Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Phân tích hoạt động tài chính tại công ty xây dựng công trình và thương mại giao thông vận tải

trong nhiều vấn đề nh: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu
quả không, có đạt lợi nhuận không, tơng lai sẽ có nhiều triển vọng hay khó khăn;
Khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn ra sao; vốn đợc huy động từ những
nguồn nào và đầu t vào đâu để thu lợi nhuận cao nhất
Đối với những ngời hởng lơng trong doanh nghiệp:
Nh chúng ta đã biết lơng là khoản thu nhập chính của những ngời làm công.
Ngoài ra, theo quy định doanh nghiệp luôn luôn giữ một phần đợc gọi là cá nhân
ngời hởng lơng góp cho doanh nghiệp.Nh vậy, ngời hởng lơng buộc phải quan tâm
tới tình hình tài chính công ty vì đó cũng chính là tình hình tài chính của họ. Cách
quan tâm của ngời hởng lơng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng chính là
phân tích tài chính.
2. Đối với các chủ nợ:
Các chủ nợ bao gồm các Ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng trớc hay
bán chịu. Họ phân tích tài chính chủ yếu là để quan tâm đến khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp đi vay. Đối với các khoản vay ngắn hạn thì ngời cho vay đặc
biệt quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Tức là khả năng
ứng phó của các doanh nghiệp đôí với món nợ này khi đến hạn. Còn đối với các
khoản nợ dài hạn thì ngời cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh
lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại phụ thuộc vào chính khả năng
sinh lời đó. Việc phân tích tài chính thay đổi theo bản chất và thời hạn của khoản
vay nhng dù cho đó là vay dài hạn hay ngắn hạn thì ngời cho vay đều quan tâm đến
cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay. Nh vậy, trớc
khi chấp nhận cho vay, ngời cho vay phải phân tích tài chính của doanh nghiệp vì
việc phân tích đó sẽ giúp họ trong các vấn đề nh: Doanh nghiệp có khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn hay không, tổng nợ của doanh nghiệp so với tổng tài sản
của doanh nghiệp là cao hay thấp, nguồn vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn của
doanh nghiệp nh thế nào, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Từ những nghiên cứu đó xem xét có nên cho vay hay không, và nếu cho vay
thì hạn mức là bao nhiêu, thời hạn thanh toán khoản vay trong bao lâu. Không mấy
ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy doanh nghiệp không đảm bảo chắc
chắn khoản vay đó có thể và sẽ đợc thanh toán ngay khi đến hạn.
3. Đối với nhà đầu t :
Đây là các doanh nghiệp và các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các
giá trị của doanh nghiệp và họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi
ro. Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu t. Hai yếu
tố này chịu ảnh hởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà đầu t lớn
thờng dựa vào các nhà chuyên môn - những ngời chuyên phân tích tài chính,
chuyên nghiên cứu về kinh tế, tài chính - để phân tích và làm rõ triển vọng của
doanh nghiệp cũng nh đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu t
hiện tại cũng nh nhà đầu t tiềm năng, thì mối quan tâm trớc hết của họ là việc đánh
giá những đặc điểm đầu t của doanh nghiệp. Các đặc điểm đầu t của một doanh vụ
có tính đến các yếu tố rủi ro, sự hoàn lại, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn,
khả năng thanh toán vốn, sự tăng trởng và các yếu tố khác. Mối quan hệ giữa giá trị
hiện hành của một tờ chứng khoán (cổ phiếu hay trái phiếu) đối với giá trị chờ đợi
trong tơng lai của nó, về cơ bản, có liên quan đến sự đánh giá các cơ hội đầu t của
doanh nghiệp. Các nhà đầu t quan tâm tới sự an toàn về đầu t của họ thông qua tình
hình đợc phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt
động của nó, đặc biệt chính sách lãi cổ phần của doanh nghiệp thờng là mối quan
tâm chủ yếu của các nhà đầu t.
Mặt khác, các nhà đầu t cũng quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Để
đánh giá thu nhập bình thờng của nó, họ quan tâm tới tiềm năng tăng trởng, các
thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành đợc những nguồn tiềm năng gì
và nh thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấu vốn của doanh nghiệp là gì, những
rủi ro và may mắn nào doanh nghiệp cần đảm bảo cho các nhà đầu t cổ phần, doanh
nghiệp có đòn bẩy tài chính nào không. Các đánh giá đầu t cũng liên quan tới việc
dự đoán thời gian, độ lớn và những điều không chắc chắn của những quyết toán t-
ơng lai thuộc doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà đầu t cũng quan tâm tới việc điều
hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp. Những
thông tin về công tác quản lý đòi hỏi những nguồn nào và sử dụng những nguồn ấy
dới sự giám sát của công tác quản lý nh thế nào cũng có thể tác động, ảnh hởng tới
các quyết định đầu t.
4. Đối với các cơ quan chức năng:
Các cơ quan chức năng bao gồm các cơ quan cấp cao trực thuộc Bộ, cơ quan
thuế, thanh tra tài chính
Các cơ quan này sử dụng báo cáo tài chính do các doanh nghiệp gửi lên để
phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đó với mục tiêu kiểm tra, giám sát tình
hình hoạt động kinh doanh, xem họ có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nớc hay
không, xem họ có kinh doanh đúng luật không. Đồng thời sự giám sát này còn giúp
cho các cơ quan có thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất có hiệu quả.
Trên đây đã nêu lên các vấn đề chứng tỏ tầm quan trọng của phân tích tài
chính đối với các thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp. Trớc đây
việc phân tích tài chính trong các doanh nghiệp ở Nớc ta còn ít đợc quan tâm, chú
ý do các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, nền kinh tế kém phát
triển. Gần đây, cùng với việc hoàn thiện luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát triển cả về số lợng lẫn qui mô nên việc phân tích tài chính đã đ-
ợc các doanh nghiệp quan tâm hơn. Mặt khác quá trình mở cửa hội nhập kinh tế
giữa Nớc ta với khu vực và thế giới cũng sẽ dẫn tới việc cạnh tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp trong nớc với nhau và giữa các doanh nghiệp trong nớc với các doanh
nghiệp nớc ngoài. Do vậy muốn tồn tại và đứng vững đợc trên thơng trờng các
doanh nghiệp bắt buộc phải chú trọng vào việc phân tích tài chính để xác định rõ
những u điểm, lợi thế cũng nh những hạn chế của doanh nghiệp mình và các đối thủ
cạnh tranh để từ đó có chiến lợc sản xuất kinh doanh phù hợp.
III. Những yếu tố ảnh hởng đến phân tích tài chính
trong doanh nghiệp.
1. Nguồn thông tin:
Phân tích tài chính giúp cho những ngời quản lý tài chính đánh giá một cách
chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nắm rõ những thế mạnh cũng nh
những hạn chế của doanh nghiệp và từ đó có những chiến lợc, kế hoạch về tài chính
cho tơng lai. Muốn thực hiện phân tích tài chính cần phải có những thông tin hay
nói cách khác thông tin là yếu tố không thể thiếu đợc trong phân tích tài chính của
một doanh nghiệp. Để cho việc phân tích tài chính của một doanh nghiệp có kết
quả, giúp cho việc dự đoán, hoạch định chính xác thì đòi hỏi các thông tin sử dụng
để phân tích phải chính xác, phù hợp với quá trình phân tích. Nếu những thông tin
sử dụng trong phân tích tài chính của một doanh nghiệp không chính xác sẽ dẫn
đến những kết quả phân tích sai lệch ảnh hởng đến những quyết định của nhà quản
lý và do vậy ảnh huởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy khi
phân tích tài chính của một doanh nghiệp cần phải quan tâm tới nguồn thông tin,
tính chính xác của những thông tin và phải chọn những nguồn thông tin phù hợp
với quá trình phân tích.
Nói đến thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp ngời ta th-
ờng nhắc tới 2 nguồn thông tin là: Nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp và nguồn
thông tin bên ngoài.
1.1. Các nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp:
Những thông tin nội bộ doanh nghiệp thờng đợc sử dụng để phân tích tài
chính là : Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lu
chuyển tiền tệ
* Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình tài
chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định dới hình thức tiền tệ . Đây là
một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tợng có quan hệ sở
hữu, quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là tài sản và nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh qui mô và cơ cấu các loại tài sản hiện có đến thời điểm lập
báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, phần tài
sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền pháp lý , sử dung lâu dài, gắn với
mục đích thu đợc các khoản lợi nhuận. Phần nguồn vốn phản ánh nguồn vốn đợc
huy động vào sản xuất kinh doanh. Về pháp lý, nguồn vốn cho thấy trách nhiệm
của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí kinh doanh với nhà nớc, số tài sản đã
hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vốn vay đối tợng khác, cũng nh trách
nhiệm phải thanh toán với ngời lao động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, Ngân
sách
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích
nghiên cứu, đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng
cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp.
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình
tài chính của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lợc các
khoản doanh thu, chi phí , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh
nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh ( sản xuất kinh doanh , đầu t tài chính, hoạt
động bất thờng). Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết
tình hình thực hiện đối với nhà nớc của doanh nghiệp trong thời kì đó.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, ngời sử dụng thông tin có
thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong kì, so sánh với kì trớc và doanh nghiệp khác để nhận biết khái quát hoạt động
trong kì và xu hớng vận động.
* Báo cáo lu chuyển tiền tệ :
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính đợc lập ra để trả lời những câu
hỏi liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình trả nợ hay đầu t
bằng tiền của doanh nghiệp.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về những luồng vào ra
của tiền và coi nh tiền, những khoản đầu t ngắn hạn có tính chất lu động cao có thể
nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trớc, ít chịu rủi ro
về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất. Những luồng vào, ra của tiền và những
khoản coi nh tiền đợc tổng hợp thành ba nhóm: Lu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh
doanh, lu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu t, lu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính.
Nó có thể đợc lập ra theo một trong hai phơng pháp: trực tiếp hoặc gián tiếp.
1.2. Các nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp:
Để đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì
ngoài các nguồn thông tin nội bộ của doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp
cũng rất quan tâm tới các thông tin liên quan đến môi trờng xung quanh của doanh
nghiệp.
Đó là những thông tin có liên quan đến các chính sách của các cơ quan quản
lý cấp trên chẳng hạn nh Tổng công ty đối với doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
trực thuộc Tổng công ty có thể chỉ là phụ thuộc về mặt hành chính hoặc phụ thuộc
cả về mặt hành chính lẫn tài chính. Đối với những doanh nghiệp hạch toán độc lập
chỉ phải chịu sự quản lý của Tổng công ty về mặt tài chính, họ tự hạch toán kinh
doanh, tự gánh chịu mọi thua lỗ cũng nh hởng lãi nhng nhiệm vụ chủ yếu là để
phục vụ cho Tổng công ty do vậy họ cần phải quan tâm đến các chính sách, cơ chế
của Tổng công ty. Đối với những doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, Tổng công ty
thực hiện chế độ quản lý trực tiếp cả về mặt hành chính lẫn tài chính nên việc phân
tích tài chính ở các doanh nghiệp này thực tế là phân tích hoạt động tài chính của
doanh nghiệp trong mối liên hệ với hoạt động tài chính của Tổng công ty, xem xét
mức độ và khả năng đóng góp của những doanh nghiệp này vào kết quả hoạt động
kinh doanh của Tổng công ty.Bên cạnh đó là những thông tin về các chính sách
kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc đối với các ngành nghề kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp nói riêng, các thông tin về thị trờng và đối thủ
cạnh tranh, những biến động của nền kinh tế, các thông tin có liên quan đến ngành,
nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
2. Phơng pháp phân tích:
Phơng pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, các mối liên hệ bên trong và
bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Có rất nhiều phơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, dới đây là một số
phơng pháp thờng hay đợc sử dụng:
- Phơng pháp so sánh
- Phơng pháp tỷ
- Phơng pháp phân tích tài chính Dupont.
2.1. Phơng pháp so sánh:
*Điều kiện áp dụng: Các chỉ tiêu cần phải thống nhất về thời gian, không
gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính toán và theo mục đích phân tích mà xác định
gốc so sánh.
*Nội dung:
So sánh giữa số hiện thực kỳ nàyvới số hiện thực kỳ trớc để thấy rõ xu hớng
thay đổi về tài chính doanh nghiệp để đánh giá sự tăng trởng hay tụt lùi trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
So sánh giữa số hiện thực và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình nghành , của
các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay
xấu, đợc hay cha đợc.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh theo chiều ngang của nhiều kì để thấy đợc sự thay đổi cả về số lợng tơng
đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các mức độ kế toán liên tiếp.
2.2 Phơng pháp phân tích tỉ lệ :
Là phơng pháp truyền thống, đợc sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính.
Đây là phơng pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng đợc
bổ sung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính đợc cải tiến và cung cấp đầy
đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá
một tỉ lệ tài chính tin cậy của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ kiện và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ.
Thứ ba, phơng pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả
các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỉ lệ theo chuỗi thời gian
liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phơng pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lợng tài chính
trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phơng pháp tỉ lệ yêu cầu phải xác định
đợc các ngỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp trên cơ sở so sánh các tỉ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỉ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính, các tỉ lệ tài chính đợc phân thành các nhóm tỉ lệ
đặc trng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp . Đó là nhóm các tỉ lệ về khả năng thanh toán, nhóm các tỉ lệ về cơ cấu tài
chính, nhóm các tỉ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỉ lệ về khả năng sinh lời.
2.3 Phơng pháp phân tích tài chính Dupont:
Phơng pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tơng hỗ giữa các
tỉ lệ tài chính chủ yếu. Công ty Dupont là công ty đàu tiên ở Mỹ sử dụng các mối
quan hệ chủ yếu này để phân tich các tỉ số tài chính. Vì vậy, nó đợc gọi là phơng
pháp Dupont. Ngày nay, phơng pháp này đợc sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia.
* Nội dung: Hệ thống phân tích tài chính Dupont
Theo phơng pháp này ngời ta xem xét, phân tích các mối quan hệ tơng tác
giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu xuất sử dụng tổng tài sản, giữa hiệu suất sử
dụng tổng tài sản và hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu, giữa hệ số nợ tổng tài sản và hệ
số sinh lợi vốn chủ sở hữu để nhằm đa ra các giải pháp nhằm tăng tiêu thụ và tiết
kiệm chi phí, xác định tỉ lệ nợ phù hợp
3. Chất lợng cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý tài chính doanh
nghiệp. Vì phân tích tài chính giúp cho những ngời quản lý tài chính doanh nghiệp
thấy tình hình tài chính hiện tại và tơng lai của công ty để cho họ có đợc những
quyết định, những phơng hớng đúng đắn đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Tầm quan trọng của phân tích tài chính đòi hỏi các cán bộ tiến hành phân tích tài
chính phải có trình dộ nghiệp vụ chuyên môn cao. Họ tiến hành phân tích tài chính
đồng thời phải lựa chọn sử dụng những thông tin có tính khách quan, những nội
dung và phơng pháp phù hợp với tình hình thực tế cũng nh tơng lai của doanh
nghiệp. Trình độ cán bộ là khâu quan trọng đóng góp phần sức quan trọng trong
công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
ở các nớc phát triển công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp th-
ờng đợc thực hiện bởi một bộ phận chuyên trách về phân tích và kiểm tra tài chính
trong nội bộ công ty. Bộ phận này đợc lãnh đạo bởi Giám đốc phụ trách tài chính
hay trởng phòng tài chính (tuỳ quy mô công ty) và bao gồm các nhân viên có trình
độ chuyên môn tốt về tài chính và phân tích tài chính. Rất ít trờng hợp các nhân
viên này là kế toán viên bởi bộ phận tài chính và bộ phận kế toán đợc phân tách rõ
ràng, cho dù đều chịu sự quản lý điều hành của một giám đốc tài chính phụ trách
chung. Đây là đặc điểm thể hiện tính chuyên môn hoá cũng nh sự phát triển về
quản lý tài chính của các doanh nghiệp này. Giám đốc tài chính hay trởng phòng
tài chính là ngời rất giỏi về chuyên môn, có vai trò rất quan trọng, quyết định trong
việc tạo ra các quyết định về tài chính.
Bên cạnh đó trình độ hiểu biết, nhận thức của các thành viên khác trong
doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của quá trình phân tích
tài chính. Hiệu quả của việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp sẽ cao hơn nếu
các thành viên trong doanh nghiệp đều nhận thức đợc tầm quan trọng của phân tích
tài chính, cố gắng giúp sức trong việc phân tích tài chính, kiến nghị, cung cấp
những thông tin bổ ích cho quá trình phân tích tài chính.
IV. Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1. Phân tích khái quát Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chính phục vụ
yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì vậy để đánh giá đợc tình
hình tài chính của doanh nghiệp trớc hết cần phải xem xét khái quát Báo cáo kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm tập hợp các chỉ tiêu và khoản mục
biểu hiện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh gồm 2 phần chính:
Phần một gồm có:
Thứ nhất là Thu nhập và Chi phí từ hoạt động kinh doanh.
Thứ hai là Thu nhập và chi phí từ hoạt động tài chính.
Thứ ba là Thu nhập và chi phí từ hoạt động bất thờng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét