Đứng trước xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện
nay, đòi hỏi Việt nam phải có những chuyển biến mạnh mẽ cả về kinh tế và
chính trị , như vậy sẽ chủ động trong vấn đề hội nhập và quan hệ quốc tế
với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay
tuy không phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết. Thông qua việc tìm hiều
nội dung của chính sách cổ phần hoá và các vấn đề có liên quan, chúng ta
sẽ có những đánh giá khách quan hơn về hiệu quả cũng như những khó
khăn hạn chế của cổ phần hoá, từ đó có thể đưa ra một số giải pháp nhằm
tháo gỡ những hạn chế đó.
Với lý do trên, mặc dù trình độ bản thân còn nhiều hạn chế, nhưng tôi
xin mạnh dạn đưa ra một số quan điểm nghiên cứu, sưu tầm về vấn đề này.
Nghiên cứu vấn đề cổ phần hoá, chuyên đề tốt nghiệp của tôi được chia
làm 3 phần chính như sau:
Phần thứ nhất:
Lý luận chung về cổ phần hoá và sự cần thiết phải
tiến hành cổ phần hoá ở Việt Nam.
Phần
thứ hai:
Thực trạng cổ phần hoá- Những kết quả tích cực và
những khó khăn cần tháo gỡ.
Phần thứ ba:
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước ở Việt nam
Trong khuôn khổ bài viết có hạn, nên không tránh khỏi sai sót. Tôi rất
mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy cô giáo, để bài viết của
tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Cô giáo TS
Lê Thu Hà, và các thầy cô của Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
5
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH
CỔ PHẦN HOÁ Ở VIỆT NAM
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của công ty Cổ phần
1.1.1. Quan niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước:
Cho đến nay, trong nền kinh tế thị trường , vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận. Khi nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo hạn
chế là sự cạnh tranh khốc liệt và bất bình về mặt xã hội tăng lên . Để giảm bớt và kìm hãm
những hạn chế trên, đồng thời thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước sử dụng
một công cụ hữu hiệu là bộ phận kinh tế Nhà nước, mà trung tâm là các doanh nghiệp Nhà
nước. Nhưng việc lạm dụng quá mức sự can thiệp của khu vực kinh tế Nhà nước sẽ kìm
hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Từ đó vấn đề đặt ra là phải làm thế nào
để vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển xã hội đồng thời vai trò quản lý của Nhà nước
vẫn được giữ vững.
Một hiện tượng kinh tế nổi bật trên toàn thế giới trong những năm 1980 là sự chuyển
đổi sở hữu Nhà nước : Chỉ tính từ năm 1984 đễn năm 1991, trên toàn thế giới đã có trên
250 tỷ USD tài sản Nhà nước được đem bán. Chỉ riêng năn 1991 chiếm khoảng 50 tỷ USD.
Đến nay đã có hàng trăm nước phát triển trên thể giới ( cho dù có tư tưởng chính trị khác
nhau ) đều xây dựng và thực hiện cổ phần hoá một cách tích cực. Do đó, hơn một thập kỷ
qua, việc cổ phần hoá được coi như là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục sự yếu kém
trong kinh doanh của bộ phận doanh nghiệp Nhà nước. Vậy cổ phần hoá là gì, vai trò, đặc
điểm của nó ra sao, mà nhiều nước trên thế giới sử dụng nó trong công tác quản lý kinh tế
như vậy?
Theo tài liệu của hầu hết các học giả nước ngoài thì việc xem xét vấn đề cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là quá trình Tư
nhân hoá. Tư nhân hoá theo như định nghĩa của Liên Hợp Quốc là sự biến đổi tương quan
giũa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước ưu tiên thị trường. Theo
cách hiểu này thì toàn bộ các chính sách, thể chế, luật lệ nhằm khuyến khích, mở rộng,
phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt
quyền sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các
đơn vị kinh tế tế cơ sở, giành cho thị trường vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh
6
doanh đáng kể thông qua tự do hoá giá cả, tự do lựa chọn đối tác và nghành nghề kinh
doanh.
Xét về mặt hình thức, thì cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc
Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình cho các cá
nhân hay tổ chức kinh tế trong hoặc ngoài nước, hoặc bán trực tiếp cho cán
bộ, công nhân của chính doanh nghiệp Nhà nước thông qua đấu thầu công
khai , hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành lên các Công ty
TNHH hay Công ty Cổ phần
Như vậy cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở
hữu – chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là doanh nghiệp Nhà
nước thành công ty Cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình
doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được nhu cầu
của kinh doanh hiện đại.
1.1.2. Khái niệm:
Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, có thể đưa
ra khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh
nghiệp mà chủ sở hữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành
công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu) , chuyển doanh nghiệp từ chỗ
hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy
định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp.
Từ Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá
VII (6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT(6/1992) của Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), rồi tới các Nghị định số
28/CP(7/5/1996), 25/CP(23/7/1997), Nghị định 44/CP(29/6/1998), Nghị
định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về
chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Cổ phần hoá luôn
được Đảng và Nhà nước xác định là việc chuyển các doanh nghiệp Nhà
nước thành các Công ty cổ phần nhằm thực hiện các mục tiêu:
• Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp
• Huy động vốn của toàn xã hội
• Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong
doanh nghiệp
• Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp
7
Như vậy có thể thấy: so với các nước đã và đang tiến hành Cổ phần
hoá trên thế giới, thì ở nước ta, chủ trương Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước lại xuất phát từ đường lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội trong
giai đoạn hiện nay: chúng ta đang bố trí lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ
chế quản lý cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản của Nhà nước. Đó là đặc điểm lớn
nhất chi phối, quyết định mục đích nội dung và phương thức Cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước . Vì vậy về thực chất Cổ phần hoá ở nước ta là
nhằm sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước cho hợp lý và hiệu quả, còn việc
chuyển đổi sở hữu của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông trong công
ty cổ phần chỉ là một trong những phương tiện quan trọng để thực hiện mục
đích trên.
1.2. Đặc điểm của Cổ phần hoá và của công ty Cổ phần
1.2.1. Đặc điểm của cổ phần hoá
Chúng ta đều biết rằng cái cốt lõi của quá trình Cổ phần hoá là vấn
đề sở hữu và quyền sở hữu. Còn Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là
chuyển đổi sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước. Sở hữu theo quan niệm
của chủ nghĩa Mác là quan hệ giữa lao động với những điều kiện khách
quan của lao động, đây là một phạm trù cơ bản bao trùm của quan hệ sản
xuất , nó phản ánh lao động tổng thể của con người và những mối quan hệ
của họ trong việc chiếm hữu những điều kiện khách quan phục vụ cho lơị
ích của con người và sự phát triển xã hội.
Thông qua việc phân tích mối quan hệ bản chất của sở hữu ta thấy
hiện rõ hai nội dung cơ bản của sở hữu là : sở hữu xã hội và chiếm hữu tư
nhân . Trong đó sở hữu xã hội dùng để chỉ quan hệ lao động trừu tượng với
toàn bộ các điều kiện khách quan trực tiếp của lao động. Giữa sở hữu xã
hội và chiếm hữu tư nhân có mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa
tách biệt. Sở hữu xã hội có hình thái vận động là giá trị mà sự biểu hiện
của nó chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, còn chiếm hữu ta nhân luôn được
thực hiện dưới dạng hoạt động cụ thể , có ích trong hệ thống phân công lao
động xã hội mà sản phẩm của nó thể hiện dưới dạng một hàng hoá hay một
loại dịch vụ nhất định . Hệ quả của sự thống nhất và tách rời giữa sở hữu
xã hội và chiếm hữu tư nhân dẫn đến sự phân biệt giữa quyền sở hữu và
quyền sử dụng tài sản xã hội . Người có quyền sở hữu sẽ nắm quyền chi
8
phối giá trị , nhằm mục đích tìm kiếm một giá trị cao hơn còn người có
quyền sử dụng là người trực tiép thực hiện một hoạt động kinh tế cụ thể nào
đó để tạo ra giá trị, đó là phương tiện để tăng giá trị . mối quan hệ của
chúng có thể hiểu là mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện. Chính sự
tách biệt của sở hữu xã hội và chiếm hữu xã hội đã tạo ra các tầng lớp
người trong xã hội .
Việc vạch ra tính chất của sở hữu là một việc vô cùng quan trọng để
hiểu được sự vận động của nó trong nền kinh tế thị trường. Sự tách biệt
giữa hai mặt của sở hữu là một quá trình lịch sử góp phần cho sự ra đời, sự
phát triển của thị trường chứng khoán và của công ty Cổ phần .
1.2.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
- Xét về mặt pháp lý : công ty Cổ phần là một tổ chức kinh doanh có
tư cách pháp nhân độc lập, được hưởng quy chế pháp lý của Nhà nước, có
tư cách bên nguyên để kiện các pháp nhân khác đồng thời cũng có thể bị
các pháp nhân khác kiện. Công ty Cổ phần có vốn kinh doanh do nhiều
người đóng góp dưới hình thức cổ phần. Các cổ đông trong công ty chỉ phải
chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vị vốn góp của
mình cho công ty chứ không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh
doanh một chủ hay hình thức kinh doanh chung vốn. Nhờ đó mà khả năng
thu hút vốn đầu tư và khả năng mạo hiểm cao hơn. Công ty Cổ phần là một
hình thái pháp lý gần nh hoàn hảo trong việc huy động những lượng vốn lớn
trong xã hội. Mệnh giá của cổ phiếu trong công ty Cổ phần thưòng được
định giá thấp để có thể huy động, khai thác ngay cả số tiền tiết kiệm nhỏ
nhất trong công chúng.
- Xét về mặt huy động vốn : thì công ty Cổ phần giải quyết hết sức
thành công vì nó tạo điều kiện cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có
cơ hội đầu tư có lợi và an toàn, bởi vì: Việc mua cổ phiếu không những
đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần , mà còn hứa hẹn mang đến cho họ một
khoản thu nhập “ngầm” nhờ sự tăng giá trị của cổ phiếu khi công ty làm ăn
có hiệu quả. Mặt khác các cổ đông có quyền tham gia quản lý công ty theo
điều lệ của công ty Cổ phần và được pháp luật bảo đảm. Điều lợi nữa là
các cổ đông được hưởng ưu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát
hành của công ty trước khi công ty đem bán rộng rãi cho công chúng.
9
Một đặc điểm về vốn của công ty Cổ phần nữa là sự linh hoạt trong
việc chuyển nhượng, mua bán những cổ phiếu tự do. Như vậy sẽ chẳng khó
khăn gì cho những người muốn rút vốn kinh doanh hay muốn tham gia kinh
doanh thêm trong công ty Cổ phần. Nghĩa là việc chuyển từ sở hữu này
sang sở hữu khác diễn ra rất mau lẹ mà guồng máy của công ty vẫn có thể
hoạt động bình thường. Cổ tức của công ty Cổ phần không những là mối
quan tâm của các cổ đông trong công ty Cổ phần, mà còn có tác động rất
lớn đến giá trị giao dịch cổ phiếu của Thị trường chứng khoán bởi tâm lý
những người góp vốn cổ phần thường muốn thu được lợi tức cổ phần cao
hơn lãi suất trên thị trường vốn.
- Xét về mặt sở hữu: công ty Cổ phần có nhiều chủ sở hữu, chủ sở
hữu của công ty Cổ phần là các cổ đông , song phần lớn các cổ đông của
công ty Cổ phần không tham gia vào quản lý công ty mà giao quyền điều
hành và quản lý công ty cho một bộ phận nhỏ đó là Hội đồng quản trị . Các
chủ sở hữu khác chỉ thực hiện quyền sở hữu của mình trên phương diện thu
lợi tức cổ phần thông qua hoạt động kinh doanh của công ty; tham gia Đại
hội đồng cổ đông, quyết định những vấn đề có tính chiến lược của công ty
như thông qua điều lệ, phương án xây dựng công ty, quyết toán tài chính,
giải thể, bầu cử và ứng cử vào bộ máy lãnh đạo của công ty.
1.3. Nội dung của cổ phần hoá:
Với mục tiêu như :
- Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp
- Huy động vốn của toàn xã hội
- Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong
doanh nghiệp
- Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp
Thì tiến trình Cổ phần hoá đã dành được sự quan tâm đặc biệt của
Đảng, Chính phủ, các ban ngành và chính quyền địa phương. Trong suốt
hơn 10 năm thực hiện, nhiều văn bản pháp qui quy định chi tiết nội dung cổ
phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được ban hành nhằm đưa công tác Cổ
phần hoá phù hợp với từng giai đoạn. Đặc biệt Nghị định 44/CP(29/6/1998)
của Chính phủ quy định chi tiết nội dung Cổ phần hoá bao gồm: đối tượng
cổ phần hoá, hình thức cổ phần hoá, xác định giá trị doanh nghiệp, đối
tượng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực trạng doanh nghiệp.
10
1.3.1. Về đối tượng cổ phần hoá:
Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và
điều kiện kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hoá là những doanh
nghiệp Nhà nước hội tụ đủ 3 điều kiện : có quy mô vừa và nhỏ ; không
thuộc diện Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư ; có phương án kinh doanh hiệu
quả hoặc tuy trước mắt có khó khăn nhưng triền vọng tốt.
Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ 2 ( doanh nghiệp không thuộc
diện Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư ) được coi là quan trọng nhất bởi
những doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vĩ
mô của Nhà nước , là đòn bẩy kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
ổn định, theo đúng định hướng XHCN.
1.3.2.Về lựa chọn hình thức tiến hành Cổ phần hóa:
Theo quy định thì có 4 hình thức Cổ phần hoá, Ban cổ phần hoá sẽ lựa
chọn một hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người
lao động. Các hình thức đó là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển
doanh nghiệp ; bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh
nghiệp ; tách một bộ phận của doanh nghiệp để cổ phần hoá ; bán toàn bộ
giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công
ty cổ phần.
1.3.3. Trên cơ sở đã lựa chọn hình thức Cổ phần hoá, khâu tiếp
theo đó là xác định giá trị doanh nghiệp:
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức
nhất trong quá trình Cổ phần hoá. Có 2 nguyên tắc xác định giá trị doanh
nghiệp được đưa ra, đó là:
Giá trị thực tế là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời
điểm cổ phần hoá mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được.
Người mua và người bán cổ phần sẽ thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện,
đôi bên cùng có lợi. Tại các nước có nền kinh tế phát triển, thoả thuận này
diễn ra trên thị trường chứng khoán, còn ở nước ta thoả thuận có thể diễn ra
thông qua các công ty môi giới, kiểm toán( đã diễn ra trên thị trường chứng
khoán nhưng chưa phổ biến). Trên cơ sở xác định được giá trị thực tế của
doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp sẽ là
phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả.
11
Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ
sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm Cổ phần hoá và giá trị thực tế
của tài sản tại doanh nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm
chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị
trường tại thời điểm Cổ phần hoá. Nguyên tắc này được đặt ra để đảm bảo
tính khách quan trong việc xác định giá trị doanh nghiệp.
Thực tế việc Cổ phần hoá các doanh nghiệp cho thấy, các doanh
nghiệp đăng ký Cổ phần hoá thường có xu hướng định thấp giá trị doanh
nghiệp, thông qua việc khai báo không chính xác như khai thấp giá trị
TSCĐ của doanh nghiệp, khai không đúng lượng vốn…từ đó ảnh hưởng tiêu
cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gây thiệt hại cho Nhà nước.
Ngược lại, hiện tượng cơ quan kiểm toán định giá cao hơn giá trị thực của
doanh nghiệp lại có thể làm thiệt hại cho người mua cổ phần.
1.3.4. Về việc xác định đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia
cổ phần:
Các đối tượng được phép mua cổ phần đó là: các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư ở Việt Nam
trong đó cná bộ công nhân viên tại các doanh nghiệp Nhà nước là đối
tượng được ưu tiên mua cổ phần.
Về số lượng cổ phần được mua có quy định như sau:
Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc
biệt: Một pháp nhân được mua không quá 10%, một cá nhân được mua
không quá 5% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ
phần đặc biệt: Một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá nhân được
mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Loại doanh nghiệp Nhà nước không tham gia cổ phần: không hạn chế
số lượng cổ phần lần đầu mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải
đảm bảo số cổ đông tối thiểu theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trên đây là mức quy định cụ thể về đối tượng mua cũng như mức mua
cổ phần, tuy nhiên nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích
việc mua cổ phần. Cụ thể là mọi người mua cổ phần sẽ được vay một cổ
phiếu khi mua một cổ phiếu bằng tiền mặt. Với người lao động, họ sẽ được
Nhà nước bán cổ phần với mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối
12
tượng khác, mỗi năm làm việc tại doanh nghiệp được mua tối đa 10 cổ
phần. Đối với người lao động nghèo trong doanh nghiệp cổ phần hoá, ngoài
việc được mua cổ phần ưu đãi họ còn được hoãn trả tiền mua cổ phần trong
3 năm đầu mà vẫn được hưởng cổ tức, số tiền này sẽ trả dần trong 10 năm
không phải trả lãi.
1.4.Tổ chức quản lý của công ty Cổ phần
Do tính chất có nhiều chủ sở hữu của công ty Cổ phần nên các cổ
đông không thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải
thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ quản lý lãnh đạo công ty đó là:
Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và kiểm soát
viên.
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan lãnh đạo quyết định cao nhất của
công ty. Đại hội đồng cổ đông đại diện cho trên 3/4 số vốn điều lệ của công
ty và được thành lập theo biểu quyết của đa số phiếu bầu. Đại hội đồng cổ
đông thường kỳ triệu tập vào cuối năm để giải quyết công việc kinh doanh
của công ty trong khuôn khổ điều lệ như quyết định phương hướng hoạt
động của công ty thông qua tổng kết năm tài chính, quyết định việc phân
chia lợi nhuận, bầu hoặc bãi miễn thành viên trong Hội đồng quản trị và
kiểm soát viên, Đại hội đồng cổ đông bất thường được triệu tập để sửa đổi
điều lệ của công ty.
Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của công ty bao gồm từ 3-12
thành viên. Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty quyết định
mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty. Hội đồng
quản trị bầu ra một thành viên làm chủ tịch Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng
quản trị có thể là người kiêm chức vụ Giám đốc hay Tổng giám đốc. Giám
đốc hay Tổng Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày
của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện
các nhiệm vụ và quyền hạn trong phạm vi được giao. Công ty Cổ phần
thường có hai kiểm soát viên do Đại hội bầu ra, trong đó có it nhất một
người có chuyên môn kế toán và không phải là thành viên của Hội đồng
quản trị hay người thân cận của Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc.
Xét về tính chất hoạt động của công ty Cổ phần : Sự hoạt động trong
công ty Cổ phần mang tính dân chủ cao do số lượng các cổ đông là những
chủ sở hữu nhiều. Vì thế mà cơ cấu tổ chức và chức năng của từng bộ phận
13
vừa đảm bảo được vai trò sở hữu vừa đảm bảo được hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty . Bằng việc quy định mệnh giá thấp , hợp lý, công ty Cổ
phần thu hút được đông đảo sự tham gia của công chúng, do vậy mà công ty
Cổ phần mang tính xã hội hoá cao, kéo theo sự quản lý mang tính dân chủ.
Hoạt động manh tính công khai, đặc biệt là công khai trước mọi cổ đông
với tư cách là những chủ sở hữu. Do đó tạo điều kiện cho các cổ đông có
được những hiểu biết về hoạt động của công ty, có đựơc tiếng nói riêng của
mình, có khả năng kiểm tra được những hoạt động của công ty, từ đó có
những quyết định kinh doanh riêng của mình.
1.5. Thuận lợi và khó khăn của công ty Cổ phần
Thuận lợi của công ty Cổ phần phải kể đến là việc thu hút và sử dụng
vốn nhàn rỗi trong dân cư nhờ vào việc phát hành cổ phiếu thông qua thị
trường chứng khoán. các công ty Cổ phần có khă năng huy động được một
lượng vốn lớn chỉ trong một thời gian ngắn. cách thu hút vốn của công ty
Cổ phần không chỉ dừng lại ở những nhà đầu tư lớn mà còn hấp dẫn được
một lượng tiền khá lớn đang nằm rải rác trong dân cư, kể cả những người
không giầu có gì cũng có thể tham gia mua cổ phiếu bởi hầu hết những cổ
phiếu thường có mệnh giá thấp. Hơn nữa, việc đầu tư vào các công ty Cổ
phần thường đem lại lợi ích lớn hơn so với việc gửi tiền vào các quỹ tín
dụng hay ngân hàng. Thông thường lợi tức do cổ phiếu đem lại cao hơn lãi
suất tiền gửi, dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao, góp phần phát triển kinh tế
đất nước.
Điểm thuận lợi nữa của công ty Cổ phần là các cổ đông trong công ty
không được phép rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ có thể mua, bán, chuyển
nhượng phần vốn góp của mình cho những người khác thông qua thị trường
chứng khoán. Do vậy số vốn kinh doanh của công ty luôn luôn ổn định cho
dù có những biến động lớn về nhân sự trong công ty . Có số vốn lớn, công
ty Cổ phần sẽ có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ,
nâng cao năng suất lao động, tận dụng hết dược những cơ hội kinh doanh ,
thích ứng nhanh được với những biến động của thị trường, đem lại hiệu quả
kinh doanh cao.
Với những thuận lợi trên, công ty Cổ phần đã có vai trò thúc đẩy sự
ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán; tạo điều kiện thực hiện
xã hội hoá các hình thức sở hữu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét