kém sinh lời nhất, thậm chí không sinh lời, chỉ nhằm đáp ứng
tính thanh khoản mà thôi.
Hai là: hoạt động tín dụng.
Đây là một nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng thương mại. Hầu hết vốn của
ngân hàng đều được sử dụng vào hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng
ngoài hình thức cho vay còn có các hình thức khác như bảo lãnh hay chiết
khấu.
Ba là: hoạt động đầu tư.
Trong trường hợp cho vay không hết, ngân hàng có thể chủ động tìm nơi đầu
tư để thu lợi nhuận đồng thời giúp phân tán rủi ro. Ngân hàng có thể đầu tư
trực tiếp vào kinh doanh như đầu tư xây dựng dự án hoặc công trình. Ngoài ra
ngân hàng cũng có thể đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán
bằng cách mua tín phiếu, trái phiếu hay cổ phiếu của các công ty.
Trong ba hoạt động trên, hoạt động cho vay có độ rủi ro cao nhất nhưng lại là
nguồn thu nhập lớn của ngân hàng, còn hoạt động ngân quỹ an toàn nhất
nhưng hầu như không sinh lời. Vì vậy để vừa đảm bảo tính sinh lời lại vừa
đảm bảo tính thanh khoản, ngân hàng phải kết hợp ba hoạt động sử dụng vốn
trên một cách hợp lý.
+ Hoạt động trung gian thanh toán.
Đây là nghiệp vụ đặc trưng của Ngân hàng thương mại so với các trung gian
tài chính khác. Các trung gian tài chính khác như công ty tài chính, công ty
bảo hiểm… vẫn có thể cho vay, đầu tư hay nhận tiền gửi có kỳ hạn trên một
năm (có giới hạn về đối tượng) nhưng dịch vụ thanh toán thì chỉ có Ngân
hàng thương mại mới được thực hiện. “Ngân hàng được tổ chức hệ thống
thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước.
66
Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế phải được Ngân hàng Nhà
nước cho phép”
2
Ngân hàng thương mại làm theo lệnh của chủ tài khoản như tính tiền trên tài
khoản của người mua, chuyển sang tài khoản của người bán để thanh toán
tiền hàng hóa dịch vụ cho khách hàng. Ngân hàng còn cung cấp cho khách
hàng một hệ thống công cụ thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… giúp cho khách hàng thuận tiện hơn
rất nhiều trong thanh toán, tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời đảm
bảo việc thanh toán được an toàn.
Bên cạnh thanh toán trong phạm vi quốc gia, việc thực hiện hoạt động thanh
toán quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện nền kinh tế ngày
càng có xu thế mở cửa hội nhập, quá trình trao đổi lưu thông hàng hóa giữa
các đối tác ở các nước khác nhau ngày càng nhiều. Trong hoạt động xuất nhập
khẩu, ngoài việc hỗ trợ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, ngân hàng còn
đứng ra làm trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp. Việc thanh toán giữa
hai bên được thực hiện qua hệ thống ngân hàng bằng các phương thức được
thỏa thuận thuận tiện nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi của cả hai bên
xuất nhập khẩu, góp phần mở rộng quan hệ ngoại thương giữa các nước.
Trên đây là ba hoạt động không thể thiếu của bất cứ một Ngân hàng thương
mại nào. Ngoài ra, để tăng tính cạnh tranh, Ngân hàng thương mại còn có một
số hoạt động khác.
+ Các hoạt động khác.
Hầu hết các Ngân hàng thương mại hiện nay đều thực hiện nghiệp vụ liên
quan tới chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư, tự doanh, bảo lãnh cam kết
phát hành chứng khoán, lưu trữ, thanh toán chứng khoán… Ngoài ra, theo
Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại còn được thực hiện một số
2 LuËt c¸c tæ chøc tÝn dông sè 07/1997/QHX
77
hoạt động như góp vốn mua cổ phần, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại
hối, vàng và các giấy tờ có giá, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực
liên quan đến hoạt động ngân hàng, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn,
bảo quản…
Các hoạt động của Ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn
nhau, trong đó hoạt động huy động vốn là cơ sở để thực hiện hoạt động sử
dụng vốn. Hoạt động sử dụng vốn làm tăng khả năng sinh lời của Ngân hàng
thương mại. Trên cơ sở những hoạt động sử dụng vốn (như hoạt động tín
dụng), Ngân hàng thương mại có thể thực hiện được các hoạt động trung gian
thanh toán và tới lượt nó, hoạt động trung gian thanh toán sẽ làm tăng nguồn
vốn và mở rộng việc sử dụng vốn vì hoạt động trung gian thanh toán có thể
coi vừa là hoạt động huy động vốn vừa là hoạt động sử dụng vốn.
Trên đây là khái quát toàn bộ các hoạt động của một Ngân hàng thương mại.
Theo đối tượng và giới hạn được nghiên cứu trong luận văn này, hoạt động
thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại sẽ được đi sau hơn.
b. H oạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghĩa vụ và các yêu cầu về tiền tệ phát
sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức
kinh tế quốc tế, giữa các doanh nghiệp, các cá nhân của các quốc gia khác
nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên tài khoản tại các ngân hàng.
Hay nói cách khác, thanh toán quốc tế là việc phản ánh sự vận động có tính
độc lập tương đối của giá trị trong quá trình chu chuyển tư bản và hàng hoá
giữa các quốc gia khác nhau, do không cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ của
các bên tại một thời điểm nhất định.
Khác với thanh toán trong phạm vi một nước, thanh toán quốc tế thường gắn
với việc trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác.
88
Đồng tiền nội địa với chức năng là phương tiện lưu thông, phương tiện thanh
toán trong phạm vi một quốc gia sẽ không vượt ra khỏi giới hạn của nó được
nếu như hai bên liên quan trong hợp đồng không có sự thoả thuận với nhau.
Bởi vì khi ký kết hợp đồng thương mại, tín dụng các bên phải đàm phán
thống nhất đồng tiền nào được sử dụng để thanh toán giao dịch, nó có thể là
đồng tiền của nước người mua, tiền của nước người bán hoặc một đồng tiền
của một nước nào đó được chọn để giao dịch thanh toán.
Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế thường là các loại ngoại
tệ mạnh có khả năng tự do chuyển đổi như đồng USD, đồng EUR, đồng GBP,
đồng FRF, đồng JPY, đồng DEM. Trong đó đồng USD và EUR vẫn giữ vai
trò chủ đạo trong thanh toán quốc tế bởi sự nhanh chóng và tiện lợi trong việc
thực hiện các giao dịch này.
Thanh toán quốc tế chủ yếu là thanh toán qua chứng từ, tách rời với sự di
chuyển của hàng hoá từ nước người bán đến nước người mua. Thanh toán
quốc tế có quan hệ trực tiếp đến cả bên mua lẫn bên bán. Nếu công tác thanh
toán quốc tế được làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát
triển, ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động ngoại thương.
Hiện nay phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiện thông
qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu).
Theo thống kê của tổ chức này thì có tới 72% các giao dịch tài chính tiền tệ
quốc tế hàng ngày được thực hiện qua SWIFT. Phần còn lại được thực hiện
thông qua con đường điện tín, bưu điện dưới hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ
lẫn nhau giữa các ngân hàng. Tỉ lệ trả bằng tiền mặt trong thanh toán quốc tế
chiếm một phần không đáng kể.
Xuất phát từ nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, các doanh nghiệp
luôn luôn có xu hướng mở rộng thị trường của mình ra bên ngoài, từ đó hình
thành các quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước khác nhau. Mỗi nước có sự
99
khác nhau về chế độ chính trị, môi trường pháp luật, phong tục tập quán cũng
như khoảng cách địa lý, bên cạnh đó còn có những bất đồng về ngôn ngữ,
tiềm lực tài chính của các đối tác và hệ thống tiền tệ khác nhau khiến cho
quan hệ mua bán thanh toán giữa các nước rất phức tạp và thường xuyên xảy
ra rủi ro bất trắc. Để giải quyết những vướng mắc này cần có một trung gian
tài chính đứng ra đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên và Ngân hàng thương mại
với hoạt động thanh toán quốc tế của mình đã đáp ứng được đòi hỏi đó. Hoạt
động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại là một mắt xích không
thể thiếu được trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại
thương. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động
thanh toán quốc tế, Ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho khách
hàng, cho nền kinh tế cũng như cho chính bản thân Ngân hàng thương mại.
+ Đối với khách hàng:
Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân
hàng thương mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa
chi phí.
Tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, quyền lợi của khách hàng được đảm
bảo hơn, do khách hàng được ngân hàng tư vấn để lựa chọn các phương thức
thanh toán, kỹ thuật thanh toán cũng như đồng tiền thanh toán nhằm giảm
thiểu rủi ro, tạo ra sự an tâm cho khách hàng trong giao dịch mua bán với
nước ngoài.
Trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, nếu khách hàng không đủ khả
năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cho vay để
thanh toán hàng nhập bằng cách bảo lãnh mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất
khẩu, đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Qua việc
thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh
1010
doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu để có những tư vấn cho khách hàng
và những điều chỉnh về chiến lược khách hàng.
+ Đối với nền kinh tế.
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia trong hoạt động
kinh tế đối ngoại. Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại
thương phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá, tăng
nhanh tốc độ chu chuyển của vốn, góp phần phát triển kinh tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế, giảm bớt các chi phí trung gian, đồng thời hoạt động
thanh toán quốc tế đã thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam bằng
các nghiệp vụ kiều hối, chuyển tiền đến và L/C xuất khẩu.
+ Đối với bản thân Ngân hàng thương mại.
Thanh toán quốc tế giúp ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng
tài trợ xuất nhập khẩu, phát triển các nghiệp vụ liên quan như kinh doanh
ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác.
Thanh toán quốc tế đem lại khoản thu phí dịch vụ quan trọng: hoạt động
thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng về giao dịch,
từ đó tăng quy mô hoạt động và thị phần của mình trên thị trường.
Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng: trong quá trình
thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thương
mại luôn có một nguồn tiền tập trung chờ thanh toán. Nguồn tiền này tương
đối ổn định và phát sinh thường xuyên, là một nguồn nâng cao khả năng
thanh khoản cho ngân hàng.
Thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng thương mại có thể tạo ra được vòng
tròn dịch vụ khép kín, từ đó đảm bảo các nghiệp vụ ngân hàng có liên quan
đến nhau như tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ
được giám sát, theo dõi kỹ lưỡng bởi nhiều phòng ban khác nhau, hạn chế rủi
1111
ro. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nắm được tình hình kinh doanh của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có hiệu quả
hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế đối ngoại
mà Nhà nước đề ra.
Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại: thông qua việc bảo
lãnh cho khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng thương mại sẽ có quan hệ đại lý với ngân hàng và đối tác nước ngoài.
Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời gian hoạt động
nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng rộng mở.
Tóm lại, có thể khẳng định, hoạt động thanh toán quốc tế là một hoạt động
trung gian của Ngân hàng thương mại, có tác dụng mang lại thu nhập, hỗ trợ
các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại, giúp cho quá trình thanh toán
của khách hàng được nhanh chóng, đảm bảo. Điều này được thể hiện rõ hơn
khi nghiên cứu đến các phương thức thanh toán quốc tế.
1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
a. Phương thức chuyển tiền
Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán trong đó khách
hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng
của mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán,
người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ ) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Các bên tham gia:
• Người trả tiền hay người chuyển tiền (người mua, người mắc nợ,
người đầu tư, người chuyển kinh phí ra ngoài nước, kiều bào chuyển
tiền về nước ): Là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước
ngoài.
• Người hưởng lợi (người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư )
hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
• Ngân hàng chuyển tiền: Là ngân hàng thực hiện lệnh của người yêu
cầu chuyển tiền, thường là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
• Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền: Thường là ngân hàng ở
nước người hưởng lợi.
1212
Chi phí chuyển tiền do người chuyển tiền hoặc người trả tiền thanh toán.
Ngân hàng chuyển tiền được hưởng các chi phí đó. Tiền chuyển có thể là
đồng tiền của nước trả tiền, hoặc người hưởng lợi, hoặc một nước thứ ba.
* Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
(1) Giao dịch thương mại
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với
ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng )
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng.
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi
Ưu nhược điểm của phương thức này:
- Ưu điểm: Thủ tục hết sức đơn giản, không có chứng từ phức tạp,
rườm rà, người mua và người bán không phải tiến hành thanh toán trực
tiếp với nhau.
- Nhược điểm: Độ an toàn trong thanh toán không cao, không đảm
bảo quyền lợi cho người bán, hàng đã chuyển nhưng việc trả tiền phụ
thuộc vào thiện chí của người mua. Trong trường hợp người mua chuyển
tiền trước khi giao hàng mà vì một lý do nào đấy, việc giao hàng của
người bán chậm trễ, hoặc không đúng theo yêu cầu thì người mua sẽ ứ
đọng vốn. Vì vậy, phương thức này chủ yếu áp dụng để thanh toán phi
mậu dịch, các chi phí liên quan đến trả nợ, bồi thường, còn nếu áp dụng
trong thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ yếu đối với khách hàng quen
biết, có tín nhiệm cao.
b. Phương thức nhờ thu
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán
sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ cho khách
hàng sẽ ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ
sở hối phiếu của người bán lập ra.
Các bên tham gia phương thức nhờ thu gồm có:
- Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)
- Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự uỷ thác của người bán
(Remitting Bank)
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người
mua. (Collecting Bank and/or Presenting Bank).
NH đại lýNH chuyển tiền
Người chuyển tiền
Người hưởng lợi
1313
- Người mua tức là người trả tiền (Drawee)
Có hai loại nhờ thu là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Một là: Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection).
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân
hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn
chứng từ gửi hàng sẽ đưọc gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.
Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian làm dịch vụ
thu hộ tiền người mua, còn trách nhiệm trả tiền hay không là do người mua
quyết định.
• Các bên tham gia:
+ Người bán, người hưởng lợi: Là người ủy nhiệm cho ngân hàng thu
tiền người mua.
+ Người mua, người trả tiền: Là người có trách nhiệm thanh toán tiền
hàng mua của người bán khi ngân hàng đến yêu cầu đòi thanh toán.
+ Ngân hàng nhờ thu: Là ngân hàng thu tiền từ người mua, thường là
ngân hàng phục vụ bên mua đồng thời là ngân hàng đại lý của ngân hàng
người bán.
• Trình tự tiến hành:

(1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua,
lập một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của
mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu.
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư ủy thác nhờ thu kèm hối phiếu
cho ngân hàng đại lý của mình tại nước người mua nhờ thu tiền.
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là trả
tiền ngay) hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu).
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là
chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng sẽ giữ hối phiếu hoặc gửi lại cho
người bán. Khi đến hạn thanh toán thì ngân hàng sẽ đòi tiền của
người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.
• Ưu nhược điểm của phương pháp này:
Phương pháp nhờ thu không kèm chứng từ tuy có ưu điểm là thanh toán
tương đối nhanh, thực hiện đơn giản nhưng có nhược điểm là không đảm bảo
quyền lợi cho người bán vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời
NH đại lýNH Bên bán
gửi hàng và chứng từ
Người muaNgười bán
1414

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét