Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Quảng Ninh

Chuyên đề tốt nghiệp
biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo Luật
các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 thì: “Ngân
hàng là loại tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và hoạt động, các loại
hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát
triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
1.1.2 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện rõ nét nhất qua các chức năng của
nó. Các chuyên gia kinh tế đã tượng trưng cho ngân hàng là trái tim của nền kinh
tế. Ngân hàng đã làm cho những nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông, đưa tiền từ
người thừa tiền đến người cần tiền, từ nơi thừa đến nơi thiếu giúp cho xã hội lưu
chuyển tiền tệ một cách hiệu quả hơn. NHTM trong nền kinh tế có các chức năng
sau:
1.1.2.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sụ tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần
bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu
nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy
họ có tiền để tiết kiệm.
Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.
Điều này tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai
cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính
giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một
5
5
Chuyên đề tốt nghiệp
lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng.
Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn.
Những chủ thể tạm thời thừa vốn sẽ là những người cho vay đầu tiên và
ngược lại là những chủ thể tạm thời thiếu vốn cũng sẽ là những người đi vay cuối
cùng của hệ thống tài chính. Trong nền kinh tế, có những cá nhân, tổ chức có nhu
cầu vốn vào các thời điểm khác nhau gây hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời.
Ngân hàng là người trung gian có vai trò huy động và tập trung các nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho
vay, đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…đảm bảo sự vận động
liên tục của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy trung gian tài
chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm,
đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu
tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho
vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi
tiền. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thoả
mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng
thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đồng đều thông tin và năng lực phân tích
thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu
quả của thi trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có
chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa
chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất.
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán
Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán.
Các ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ
6
6
Chuyên đề tốt nghiệp
do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh
toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim
loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế
tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền
giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền
quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in)
tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương
(NHTW). Từ đó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để
có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo),
thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân
hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì
hạn…
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham
gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo
nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một
ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân
hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân
7
7
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông
qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt
bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải
là tiền gửi thanh toán…
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Bên cạnh chức năng trung gian tài chính và tạo phương tiện thanh toán, các
NHTM còn thực hiện một chức năng quan trọng khác nữa là trung gian thanh
toán giữa các cá nhân, tổ chức hoặc đơn vị kinh tế trong xã hội. Việc làm trung
gian thanh toán của NHTM đã phát triển đến tầm mức đa dạng và hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều nhận thấy ngân hàng là trung tâm thanh toán lớn nhất
hiện nay. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối
các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHTW hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử
dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại
qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều
hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh
toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân
hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm
tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm
thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3 Hoạt động cho vay của NHTM
8
8
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.1 Khái niệm và vai trò cho vay của NHTM trong nền kinh tế
Trong thực tế, thuật ngữ cho vay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau ngay
cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh. Trong quan hệ tài chính, cho
vay có thể hiểu theo các nghĩa sau:
- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
thể thiếu hụt tiết kiệm thì cho vay được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
- Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì cho vay là một
giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi
vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác); trong đó bên cho vay chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi
đến hạn thanh toán.
Cho vay (tín dụng) là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Ngay từ
khi mới bắt đầu, các NHTM đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho
vay. Hình thức tín dụng truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn có bảo đảm
bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu; sau đó mở
rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản,
bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp. Các
NHTM lớn hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay (tiền)
ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách (để khách hàng có thể phát hành các
chứng khoán huy động vốn, mua hàng mà chưa cần trả tiền ngay, hoặc vay của
người thứ ba…), mua các tài sản để cho thuê…Đối với các NHTM Việt Nam thì
hoạt động cho vay đang là lĩnh vực chủ đạo chiếm tỷ trọng từ 70% - 80% doanh
thu.
Vai trò hoạt động cho vay của NHTM trong nền kinh tế bao gồm:
9
9
Chuyên đề tốt nghiệp
• Trong quá trình luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản
xuất kinh doanh, hoạt động cho vay của ngân hàng đóng vai trò trung gian lúc
tạm thời thiếu vốn và trung gian để giải quyết vốn ứ đọng ở nơi này bù đắp sự
tạm thời thiếu hụt ở nơi khác. Trong phạm vi đó, hoạt động cho vay đóng vai trò
điều hoà vốn từ nơi tạm thời thừa vốn đến nơi thiếu vốn mà không làm tăng thêm
hay giảm bớt tổng thu nhập trong nền kinh tế.
• Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Trong nền
kinh tế, doanh nghiệp chủ động chọn lĩnh vực đầu tư để mang lại hiệu quả cao
nhất nhưng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế phải có sự cân đối trong cơ cấu kinh
tế giữa các vùng lãnh thổ, các ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế nhất là
những ngành kinh tế mũi nhọn, những ngành kém phát triển nhưng cần thiết cho
nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích thích đầu
tư phát triển, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế nói chung.
• Cho vay tác động đến chế độ hạch toán kinh tế. Các doanh nghiệp có sử dụng
phải trả lãi nên phải tính đúng, tính đủ, hạch toán kịp thời, tính toán giảm giá
thành, tăng vòng quay vốn, nâng cao chất lượng sử dụng vốn, lợi nhuận đầu tư
vào các ngành có lợi nhuận cao… giúp các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất
đúng đắn.
Có thể nói rằng, hoạt động cho vay của các NHTM có ý nghĩa quan trọng
đối với toàn bộ nền kinh tế. Nó giúp cho ngành công nghiệp có vốn mua trang
thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ tiên tiến, quyền sở hữu công nghiệp…;
giúp cho người nông dân có khả năng mua hạt giống, thức ăn, phân bón…; các
sản phẩm sản xuất ra có thể được vận chuyển từ người sản xuất đến người tiêu
dùng nhờ sự tài trợ của ngân hàng đối với các xí nghiệp vận tải…
1.1.3.2 Các hình thức cho vay của NHTM
* Theo mục đích sử dụng: cho vay được chia thành 4 loại
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
bất động sản nhà ở, đất đai; bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại
và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp: là những khoản vay để bổ sung và sử dụng cho các doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như: phân
bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
- Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí thông thường của
cuộc sống.
* Theo thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân. Đối với các NHTM thì cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng
cao nhất.
- Cho vay trung và dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 1 năm, khi cho vay
trung và dài hạn cần chú ý một số điểm sau:
Một là Vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án. Cho vay trung và dài
hạn để giảm bớt rủi ro thì ngoài việc quy định vay phải có tài sản đảm bảo, ngân
hàng còn quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản
xuất, kinh doanh và đời sống. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án cao hay
thấp tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án.
Hai là Thời hạn trả nợ và nguồn trả nợ phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của
dự án đầu tư. Tuy nhiên, thời hạn trả nợ cũng có thể rút ngắn trong trường hợp
hiệu quả của dự án mang lại cao. Việc trả nợ trước hạn sẽ giúp ngân hàng thu
được nợ chắc chắn nhưng đôi khi ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân
hàng. Các khoản cho vay trung và dài hạn được dùng chủ yếu cho nhu cầu mua
11
11
Chuyên đề tốt nghiệp
sắm tài sản cố định nên nguồn trả nợ chính của khoản vay này là từ nguồn khấu
hao và một phần lợi nhuận do dự án đầu tư mang lại.
Ba là Giải ngân trong cho vay trung và dài hạn: đối với khoản cho vay này
có thể giải ngân một hoặc nhiều lần nhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền
vay đúng mục đích. Ngân hàng không cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên
quan đến dự án chưa phát sinh.
Bốn là Lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay
ngắn hạn. Nó có thể là lãi suất cố định trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là
lãi suất biến đổi tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường. Việc thu tiền lãi có
thể theo kỳ hạn tháng, quý, năm dựa vào số dư ở mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất
cho vay. Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hoặc trả
tiền lãi vào một ngày nào đó trong kỳ.
1.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng (CVTD) của NHTM
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm cho vay tiêu dùng
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng trên cơ sở tín
nhiệm, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, tạo ra thu nhập
từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Chính vì vậy đa
dạng hoá các hoạt động là xu hướng giảm thiểu rủi ro của các NHTM hiện nay.
Trong đó cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng: “Cho vay là việc
ngân hàng đưa tiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả
gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định”.
Xuất phát từ đó, “Cho vay tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân
hàng và một bên là các cá nhân, người tiêu dùng trong đó ngân hàng chuyển giao
tiền cho khách hàng với nguyên tắc người đi vay (khách hàng) sẽ hoàn trả cả gốc
cộng lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai, nhằm giúp khách hàng có thể
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
sử dụng hàng hoá, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ
có thể hưởng mức sống cao hơn”.
Như vậy, CVTD là một sản phẩm tín dụng rất cần thiết trong cuộc sống. Nó
giúp cho người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá trước khi họ có thể chi trả như
mua xe, nhà, các vật dụng gia đình cao cấp… mà trong tương lai họ có khả năng
chi trả.
* Đặc điểm của CVTD
- Quy mô mỗi khoản vay nhỏ lẻ nhưng số lượng người vay nhiều: các cá nhân
hoặc hộ gia đình đến ngân hàng cần vay một khoản tiền nào đó thì thường có nhu
cầu về vốn không lớn lắm vì những hàng hoá tiêu dùng có giá trị không lớn so
với những loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên các khoản CVTD lại có số lượng rất lớn, đa dạng do nhu cầu của con
người không bao giờ có giới hạn.
- Lãi suất của các khoản CVTD hầu hết là đều cao so với những khoản vay khác
trong ngân hàng do độ rủi ro của khoản vay này cao và khó kiểm soát. Người đi
vay có thể bị thất nghiệp đột ngột, bị tai nạn… không một ngân hàng nào có thể
tránh được những rủi ro này, họ phải học cách chấp nhận và tìm mọi cách để
giảm thiểu rủi ro mà khoản vay gây ra mà lãi suất cho vay cao là một trong
những cách bù đắp rủi ro hữu hiệu.
- Các khoản CVTD có chi phí khá lớn, việc thẩm định khoản cho vay thường là
tốn nhiều thời gian và tiền bạc. Thực tế điều này do quy mô một khoản vay mang
lại. Chi phí cho bất kỳ một khoản vay nào cũng bao gồm phần thẩm định khách
hàng, chi phí đi lại, chi phí thông tin…; ngoài ra ngân hàng còn phải chịu chi phí
quản lý các khoản vay, theo dõi và kiểm tra khách hàng nhưng do khoản vay nhỏ
nên tính bình quân ra, chi phí của nó không kém với chi phí của việc cho vay một
khoản lớn khác.
13
13
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ của nền
kinh tế. Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế mở rộng, khi mọi người lạc quan về
tương lai. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều hộ gia đình cảm
thấy không tin tưởng và đặc biệt, khi họ thấy tình trạng thất nghiệp gia tăng thì
họ sẽ hạn chế việc vay tiền từ ngân hàng.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ mật thiết tới nhu cầu
vay tiêu dùng của khách hàng.
- Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng thường không cao. Tư cách
của khách hàng cũng là một yếu tố có thể làm tăng mức độ rủi ro đối với khoản
vay tiêu dùng bởi vì khó xác định nhưng lại rất quan trọng trong quyết định sự
hoàn trả của khoản vay.
1.2.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng
Từ sau cuộc khủng hoảng 1929 – 1931, nền kinh tế thế giới có những sự
thay đổi đáng kể, thị trường tài chính tín dụng phát triển mạnh, đặc biệt là sau thế
chiến lần thứ hai. Các ngân hàng đã phát triển vượt bậc, nguồn vốn dồi dào, tín
dụng tăng mạnh. Trong lĩnh vực cấp tín dụng tiêu dùng, các ngân hàng Châu Âu,
Mỹ đã đi đầu và cho thấy kết quả thật khả quan. Họ không ngừng khai thác
nguồn tiền gửi trong dân cư trong khi đó các gia đình có lúc muốn gửi tiền vào
ngân hàng nhưng cũng có lúc cần vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Ngân hàng đã
khai thác triệt để nhu cầu đó. Đồng thời, lợi nhuận từ hoạt động CVTD lớn hơn
rất nhiều so với số tiền họ phải trả lãi cho việc huy động vốn. Chính vì vậy,
CVTD ngày càng được các ngân hàng coi trọng và đóng vai trò quan trọng trong
chiến lược kinh doanh của bất kỳ NHTM nào.
a. Vai trò của CVTD đối với NHTM
- Xu hướng hoạt động của các NHTM ngày nay là đa dạng hoá các hoạt động
nghiệp vụ, đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng mới để đáp ứng nhu cầu ngày
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét