ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
đích tìm lợi nhuận. Các nguồn ngân quỹ phục vụ cho hoạt động của loại tổ chức
này chủ yếu dựa vào sự hiến tặng, trợ cấp, tài trợ mang tính từ thiện hay nhân
đạo
Các tổ chức hoạt động vì quyền lợi chung của tập thể : Những tổ chức này
được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các thành viên của nó.
Những tổ chức loại này bao gồm các nghiệp đoàn, các hiệp hội, các tổ chức
chính trị
Các tổ chức cung ứng các dịch vụ công cộng : Những tổ chức loại này được
thành lập nhằm cung cấp cho xã hội những dịch vụ công cộng, mục tiêu của
chúng là đảm bảo cho sự an toàn hay các lợi ích chung của toàn xã hội.
2. Một số quy luật cơ bản của tổ chức
2.1 Quy luật mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức.
Trong quá trình hoạt động, từng con người hay từng tập thể lớn, nhỏ đều xác
định cho mình một mục tiêu tiến tới. Từ mục tiêu ấy, định hình tổ chức phù hợp
để thực hiện có hiệu quả nhất mục tiêu đó. Vì vậy, tổ chức là công cụ thực hiện
mục tiêu. Mục tiêu càng rõ ràng thì thiết kế tổ chức càng thuận lợi và việc vận
hành tổ chức đạt đến mục tiêu sẽ thuận buồm xuôi gió và đạt hiệu quả cao nhất.
Quy luật này được xem là quan trọng nhất.Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu lại
chính là vấn đề nan giải nhất của bất kỳ tổ chức nào. Mục tiêu là cái đích phải
đạt tới của tổ chức, mục tiêu quy định quy mô và cấu trúc của tổ chức. Khi xác
định mục tiêu, người ta thường dùng "cây mục tiêu" để xác định và phân loại
thành mục tiêu trước mắt hay lâu dài, mục tiêu của quốc gia, của ngành hay địa
phương…
Trong các doanh nghiệp phải xác định mục tiêu chiến lược của mình, và để
đạt được mục tiêu chiến lược người ta thường phân chia thành từng giai đoạn
dài, ngắn khác nhau và xác định mục tiêu cụ thể. Nếu mục tiêu của hệ thống là
mục tiêu chiến lược thì cũng có thể coi mục tiêu của các đơn vị cấu thành là mục
tiêu cụ thể. Và trong trường hợp này, mục tiêu chiến lược của hệ thống còn là
mục tiêu cụ thể của hệ thống lớn hơn. Hiệu quả của tổ chức bắt đầu từ việc xác
5
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
định mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể cũng như mục tiêu của hệ thống và
mục tiêu của tổ chức hợp thành.
Xác định mục tiêu là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi người lãnh đạo hệ
thống tổ chức phải tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm lịch sử và dự báo chính
xác tương lai thì mới có thể xác định mục tiêu được đúng đắn. Người lãnh đạo
tổ chức hợp thành phải hiểu sâu sắc mục tiêu của hệ thống để xác định mục tiêu
của tổ chức mình phù hợp với mục tiêu của hệ thống, góp phần bảo đảm đạt
được mục tiêu của hệ thống một cách hiệu quả nhất. Số lượng mục tiêu càng ít
càng tốt và càng ít càng khó đối với người xác định mục tiêu, hoạch định đường
lối. Tổ chức có nhiều mục tiêu thường đạt hiệu quả kém. Khi xác định mục tiêu,
người ta xây dựng "cây mục tiêu" và phải lựa chọn mục tiêu ưu tiên trong số
nhiều mục tiêu và tốt hơn nữa là xếp hạng mục tiêu ưu tiên. Việc lựa chọn mục
tiêu ưu tiên là khắc phục tình trạng đa mục tiêu của tổ chức. Bằng kinh nghiệm
thực tiễn người ta thấy rằng tổ chức cơ sở chỉ nên có không quá ba mục tiêu.
Khi xác định mục tiêu, người ta rất chú ý tới tính khả thi của việc xác định
đó. Những công trình nghiên cứu của David Meclelland đã phát hiện rằng những
cá nhân có thành tích cao thường do đặt ra những mục tiêu vừa mức khó nhưng
có thể nắm bắt và điều khiển được. Vừa mức khó khăn có nghĩa là đòi hỏi cá
nhân hoặc tổ chức phải hoạt động rất căng thẳng mới đạt được mục tiêu. Theo
người phương Tây thường nói mục tiêu tốt là mục tiêu SMART, SMART là từ
viết tắt năm chữ đầu của năm từ chỉ nhân tố quan trọng nhất trong xác định mục
tiêu: S (Specific) đặc thù, M (Measurable) đo đạc được, A (Attainable) khả thi, R
(Relevant) thích hợp và T(Trackable) theo dõi được.
Khi đã xác định được mục tiêu, phải hình thành tổ chức để thực hiện mục
tiêu. Quy luật này của tổ chức đòi hỏi tổ chức được thiết kế thành công, nhưng
khi vận hành thực hiện mục tiêu đòi hỏi có hiệu quả. Để xác định hiệu quả của tổ
chức phải xác định được ba yếu tố: Yếu tố đầu vào, yếu tố quản lý vận hành và
yếu tố kết quả của tổ chức. Sự chênh lệch giữa yếu tố kết quả và yếu tố đầu vào
là hiệu quả của tổ chức, hiệu quả đó được đảm bảo bằng yếu tố quản lý, vận
hành của người lãnh đạo tổ chức.
6
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
2.2 Quy luật hệ thống
Nói đến tổ chức là nói đến hệ thống của tổ chức, vì tổ chức bao giờ cũng
được đặt vào hệ thống của nó. Sức mạnh của tổ chức là hệ thống của tổ chức.
Khi thiết kế một tổ chức bao giờ ta cũng thiết kế cấu trúc của nó, tức là xây dựng
nó thành hệ thống và lại đặt nó vào hệ thống lớn hơn bao trùm lên nó. Bản thân
tổ chức mang tính hệ thống. Sức mạnh của hệ thống tuỳ thuộc ở sự liên kết giữa
các tổ chức thành viên trật tự hay hỗn loạn, điều khiển được hay không điều
khiển được.
Hệ thống là một tập hợp gồm các phần tử liên kết với nhau trong những mối
liên hệ nhất định với những tính chất nhất định. Cốt lõi của quan điểm hệ thống
khi xem xét một tổ chức là phát hiện và phân tích các mối quan hệ và tính chất
của các mối quan hệ đó giữa các yếu tố hay các chức năng của đối tượng. Các
mối quan hệ này buộc các yếu tố, các bộ phận lại với nhau trong một cấu trúc,
chúng tạo nên sự thống nhất giữa bộ phận và toàn thể của tổ chức hay của hệ
thống. Quan điểm hệ thống này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac -
Lênin nêu lên thành luận điểm khoa học trong học thuyết duy vật biện chứng về
sự thống nhất vật chất của thế giới và mối quan hệ giữa chúng. Lý thuyết hệ
thống đã tạo ra khả năng cho con người mô tả, phân tích, xử lý các mối quan hệ
đa dạng giữa các đối tượng phức tạp của thực tiễn, của hệ thống tổ chức.
Quan hệ cơ bản nhất xác định hoạt động của hệ thống tổ chức là quan hệ vào
- ra của hệ thống tổ chức. Xem xét quan hệ vào ra là xem xét chức năng hoạt
động của hệ thống tổ chức, đồng thời cũng là xét hệ thống trong trạng thái mở,
trong sự tương tác của môi trường, chứ không phải là một hệ thống khép kín. Về
mặt thực tiễn, quan hệ vào ra là căn cứ chủ yếu để xem xét khả năng hoạt động
và hiệu quả của tổ chức và của hệ thống. Quy luật hệ thống không chỉ cho ta
thấy cấu trúc của tổ chức, mà còn chỉ cho ta cách quản lý hay điều khiển tổ chức
hoặc hệ thống tổ chức. Qúa trình điều khiển là quá trình tác động lên hệ thống để
biến cái vào thành cái ra theo mục tiêu thiết kế của hệ thống.
7
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Trong hệ thống tổ chức cần quy định rõ quyền hạn trách nhiệm và mối quan
hệ của các tổ chức cùng cấp và các cấp trong hệ thống, Trong hệ thống tổ chức
thường bắt đầu từ tổ chức cơ sở, dù nhỏ thì tổ chức cơ sở cũng mang đầy đủ tính
chất của một tổ chức. Khi tính điều khiển được của tổ chức vượt quá khả năng
quản lý thì phải phân cấp và thành lập bộ phận trung gian. Do nhu cầu phát triển
mà các bậc trong tổ chức thay đổi. Sự thay đổi sẽ bớt khó khăn khi ta quy định rõ
chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo
và quản từng cấp. Các tổ chức cùng cấp tạo nên cơ cấu hệ thống ngang, các tổ
chức trong hệ thống ngang cần có chức năng nhiệm vụ rõ ràng thì mới không
trùng lặp gây lãng phí và làm giảm sức mạnh của tổ chức. Ngoài ra, cần quy định
quan hệ giữa các tổ chức đồng cấp với nhau để phát huy sức mạnh tổng thể của
tổ chức, hệ thống này ví như dây truyền sản xuất trong công nghiệp. Trong hệ
thống quản lý, phân công trong hệ thống đồng cấp càng rõ ràng thì hiệu quả quản
lý càng cao.
Phân công và quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cấp trong hệ thống
còn quan trọng hơn, điều này sẽ quyết định hệ thống hoạt động nhịp nhàng hay
rối loạn. Nếu không quy định rõ thì sẽ xảy ra hiện tượng cấp dưới lạm quyền
hoặc cấp trên bao biện. trong hệ thống, khi xảy ra hiện tượng rối loạn chức năng
thì phần lớn là do hiện tượng "vừa đá bóng, vừa thổi còi", người ra quyết định
đồng thời lại là người thực hiện quyết định. Để khắc phục tình trạng trên, không
cho phép người lãnh đạo hệ thống lại kiêm lãnh đạo tổ chức cấu thành hoặc điều
khiển bộ phận cấu thành hay nhân viên trong tổ chức.
2.3 Quy luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù của tổ chức
Tổ chức là hệ thống của các tổ chức hợp thành và lại là tổ chức của hệ thống
lớn hơn. Để có thể tập hợp lại trong hệ thống, yêu cầu các tổ chức hợp thành
phải có cấu trúc đồng nhất, sự đồng nhất đó là điều kiện hình thành một hệ
thống. Một hệ thống đa chức năng có thể có nhiều tổ chức có chức năng khác
nhau, nhưng cần mang tính đồng nhất, ít nhất là đồng nhất về cơ chế quản lý. Ở
thời kỳ thay đổi cơ chế quản lý thường thấy sự hợp nhất các tổ chức không hợp
8
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
nhất hoặc chia tách các tổ chức đặc thù. Tính đặc thù cũng tạo nên sắc thái của tổ
chức, truyền thống của tổ chức. Việc tách, nhập quá nhiều và thường xuyên đổi
tên làm cho các tổ chức mất cả truyền thống của mình, một tổ chức khoa học
nằm ở vùng giao thoa của nhiều môn khoa học khác nhau không thể ghép vào
một tổ chức khoa học nào mà phải lập ra một tổ chức riêng mang tính đặc thù
của ngành khoa học giao thoa đó. Đây là quy luật hết sức khắc nghiệt. Tuy
nhiên, xác định tính đồng nhất không phải lúc nào cũng làm được, nhất là khi hệ
thống còn chịu sự tác động của các tổ chức khác.
2.4 Quy luật vân động không ngừng và vận động theo quy trình của tổ
chức
Bất kỳ một tổ chức nào sau khi ký quyết định thành lập hoặc giấy phép hành
nghề, nó bắt đầu hoạt động, hoạt động liên tục, hoạt động không ngừng. Khi tổ
chức ngừng hoạt động là tổ chức bị phá sản hay giải thể. Hoạt động là điều kiện
tồn tại của tổ chức, tổ chức cũng như cơ thể sống, sự vận động là lẽ sống của nó.
Vận động của hệ thống tổ chức không chỉ liên tục mà còn vận động toàn thể từ
những tổ chức hợp thành đến hệ thống. Tổ chức được thiết kế để thực hiện mục
tiêu, quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình vận động của tổ chức, nếu tổ chức
không vận động thì không có cách gì để thực hiện mục tiêu. Nói quy luật động
không ngừng là mới chỉ nói một vế, còn vế thứ hai là vận động theo quy trình
của tổ chức, quy trình được quy định cụ thể trong điều lệ hoạt động của tổ chức.
Tuy vận động không ngừng nhưng bộ máy tổ chức không phải là động cơ vĩnh
cửu, mà nó cũng cần năng lượng để hoạt động. Nguồn năng lượng đó chính là
các quyết định của cơ quan quản lý, sản phẩm của bộ máy lãnh đạo và quản lý là
các quyết định, việc tổ chức và thực hiện các quyết định là nhiệm vụ chính của
nó. Đó chính là năng lượng mà lãnh đạo cấp cho bộ máy tổ chức. Do đó, cần ban
hành và thực hiện chế độ chuẩn bị và thông qua các quyết định. Tuân thủ quy
luật khách quan này, khi thiết kế tổ chức, ngoài thiết kế hệ thống, còn phải xác
định cơ chế vận hành của bộ máy tổ chức, bảo đảm cho tổ chức vận động không
ngừng và đúng theo quy trình đã xác định. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành
9
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
cần có điều chỉnh, bằng các quyết định của cấp trên hay của lãnh đạo tổ chức,
bảo đảm cho tổ chức vận động không ngừng và đúng quy trình, đồng thời bảo
đảm cho tổ chức tự điều chỉnh.
2.5 Quy luật tự điều chỉnh của tổ chức
Quá trình vận động thực hiên mục tiêu, mỗi tổ chức tiến hành trong môi
trường riêng của mình. Môi trường ấy luôn thay đổi, nên bản thân tổ chức phải
tự điều chỉnh để tạo ra những cân bằng mới phù hợp với sự biến động của môi
trường, nhằm đạt mục tiêu một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy, tổ chức nào biết tự
điêu chỉnh là tổ chức linh hoạt và có sức sống. Để cho tổ chức tự điều chỉnh
được, khi thiết kế đã phải lưu ý tạo hành lang cho tổ chức tự điều chỉnh ngay
trong quá trình thực hiện mục tiêu. Những cơ chế quản lý, chế độ, chính sách của
Đảng và Nhà nước, của hệ thống tạo điều kiện và cho phép tổ chức tự điều
chỉnh. Tuy nhiên, không điều chỉnh hộ tổ chức, mà trước hết và cần thiết là tổ
chức tự điều chỉnh. Quy luật tự điều chỉnh thích hợp mọi loại hình, mọi cấp tổ
chức khác nhau. Điều cần lưu ý là cần làm rõ quyền hạn của mỗi cấp trong giới
hạn cho phép tự điều chỉnh mà ta quen gọi là "hành lang" hợp lý của tổ chức
trong quá trình điều chỉnh.
3. Tổ chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi
đường lối, chính sách của Đảng
V.I. Lênin, người thầy của cách mạng vô sản, đã từng nói: Trong cuộc chiến
tranh giành chính quyền, giai cầp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ
chức. Và khi đã có chính quyền, lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức. Có lúc trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Nga, Người đã nêu vấn đề một cách gay gắt: Toàn bộ nhiệm
vụ của Đảng cầm quyền là …tổ chức, tổ chức và tổ chức.
Trước đó nhiều thập kỷ, Các Mác đã chỉ rõ: Tư tưởng căn bản không thể
thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện được tư tưởng cần có những con
người sử dụng lực lượng thực tiễn. "Những con người thực hiện lực lượng thực
10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
tiễn" ở đây chính là tổ chức và tổ chức việc thực hiện. Rút kinh nghiệm không
thành công của các nhà yêu nước tiền bối và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin,
lãnh tụ Hồ Chí Minh đã bắt đầu sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam bằng
việc để rất nhiều tâm chí và tiến hành một cách rất cụ thể, công phu việc xây
dựng tổ chức Đảng cách mạng và các tổ chức quần chúng xung quanh Đảng. Khi
Đảng đã cầm quyền, Người lại đầu tư nhiều công sức chỉ đạo xây dựng chính
quyền cách mạng thực sự là công bộc của dân, xây dựng lực lượng vũ trang thực
sự từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Trong di chúc để lại cho toàn
Đảng, toàn dân Người đã nhấn mạnh: Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo
nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Sau hơn nửa thế kỷ lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam, năm 1982,
Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tổ
chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính
sách của Đảng. Đảng ta không những đã thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng
tạo trong việc đề ra đường lối cách mạng, mà còn cả trong tổ chức thực hiện, nên
đã nhân sức mạnh của dân tộc ta lên gấp nhiều lần, chiến thắng các kẻ thù hùng
mạnh và tàn bạo nhất thời đại.
Muốn cho tư tưởng, đường lối, chính sách được thực hiện, phải có tổ chức,
phải tổ chức con người lại với những phương tiện nhất định, chỉ đạo mọi người
hành động theo đúng những mục tiêu, phương hướng do tư tưởng đó xác định.
Chính trên ý nghĩa ấy, chúng ta nói: Khi Đảng đã có đường lối, nhiệm vụ chính
trị đúng đắn thì công tác tổ chức, cán bộ và công tác quản lý bảo đảm thực hiện
thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị. Đường lối nhiệm vụ chính trị và công tác
tổ chức, quản lý có mối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời nhau.
Bên cạnh những thành công, thắng lợi vĩ đại đó, chúng ta cũng còn nhiều yếu
kém: Đất nước còn nghèo nàn, kém phát triển; chưa cần kiệm trong sản xuất,
tiêu dùng và dồn công sức cho đầu tư phát triển; quản lý nhà nước về kinh tế, xã
hội còn bộc lộ nhiều non yếu; hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm; tổ chức
bộ máy còn cồng kềnh…
1. Khái niệm cơ cấu tổ chức
11
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn
nhau, được chuyên môn hoá, có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm nhất
định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiện những
hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã xác định.
Cơ cấu tổ chức là một hệ thống các mối liên hệ hoạt động chính thức bao
gồm nhiều công việc riêng lẻ, cũng như những công việc tập thể. Sự phân chia
công việc thành những phần việc cụ thể nhằm xác định ai sẽ làm công việc gì và
sự kết hợp nhiều công việc cụ thể nhằm chỉ rõ cho mọi người thấy họ cũng phải
cùng nhau làm việc như thế nào. Cơ cấu của tổ chức giúp cho nhân viên cùng
làm việc với nhau một cách có hiệu quả bởi:
- Phân bổ nguồn nhân lực và các nguồn lực khác cho từng công việc cụ thể
- Xác định rõ trách nhiệm và cách thức thể hiện vai trò của mỗi thành viên
theo quy chế của bản mô tả công việc, sơ đồ tổ chức và hệ thồng phân cấp quyền
hạn trong tổ chức.
- Làm cho nhân viên hiểu những kỳ vọng của tổ chức đối với họ thông qua
các quy tắc, quy trình làm việc và những tiêu chuẩn về thành tích mỗi công việc.
- Xác định quy chế thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định và quyết các
vấn đề của tổ chức.
2. Những yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý
2.1 Tính tối ưu: cơ cấu chức năng quản lý phải bảo đảm mối quan hệ tốt nhất
giữa các khâu và các cấp quản lý phải được thiết lập nên những mối quan hệ hợp
lý với số lượng cấp quản lý ít nhất trong hệ thống nhờ đó cơ cấu tổ chức quản lý
sẽ mang tính năng động cao, luôn luôn đi sát và phục vụ mục đích đề ra của hệ
thống.
2.2 Tính linh hoạt: cơ cấu tổ chức quản lý phải có khả năng thích ứng linh
hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong hệ thống cũng như ngoài môi trường.
2.3 Tính tin cậy: cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo tính chính xác của tất
cả các thông tin được sử dụng trong hệ thống nhờ đó đảm bảo sự phối hợp với
các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận hệ thống.
12
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
2.4 Tính kinh tế: cơ cấu tổ chức quản lý phải sử dụng chi phí quản lý đạt
hiệu quả cao nhất. tiêu chuẩn xem xét yêu cầu này là mối tương quan giữa chi
phí dự định bỏ ra và kết quả sẽ thu về.
2.5 Tính bí mật: đòi hỏi giữ gìn nội dung hoạt động của mỗi phân hệ và của
cả hệ thống, chống sự rò rỉ thông tin cho các hệ thống ngoài, sự thường xuyên
theo dõi của các hệ thống khác.
3. Những nguyên tắc tổ chức
3.1 Nguyên tắc xác định theo chức năng
Một vị trí công tác hay một bộ phận được định nghĩa càng rõ ràng theo các
kết quả mong đợi, các hoạt động cần tiến hành, các quyền hạn được giao và các
mối liên hệ thông tin với các vị trí công tác hay bộ phận khác, thì những người
chịu trách nhiệm càng có thể đóng góp xứng đáng hơn cho việc hoàn thành mục
tiêu của tổ chức.
Đây là nguyên tắc cơ bản chi phối quá trình chuyên môn hoá và hợp nhóm
các hoạt động để hình thành nên các bộ phận và phân hệ của cơ cấu. Việc coi
nhẹ nguyên tắc này dễ dẫn đến nguy cơ về sự lẫn lộn không biết ai sẽ phải làm
việc gì. Đây là nguyên tắc đơn giản về mặt nhận thức nhưng thường rất phức tạp
khi vận dụng. Để xác định một vị trí công tác hay một bộ phận cùng tất cả những
yếu tố liên quan đến nó, trong hầu hết các trường hợp đều cần đến tính nhẫn nại,
trí thông minh của những nhà tổ chức, và tính rõ ràng của các kế hoạch.
3.2 Nguyên tắc giao quyền theo kết quả mong muốn
Việc giao quyền là để trang bị cho người quản lý một công cụ thực hiện mục
tiêu, và do đó quyền được giao cho từng người cần phải tương xứng với nhiệm
vụ, đảm bảo cho họ khả năng thực hiện các kết quả mong muốn.
3.3 Nguyên tắc bậc thang
Tuyến quyền hạn từ người quản lý cao nhất trong tổ chức đến mỗi vị trí bên
dưới càng rõ ràng, thì các vị trí chịu trách nhiệm ra quyết định sẽ càng rõ ràng và
các quá trình thông tin trong tổ chức sẽ càng có hiệu quả.
13
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KHOA: KHOA HỌC QUẢN LÝ.
Việc nhận thức đầy đủ nguyên tắc bậc thang là rất cần thiết cho việc phân
định quyền hạn một cách đúng đắn, bởi vì cấp dưới phải biết ai giao quyền cho
họ và những vấn đề vượt quá phạm vi quyền hạn của họ phải trình cho ai.
3.4 Nguyên tắc tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm
Do quyền hạn là một quyền cụ thể để tiến hành những công việc được giao
và trách nhiệm là nghĩa vụ phải hoàn thành chúng, về mặt logic điều đó dẫn đến
yêu cầu quyền hạn phải tương xứng với trách nhiệm. Trách nhiệm về các hành
động không thể lớn hơn trách nhiệm nằm trong quyền hạn được giao phó, cũng
không thể nhỏ hơn.
Trong thực tế người quản lý thường cố bắt cấp dưới phải có trách nhiệm về
các công việc mà họ không có đủ quyền hạn cần thiết. Điều này có thể làm cho
việc thực hiện các công việc mất đi tính khả thi. Ngược lại, đôi khi quyền hạn
được giao đủ, nhưng người được uỷ quyền lại không có trách nhiệm phải sử
dụng đúng đắn quyền hạn đó. Trong trường hợp này hậu quả thật là tai hại,
quyền hạn sẽ bị lạm dụng để mưu cầu những lợi ích riêng.
3.5 Nguyên tắc về tính tuyệt đối trong trách nhiệm
Cấp dưới phải chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ trước cấp trên
trực tiếp của mình, một khi họ đã chấp nhận sự phân công và quyền hạn thực thi
công việc, còn cấp trên không thể lẩn tránh trách nhiệm về các hoạt động được
thực hiện bởi cấp dưới của mình trước tổ chức.
3.6 Nguyên tắc thống nhất mệnh lệnh
Mối quan hệ trình báo của từng cấp dưới lên một cấp trên duy nhất càng
hoàn hảo, thị mâu thuẫn trong các chỉ thị sẽ càng ít và ý thức trách nhiệm cá
nhân trước các kết quả cuối cùng càng lớn.
Mặc dù có khả năng một cấp dưới nhận được sự uỷ quyền của nhiều cấp trên,
những khó khăn thực tiễn trong việc phải phục vụ nhiều "ông chủ" là điều không
tránh khỏi. Nghĩa vụ cơ bản mang tính cá nhân, và quyền hạn được giao bởi
nhiều người cho một người rất có thể sẽ dẫn tới những mâu thuẫn cả về quyền
hạn lẫn trách nhiệm.
3.7 Nguyên tắc quyền hạn theo cấp bậc
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét