Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
luôn nằm trong giới hạn nhất định đó là chi phí vận chuyển vàng. Điểm thấp
nhất và điểm cao nhất của tỉ giá so với đồng giá vàng được gọi là điểm vàng.Vì
trong điều kiện tièn giấy được tự do chuyển đổi ra vàng, vàng được tự do luân
chuyển giữa các nước đã giữ cho tỉ giá biến động không vượt quá điểm vàng.
Phạm vi biến động của tỉ giá phụ thuộc vào chi phí vận chuyển vàng. Khi
tỉ giá tăng đến điểm vàng cao nhất, tại thời điểm này vàng ở trong nước chạy ra
nước ngoài nên được gọi là điểm xuất vàng. Ngược lại tỉ giá giảm đến điểm
vàng thấp nhất, tại thời điểm này vàng chạy từ nước nước ngoài vào trong nước
nên gọi là điểm nhập vàng. Điểm xuất vàng của nước này sẽ là điểm nhập vàng
của nước kia.
Lợi thế của tỷ giá hối đoái trong chế độ bản vị vàng là biên độ biến thiên
của tỷ giá nhỏ nên quan hệ mua bán quốc tế cũng như hoạch định đầu tư thuận
lợi dễ dàng giữa các nước.
0.1.3.2 Tỷ Giá Hối Đoái Trong Chế Độ Tiền Tệ Bretton Woods:
Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), chế độ bản vị
vàng hoàn toàn sụp đổ, các nước tư bản chủ nghĩa chủ trương khôi phục lại chế
độ bản vị vàng không trọn vẹn, đó là chế độ bản vị hối đoái vàng thông qua
đồng Bảng Anh (1924), sau đó là đồng USD của Mỹ (1944).
Cụ thể vào tháng 7-1944, để tránh tình trạng kinh tế yếu kém như trước
chiến tranh, chính phủ các nước đồng minh vào cuối thế chiến thứ hai đã gặp
nhau tại một cuộc hội nghị của Liên Hợp Quốc về tiền tệ và tài chính. Hội nghị
được tổ chức tại Bretton Woods, New Hamphshire, Hoa Kì. Tại hội nghị hai tổ
chức đã được thiết lập, đó là:
• Quỹ tiền tệ quốc tế ( The International Monetary - IMF ).
• Ngân hàng quốc tế nhằm mục đích tái thiết và phát triển ( thường
gọi là ngân hàng thế giới - World Bank ).
Và cũng từ đó, đồng tiền USD của Mỹ được các nước chấp nhận sử dụng
trong quan hệ thanh toán quốc tế và được IMF xác định tiêu chuẩn giá cả với 1
USD = 0,888671 gam vàng. Chính vì vậy mà đã hình thành tỷ giá cố định giữa
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
USD với đồng tiền các nước trong IMF. Để giữ vững tỷ giá cố định với USD,
các nước trong IMF chỉ được mua bán ngoại tệ theo tỷ giá trong phạm vi biên độ
± 1% so với tỷ giá chính thức. Để giữ vững tỷ giá vàng IMF còn quy định giá
vàng là 35 USD/ounce vàng. Như vậy trong trường hợp nếu giá vàng trên thị
trường vượt qua 35 ounce vàng thì Mỹ tung vàng ra bán với giá 35 USD/ounce
vàng và ngược lại, khi giá vàng dưới 35 USD/ounce vàng thì Mỹ tung USD ra
và mua vàng về.
Với chế độ tiền tệ này, các nước đã duy trì được tỷ giá cố định trong thời
gian tương đối dài cho đến năm 1960. Bắt đầu từ sau năm 1960, nền kinh tế Tây
Âu và Nhật được phục hồi và có khả năng cạnh tranh với Mỹ, hơn nữa đồng
USD của Mỹ đã bị khủng hoảng và suy yếu, các nước dự trữ USD ngày càng
nhiều, đã lần lượt tấn công vào kho vàng của Mỹ, buộc Mỹ chuyển đổi USD ra
vàng. Sau hai lần phá giá USD hàm lượng vàng của 1 USD là 0.736662 g vàng.
Tình hình này làm cho kho dự trữ vàng của Mỹ tụt xuống thấp nhất và chính
thức ngày 13. 2.1973 Mỹ đơn phương tuyên bố chế độ tiền tệ Bretton Woods
sụp đổ và hầu hết các nước tư bản đều thi hành chính sách thả nổi của đồng tiền
nước mình.
0.1.3.3 Tỉ Giá Hối Đoái Sau Chế Độ Tiền Tệ Bretton Woods:
Sau khi chế độ tiền tệ Bretton Woods sụp đổ đến nay, các nước trên thế
giới chủ yếu lưu thông tiền giấy không chuyển đổi ra vàng trong lưu thông, hàm
lượng vàng chỉ mang tính chất tượng trưng, giá trị tiền tệ luôn thay đổi, tỷ giá
biến động không ngừng nên việc xác định tỷ giá không dựa trên đồng giá vàng
mà trên cơ sở so sánh sức mua của hai đồng tiền, bao gồm sức mua trong nước
và sức mua quốc tế gọi là ngang giá sức mua.
Trên thực tế tỉ giá được hoàn toàn xác định do quan hệ cung cầu ngoại hối
trên thị trường, tại mỗi thời điểm nhất định ở mỗi thị trường khác nhau trên thế
giới, tỉ giá biến động liên lục trong ngày, còn gọi là cơ chế tỉ giá thả nổi.
Tuy nhiên để tránh sự biến động thăng trầm quá mức của tỉ giá gây ảnh
hưởng không tốt đến mọi hoạt động trong nền kinh tế như gây ra lạm phát hay
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
suy thoái kinh tế, cần thiết phải có sự can thiệp quản lý của nhà nước. Thông
qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhà nước chủ động điều chỉnh tỉ giá hối đoái
theo hướng có lợi cho nền kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và phát triển,
còn gọi là cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý.
0.1.4 Các Chế Độ Tỷ Giá Hối Đoái:
0.1.4.1 Chế Độ Tỷ Giá Hối Đoái Cố Định.
Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động thường xuyên, không phụ thuộc
vào quy luật cung – cầu, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Chính phủ. Trong
một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đóai hoặc được giữ không đổi
hoặc chỉ được cho phép dao động trong một phạm vi rất hẹp. Nếu tỷ giá hối đoái
bắt đầu dao động quá nhiều, các Chính phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá hối
đoái trong vòng giới hạn của phạm vi này.
Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, các nhiệm vụ quản lý của một
công ty đa quốc gia ít khó khăn hơn. Tuy nhiên, vẫn có rủi ro là chính phủ sẽ
thay đổi giá trị của một đồng tiền nào đó. Việc giảm giá đồng tiền có thể khuyến
khích xuất khẩu, và qua đó tăng năng suất (và việc làm) của một nước, bởi vì nó
khuyến khích người tiêu thụ và các công ty nước ngoài mua hàng hóa tính bằng
đồng tiền bị giảm đó. Việc tăng giá (tăng giá trị) của một đồng tiền có thể làm
tăng cạnh tranh của các công ty nước ngoài đối với các công ty địa phương, do
đồng ngoại tệ có thể được mua với giá rẻ.
0.1.4.2 Chế Độ Tỷ Giá Hối Đoái Thả Nổi Tự Do.
Trong một hệ thống tỷ giá thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được các lực thị trường
ấn định mà không có sự can thiệp của Chính phủ. Cơ sở cơ bản được sử dụng
làm căn cứ xác định tỷ giá hối đoái thả nổi là quan hệ cân bằng cung cầu ngoại
tệ trên thị trường ngoại hối.
Chế độ tỷ giá thả nổi cho phép xác định một tỷ giá danh nghĩa gần với sức
mua thực tế của đồng tiền các nước. Nó phản ánh tương đối xác thực những biến
đổi kinh tế của mỗi nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các nước
với nhau.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Một lợi điểm khác của tỷ giá thả nổi tự do là các ngân hàng trung ương
không bị đòi hỏi phải liên tục duy trì tỷ giá hối đóai trong biên độ đã định. Vì
vậy họ không bị bắt buộc phải thực hiện một chính sách can thiệp có thể tạo nên
những tác động không thuận lợi đối với nền kinh tế chỉ để kiểm sóat tỷ giá. Hơn
nữa, các chính phủ có thể thực thi những chính sách mà không cần bận tâm là
các chính sách này sẽ duy trì được tỷ giá trong các biên độ quy định hay không.
Cuối cùng, nếu tỷ giá không được phép thả nổi, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn của
mình vào bất cứ nước nào có lải suất thấp, hạn chế vốn của các nhà đầu tư đem
ra khỏi nuớc mình. Như vậy, sẽ có nhiều hạn chế dòng vốn và hiệu quả của thị
trường tài chính sẽ giảm sút
Nhưng, bên cạnh đó, khi phản ánh được sự thay đổi trong sức mua thực tế
của của đồng tiền, các khả năng thích ứng với các biến động lớn của nền kinh tế
và tạo khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ động của các chính phủ thì tỷ giá
hối đoái thả nổi lại gây ra những biến động tỷ giá hết sức thất thường, làm cho
sự lên giá – xuống giá của các đồng tiền không sao dự đoán được (làm tăng tính
rủi ro của tỷ giá hối đoái). Điều này làm tăng thêm những yếu tố gây mất ổn
định của các nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế của các chính phủ.
0.1.4.3 Chế Độ Tỷ Giá Hối Đoái Hỗn Hợp Giữa Cố Định Và Thả
Nổi.
Tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can
thiệp của Chính phủ để tác động đến tỷ giá hối đoái phục vụ chiến lược chung
của nước mình. Đó là một chế độ tỷ giá trung gian giữa tỷ giá cố định với tỷ giá
thả nổi, trong đó tỷ giá hối đoái cần phải có khả năng phản ảnh được những biến
động thường xuyên và đột ngột của các nhân tố ngắn hạn để duy trì được khả
năng ổn định trong dài hạn.
Một tỷ giá hối đoái như thế cần phải được điều chỉnh để duy trì ổn định
xung quanh một vùng mục tiêu nhất định. Vùng mục tiêu này được xác định
thay đổi ở những mức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và trạng thái nền kinh
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tế trong những thời kỳ khác nhau. Việc vận dụng chế độ tỷ giá hỗn hợp hiện nay
ở các nước không chỉ khác nhau về mức độ của vùng mục tiêu mà còn khác
nhau về sự lựa chọn các cực và cơ sở để xác định tỷ giá. Khi các nước sử dụng
một hệ thống các công cụ để tác động vào thị trường ngoại hối nhằm đạt được
các mục tiêu về tỷ giá hối đoái, chính là quá trình điều hành chính sách tỷ giá
hối đoái của mỗi quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
0.1.4.3.1 Hệ Thống Dãi Băng Tỷ Giá .
Một trong những sắp xếp tỷ giá hối đoái cố định nổi tiếng được Cộng
Đồng Kinh tế Âu Châu (EEC) lập tháng 4 năm 1972, khi các nước thành viên
cộng đồng ấn định rằng các đồng tiền của họ sẽ được duy trì trong vòng các giới
hạn được thiết lập đối với nhau. Sắp xếp này được gọi là dải băng tỷ giá.
Theo thể thức EMS, tỷ giá hối đoái của các nước thành viên cũng được
duy trì trong các giới hạn cụ thể quy định và cũng ràng buộc với Đơn Vị Tiền Tệ
Châu Âu (đồng ECU). Đồng ECU không phải là một đồng tiền, mà chỉ là đơn vị
tính toán . Đó là bình quân gia quyền của tỷ giá hối đoái của các nước thành
viên ,mỗi quyền số được ấn định bởi tổng sản phẩm quốc dân và hoạt động mậu
dịch nội bộ Châu Âu tương ứng của nước thành viên. Các đồng tiền của các
nước thành viên này có thể dao động không quá 2,25% (6%cho Ý) từ mức
ngang giá được lập ban đầu. Để tránh việc giá trị đồng tiền biến động vượt khỏi
biên độ đã quy định, các ngân hàng Trung ương can thiệp trong các thị trường
ngoại hối. Các nước thành viên hoàn toàn của EMS là Bỉ, Đan Mạch, Pháp ,Đức
,Ý, Luxembourg và Hà Lan. Hy Lạp , Tây Ban Nha và Anh cũng ký hiệp định
EMS nhưng lúc đầu quyết định không tham gia hệ thống tỷ giá hối đoái này.
Tháng 10/1990 Anh đồng ý gia nhập thể thức tỷ giá hối đoái của EMS .
Theo thể thức này , đồng bảng sẽ được phép giao động +_ 6% so với tỷ giá 2,95
mark Đức mỗi bảng.
Các tỷ giá trung tâm của vài đồng tiền ràng buộc với đồng ECU đã được
điều chỉnh nhiều lần giữa năm 1986 và 1991.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Mỗi đồng tiền ràng buộc với đồng ECU được phân bổ một tỷ giá gọi là tỷ
giá hối đoái trung tâm tương ứng với đồng ECU. Các tỷ giá được giao này ta có
thể xác định tỷ giá trung tâm giữa hai đồng tiền bất kỳ nào đó .Với tỷ giá trung
tâm của hai đồng tiền này, có thể xác định các giới hạn trên và dưới bằng cách
áp dụng biên độ +_ 2,25%.
Một vài chính phủ có thể không đồng ý về các tỷ giá hối đóai trung tâm
thích hợp. Ngòai ra, một vài chính phủ có thể thích một vùng mục tiêu rộng hơn
các chính phủ khác
Nếu các vùng mục tiêu được thực hiện ,các chính phủ sẽ chịu trách nhiệm
can thiệp để giữ cho các đồng tiền của mình nằm trong các vùng này. Nếu các
vùng vừa đủ rộng ,ít khi cần đến sự can thiệp của chính phủ . Tuy nhiên, các
vùng rộng như vậy về cơ bản sẽ gần giống như hệ thống tỷ giá thả nổi tự do. Các
chính phủ thường can thiệp khi giá trị của một đồng tiền biến động vượt khỏi
một vùng ẩn có thể chấp nhận được nào đó
Nếu các vùng mục tiêu hẹp, các chính phủ sẽ bị buộc phải can thiệp liên
tục, mà trong vòng một vài trường hợp sẽ làm trở ngại các chính sách kinh tế
khác
Nếu các chính phủ không thể duy trì giá trị của một đồng tiền trong phạm
vi mục tiêu, hệ thống này không thể tạo nên sự ổn định trong các thị trường quốc
tế. Một quốc gia đang chịu một thâm hụt cán cân mâu dịch lớn có thể cố ý cho
phép đồng tiền của mình thả nổi thấp hơn biên độ dưới để kích thích mức cầu
của nước ngoài đối với xuất khẩu của mình. Kết quả là có thể có các thay đổi
lớn trong các mẫu mực mậu dịch quốc tế. Hơn nữa , giá cả ở thị trường tài chính
sẽ biến động nhiều hơn vì những người tham gia thị trường tài chính sẽ kỳ vọng
một vài đồng tiền biến động vượt khỏi các vùng mục tiêu của chúng .Kết quả sẽ
là một hệ thống không khác biệt gì với hệ thống tỷ giá thả nổi tự do
0.1.4.3.2 Hệ Thống Tỷ Giá Con Rắn Tiền Tệ .
Hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ còn được gọi là neo tỷ giá có thể điều
chỉnh hay là các ngang giá trượt. Trong hệ thống này , một quốc gia ấn định một
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngang giá cho đồng tiền của mình và cho phép một thay đổi nhỏ xoay quanh
ngang giá chẳng hạn như cộng trừ 1% so với ngang giá. Lưu ý trong hệ thống
này là các giá trị danh nghĩa sẽ được thay đổi với số lượng nhỏ và thường là có
thông báo trước với khoảng thời gian thật cụ thể, chẳng hạn như mỗi tháng một
lần cho đến khi nào đạt đến tỷ giá cân bằng.
Các ngang giá này sẽ được điều chỉnh dần với số lượng nhỏ tuân theo
những chỉ dẫn trong hành vi các biến số của nền kinh tế như vị thế dự trữ ngoại
hối quốc gia, những thay đổi gần đây trong cung tiền hoặc giá cả hoặc những
thay đổi gần đây của tỷ giá xoay quanh ngang giá. Khi những biến số này tạo ra
những sức ép tiềm ẩn lên quốc gia chẳng han như dự trữ ngoại hối quốc gia suy
yếu, giá trị ngang giá của đồng tiền sẽ được phá giá một cách chính thức với một
tỷ lệ phần trăm rất nhỏ. Tất nhiên khi giá trị ngang giá thay đổi thì biên độ 1% sẽ
áp dụng cho ngang giá mới .
Để ngăn chặn khả năng đầu cơ gây mất ổn định trong tỷ giá hối đoái,
chính phủ có thể điều chỉnh lãi suất ngắn hạn để cách ly bất kỳ khoản lợi nhuận
nào có thể có do những thay đổi trong tỷ giá đã được thông báo trước hay nhà
đầu cơ có thể dự đoán được từ bản chất của hệ thống tỷ giá này. Chẳng hạn một
thông báo phá giá tiền tệ 2% phải đi kèm theo 2% tăng lên trong lãi suất ngắn
hạn , mặc dù điều này có thể ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ
của chính phủ
Những người ủng hộ hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ cho rằng ít nhất về
mặt lý thuyết sự hiện hữu của mức trần và sàn tỷ giá có thể tạo ra tính kỷ luật
trong chính sách tiền tệ . Ngoài ra , tỷ giá thay đổi một cách định kỳ cũng có
nghĩa là vai trò của chính sách tỷ giá đối với việc điều chỉnh cán cân thanh toán
sẽ được duy trì . Cuối cùng , bởi vì chỉ có mỗi thay đổi với tỷ lệ nhỏ cho nên ít
có nguy cơ dẫn đến đầu cơ tiền tệ. Vào tháng 09/1996 ChiLê và Nicaragua đã
áp dụng thành công chế độ tỷ giá con rắn tiền tệ
Những tranh luận chống lại hệ thống này là một thay đổi lớn trong vị thế
cán cân thanh toán của một quốc gia do các cú sốc bên trong và bên ngoài sẽ cần
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có một thay dổi lớn để tái lập thế cân bằng cán cân thanh toán . Nếu cứ duy trì
liên tục hệ thống con rắn tiền tệ một cách nghiêm ngặt thì quốc gia đó có thể hy
sinh các mục tiêu bên trong như công ăn việc làm ,sức cạnh tranh hàng xuất
khẩu … Ngoài ra , nếu những thay đổi ngang giá nhỏ xảy ra định kỳ và nếu như
không dự đoán được sẽ làm phát sinh thêm những rủi ro trong đầu tư và thương
mại quốc tế . Cuối cùng trong điều kiện nền kinh tế không ổn định và có lạm
phát cao thì hệ thống này có thể chuyển sang giống như hệ thống tỷ giá thả nổi .
Columbia là một điển hình về thất bại trong việc áp dụng hệ thống tỷ giá neo
theo đồng đô la giai đoạn 1980-1990
0.1.4.3.3 Hệ Thống Tỷ Giá Thả Nổi Có Quản Lý .
Hệ thống tỷ giá hối đoái hiện hữu ngày nay đối với một vài đồng tiền nằm
đâu đó giữa cố định và thả nổi tự do . Nó giống hệ thống thả nổi tự do ở điểm
các tỷ giá được cho phép dao động hàng ngày và không có các biên độ chính
thức . Nhưng nó lại giống hệ thống cố định ở điểm các chính phủ có thể và đôi
khi can thiệp để tránh đồng tiền nước họ không đi quá xa theo một hướng nào
đó. Loại hệ thống này được gọi là thả nổi có quản lý , hay thả nổi “không hoàn
toàn” ( để đối lại với thả nổi “hoành toàn” khi tỷ giá thả nổi tự do không có sự
can thiệp của chính phủ )
0.1.4.3.4 Chế Độ Tỷ Giá Chuẩn Tiền Tệ:
Đây là một hệ thống tỷ giá hối đoái đặc biệt đã và đang áp dụng ở các
nước như Achentina, Hongkong, Estonia, Bungari và Lithuania để tạo niềm tin
cho các nhà đầu tư và chống lại những chi tiêu quá mức làm thâm hụt ngân sách
dẫn đến lạm phát cao.
0.1.5 Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Tỉ Giá
0.1.5.1 Cung Cầu Về Ngoại Tệ:
Như chúng ta đã biết, đối với cung của một loại hàng hoá bất kỳ nào thì
sự thay đổi cung của hàng hoá đó luôn chịu giới hạn nhất định nhưng cung của
tiền có thể tăng đến vô hạn. Ngược lại cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu sử
dụng, tích trữ, đầu cơ nên chúng ta có thể lượng ước được và tính toán được
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lượng cầu hàng hoá nhưng đối với tiền thì không, cầu tiền là vô hạn. Vì lẽ đó
cung cầu ngoại tệ thường xuyên thay đổi và không có giới hạn cho sự thay đổi
đó. Khi cung ngoại tệ vượt quá cầu ngoại tệ ngay lập tức giá ngoại tệ sẽ giảm
xuống ngược lại khi cầu ngoại tệ vượt quá cung ngoại tệ thì giá ngoại tệ sẽ tăng
lên và dẫn đến tỉ giá sẽ thay đổi. Như vậy mọi sự biến đổi của cung ngoại tệ
khác với sự biến đổi của cầu ngoại tệ đều tác động mạnh đến tỷ giá.
0.1.5.2 Tỷ Lệ Lạm Phát Tương Đối:
Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng đến các hoạt
động thương mại, đến lượt những hoạt động thương mại này tác động đến cầu
tiền và cung tiền, và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái.
0.1.5.3 Lãi Suất Tương Đối:
Thay đổi trong lãi suất tương đối tác động đến đầu tư chứng khoán nước
ngoài, đến lượt nó đầu tư chứng khoán nước ngoài lại ảnh hưởng đến cung và
cầu tiền và vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
0.1.5.4 Lãi Suất Thực:
Trong khi lãi suất cao tương đối có thể thu hút dòng vốn nước ngoài (để
đầu tư vào các chứng khoán có lãi suất cao) thì lãi suất cao này có thể phản ánh
dự kiến lạm phát cao. Vì lạm phát cao có thể đặt áp lực giảm giá lên đồng tiền
của nước đó nên không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đầu
tư vào các chứng khoán định danh bằng đồng tiền này. Vì lý do đó, cần thiết
phải xem xét lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh theo tỷ lệ lạm
phát. Theo hiệu ứng Fisher:
“Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát”
Chúng ta thường so sánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá
những biến đông của tỷ giá hối đoái bởi lẽ nó kết hợp giữa lãi suất danh nghĩa
và tỷ lệ lạm phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá. Khi các nhân
tố khác không đổi, sẽ có một tương quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của
hai quốc gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó.
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
0.1.5.5 Thu Nhập Tương Đối:
Nhân tố thứ ba tác động đến tỷ giá hối đoái là mức thu nhập tương đối.
Thu nhập của quốc gia 1 tăng trong khi thu nhập của quốc 2 lại không đổi thì tác
động : làm cho cầu đồng quốc gia 2 tăng do nhu cầu về hàng hóa quốc gia 2 của
người dân quốc gia 1 tăng, trong khi cung đồng quốc gia 2 không đổi và vì thế,
tỷ giá tăng lên.
0.1.5.6 Kiểm Soát Của Chính Phủ:
Chính phủ có thể tác động đến tỷ giá cân bằng qua nhiều cách khác nhau:
Áp đặt những hàng rào cản về ngoại hối
Áp đặt những rào cản về ngoại thương
Can thiệp thị trường ngoại hối
Tác động đến những biến động vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu
nhập quốc dân.
Các chính sách chính phủ thường áp dụng để tác động đến tỷ giá hối đoái:
Chính sách chiết khấu: Đây là chính sách mà ngân hàng Trung
Ương bằng cách thay đổi lãi suất cho vay chiết khấu của mình để điều chỉnh tỷ
giá hối đoái trên thị trường.
Chính sách hối đoái: Đây là chính sách mà Ngân hàng trung ương
can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua bán ngoại hối trên thị trường.
Phá giá tiền tệ: Đây là sự nâng cao một cách chính thức tỷ giá hối
đoái hay nói khác đi đó là việc nhà nước chính thức hạ thấp sức mua đồng tiền
nước mình so với ngoại tệ.
Nâng giá tiền tệ: Đây là việc nhà nước chính thức nâng giá đơn vị
tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, làm cho tỉ giá hối đoái giảm xuống. Ảnh
hưởng của nâng giá tiền tệ đối với ngoại thương của một nước hoàn toàn ngược
lại với phá giá tiền tệ, nghĩa là, nó có tác dụng hạn chế xuất khẩu và đẩy mạnh
nhập khẩu do đó nó góp phần duy trì sự ổn định của tỉ giá đảm bảo tỉ giá không
tụt xuống
GVHD: Ñinh Thò Thu Hoàng Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét