Quá trình CPH nêu trên thực chất là quá trình chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ
trị giá của DNNN cho các thành phần kinh tế và cá nhân, hay nói cách khác CPH
doanh nghiệp Nhà nớc cũng thuộc hành vi mua bán, trong đó Nhà nớc sẽ thu đợc tiền
do bán doanh nghiệp, còn các cổ đông sẽ đợc quyền sở hữu doanh nghiệp, quyền
định đoạt toàn bộ hoạt động kinh doanh và thụ hởng lợi nhuận sau khi đã làm tròn
nghĩa vụ nộp thuế.
Tuy nhiên, nớc ta hiện nay cả trong nghiên cứu và chỉ đạo vẫn còn có những ý
kiến và quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngợc với nguyên lý đã nêu trên. ý kiến đ-
ợc bàn cải nhiều nhất cho rằng doanh nghiệp sau khi CPH thì không thay đổi quyền
sở hữu và vẫn giữ nguyên là DNNN. Cổ phần hoá chỉ là một giải pháp đổi mới quản
lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN mà thôi.
Nếu thừa nhận ý kiến này là đúng thì điều này có nghĩa là sẽ biến từ DNNN hiện
nay thành công ty cổ phần với một cổ đông duy nhất là Nhà nớc hoặc số cổ phần của
doanh nghiệp chỉ bán cho các doanh nghiệp Nhà nớc khác mà thôi. Quan điểm nói
trên không đợc thể hiện trong các văn bản pháp quy Nhà nớc nhng đã gây ra không ít
khó khăn, trở ngại trong việc tổ chức, thực hiện Quyết định 202/CT của thủ tớng
Chính phủ về việc CPH. Một số ngời có trách nhiệm thì hoài nghi dẫn đến chần chừ
do dự, một số khác thì ngần ngại, đứng ngoài cuộc không tỏ rõ thái độ của mình. Chỉ
mới xét từ góc độ này đã phần nào lý giải đợc sự chậm trể trong việc thực hiện chủ tr-
ơng CPH.
1.2.1. Mục đích của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Thực trạng kinh tế -xã hội nớc ta cho thấy rằng việc CPH doanh nghiệp Nhà nớc
là không thể giải quyết đợc toàn bộ các vấn đề kinh tế Nhà nớc hiện nay. ít ra việc
phát triển một hình thức tổ chức doanh nghiệp đòi hỏi một môi trờng sống cho nó,
mà môi trờng kinh doanh, pháp lý, tâm lý xã hội của nớc ta hiện nay không mấy
5
thuận lợi cho công ty cổ phần sinh sôi và nảy nở. Do đó, vấn đề CPH doanh nghiệp
Nhà nớc chỉ có thể đợc xem là một trong nhiều giải pháp nhằm cơ cấu lại khu vực
kinh tế quốc doanh, và nó phải hớng vào các mục đích sau đây:
Mục đích đầu tiên của việc CPH doanh nghiệp Nhà nớc là chuyển một phần
quyền sở hữu về tài sản của Nhà nớc thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giúp Nhà nớc thu hồi đợc một số tài
sản nhờ bán bớt cổ phần cho nhân dân để đầu t vào các ngành trọng điểm khác. Nhờ
cách tổ chức theo hình thức một công ty đối vốn, nó sẽ làm giảm bớt sự can thiệp
không cần thiết của các cơ quan nhà nớc, tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc ra các
quyết định kinh doanh; hơn nữa, do tính chất của công ty cổ phần sẽ tách biệt đợc
phần vốn kinh doanh của Nhà nớc với tài chính quốc gia nói chung, tránh trờng hợp
các rủi ro của kinh doanh trở thành gánh nặng của ngân sách Nhà nớc. Mặt khác,
giúp cho các xí nghiệp quốc doanh đang có triển vọng phát triển, nhng thiếu vốn có
thể tự tạo ra dợc nguồn vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Muc
đích của viêc CPH doanh nghiệp nhà nớc là huy động vốn của toàn xã hội, các cá
nhân, các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nớc. Nhờ hình thức huy động vốn trực
tiếp, thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, ngân sách và tổ chức tín dụng bớt
một phần tài trợ để phát triển kinh doanh, để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc
làm cho ngời lao động, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ
cấu DNNN, vì hiện nay nhu cầu vay vốn vợt quá sức cung của các nguồn tài trợ. Đặc
biệt kể từ năm 1992 ngân sách nhà nớc không còn bao cấp nột phần vốn hoạt động
của xí nghiệp Nhà nớc. Việc chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần sẽ tạo
điều kiện thiết thực nhất để ngời lao động trong các DNNN có cổ phần, giúp nâng
cao vai trò làm chủ thực sự, thực hiện quyền làm chủ, tạo thêm động lực, thúc đẩy
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản cho Nhà nớc, nó góp phần nâng
cao thu nhập cho ngời lao động, góp phần làm tăng trởng kinh tế đất nớc. Các mục
đích của CPH doanh nghiệp Nhà nớc thực chất là nhằm chuyển hình thái kinh doanh
một chủ với sở hữu nhà nớc toàn phần trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần hổn
hợp nhà nớc t nhân hoặc công ty cổ phần t nhân và tạo điều kiện xác lập thị trờng
tài chính, mà cốt lõi là thị trờng chứng khoán để chuyển phơng thức vay mợn từ ngân
6
hàng sang huy động vốn trên thị trờng tài chính. Đó là xu hớng hữu sản hoá công
nhân.
Các mục tiêu trên có quan hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất. Khi
đạt đợc mục tiêu chuyển đổi sở hữu thì mục tiêu thu hút vốn, hay thu hồi vốn cho
ngân sách sẽ đạt đợc, và nếu chuyển đổi sở hữu đúng đối tợng thì cán bộ công nhân
viên có điều kiện làm chủ doanh nghiệp thật sự. Trong thời gian vừa qua do nhận thức
không thống nhất về mục tiêu CPH, có ngời nhấn mạnh về mục tiêu nâng cao vai
trò làm chủ v.v nên có khi đã biến các mục tiêu theo các h ớng ngợc chiều nhau
dẫn đến kìm hãm nhau. Do vậy mà trong khi triển khai các đề án thí điểm đã gặp
không ít khó khăn về mặt kỉ thuật CPH. Theo em trong các mục tiêu trên thì mục tiêu
chuyển đổi sở hữu là mục tiêu u tiên. Phải tập trung sức để đạt đợc mực tiêu này, vì
nó chi phối các mục tiêu khác. Không chuyển đổi đợc sở hữu thì mục tiêu CPH
không đạt, tất nhiên là các mục tiêu khác cũng không thành. Sự nhận thức nhất quán
về mục tiêu là hết sức quan trọng vì nó chi phối kế hoạch hành động và lựa chọn
công cụ để thực hiện đợc mục tiêu đó.
1.2.2. Đối tợng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Để xác định đối tợng CPH, song song với việc làm thí điểm chúng ta cần tiến
hành phân loại các DNNN hiện nay thành các nhóm:
Nhóm 1: Các doanh nghiệp vẫn thuộc sở hữu Nhà nớc.
Nhóm 2: Các doanh nghiệp cần chuyển đổi sở hữu trong đó có các nhóm nhỏ nh-
:
-Nhóm doanh nghiệp cổ phần hoá.
-Nhóm doanh nghiệp cần nhợng bán.
-Nhóm doanh nghiệp cho thuê v.v
7
Trong nhóm các doanh nghiệp CPH cũng cần chia thành các nhóm nhỏ nh:
-Nhóm doanh nghiệp phải cổ phần hoá ngay.
-Nhóm doanh nghiệp cha cổ phần hoá hoặc cổ phần hoá bộ phận v.v
Sau khi xác định, phân loại doanh nghiệp CPH chúng ta có thể phân cấp quyết
định, chỉ đạo thực hiện theo thứ tự nh :
-Nhóm xí nghiệp do Thủ tớng Chính phủ quyết định.
-Nhóm xí nghiệp do Bộ trởng Bộ quản lý các đơn vị sản xuất quyết định.
-Nhóm xí nghiệp do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc quyết
định.
Chính phủ đã xác định rõ loại doanh nghiệp cha cổ phần hoá gồm: các doanh
nghiệp hoạt động công ích. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ
Nhà nớc độc quyền kinh doanh nh:vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, in bạc và
các chứng chỉ có giá, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế. Số doanh nghiệp Nhà
nớc còn lại thuộc diện cổ phần hoá hoặc các hình thức chuyển đổi sở hữu khác. Đây
là định hớng lâu dài để Nhà nớc cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nớc. Tuy nhiên trong
giai đoạn từ năm 1998 đến nay đối với một số doanh nghiệp hoạt động ở một số lĩnh
vực quan trọng nh tạo nguồn thu lớn cho Nhà nớc và nền kinh tế về ngoại tệ,vật t
chiến lợc hoặc hoặc là công cụ giúp cho nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thì Nhà
nớc vẫn tiếp tục giữ 100% vốn, cha cổ phần hoá. Còn đối với với doanh nghiệp đợc
phép cổ phần hoá mà đóng vai trò nòng cốt dẫn dắt nền kinh tế trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì Nhà nớc phải giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt. Số
doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề thông thờng, ngời dân có điều kiện làm ăn kinh
doanh tốt hơn Nhà nớc thì sẽ đợc cổ phần hoá, trong đó Nhà nớc có thể tham gia hoặc
không nhất thiết tham cổ phần.
1.2.3. Điều kiện để cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
8
Trong điều kiện nớc ta hiện nay những doanh nghiệp có đủ các yếu tố sau đây sẽ
là đối tợng tốt để thực hiện CPH:
Thứ nhất, là các doanh nghiệp có quy mô vừa. Kinh nghiệm các nớc cho thấy
để tiến hành CPH doanh nghiệp cần đảm bảo:
-Vốn cổ phần không dới 500 triệu đồng.
-Số ngời mua cổ phiếu cho phép bán hết cổ phiếu của doanh nghiệp.
Thứ hai, các đơn vị kinh tế quốc doanh không nằm trong danh mục Nhà nớc cần
đầu t 100% vốn.
Thứ ba, những doanh nghiệp làm ăn có lãi thực, hoặc trớc mắt tuy cha có lãi gặp
khó khăn song có thị trờng ổn định và phát triển có hứa hẹn một tơng lai tốt đẹp. Có
mấy lý do để chọn đơn vị làm ăn có lãi và có tơng lai hứa hẹn để CPH:
-Nếu làm ăn thua lỗ thì sẽ không ai mua cổ phiếu khi bán. Ngời mua cổ phần hy
vọng vào tính sinh lợi của đồng vốn trong tơng lai của doanh nghiệp. Tơng lai đầy
hứa hẹn có sức hấp dẫn đối với những ngời muốn trở thành cổ đông của doanh
nghiệp.
-Để có điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh hơn nữa, hạn chế tối
đa rủi ro đối với đồng vốn của những ngời lao động nghèo góp vào.
-Cho phép Nhà nớc thu hồi đợc vốn để đầu t vào những nhu cầu thiết yếu khác.
Bởi vì doanh nghiệp có lãi thì mới có ngời mua cổ phần. Nhờ đó Nhà nớc mới rút đợc
vốn. Tức là thực hiện đợc cổ phần hoá.
Các cổ đông là các nhà đầu t, để đầu t họ cần biết và tin tởng rằng: doanh
nghiệp mà họ góp vốn sẽ hoạt động có hiệu quả. Nói cách khác, điều kiện cơ bản để
cổ phần hoá là tạo môi trờng thuận lợi cho hoạt động của các công ty cổ phần nói
riêng, và cho các doanh nghiệp t nhân nói chung.
9
Cần thấy rằng, bớc đầu thực hiện CPH doanh nghiệp Nhà nớc luôn xuất phát từ
các doanh nghiệp làm ăn có lãi. Khi công việc này trở nên bình thờng thì yếu tố cơ
bản nhất là để thực hiện thành công CPH là những doanh nghiệp mà có phơng án sản
xuát kinh doanh có hiệu quả đầy triển vọng, có khả năng tạo ra đợc lợi nhuận cao và
giá bán cổ phần phù hợp.
Để CPH và phát triển các công ty cổ phần cần phải có nguồn vốn, dân chúng
phải có tiền, các doanh nghiệp t nhân, kinh doanh nhỏ phải đợc phát triển. Hiện nay,
tiền vốn đợc sử dụng nhiều vào việc xây dung nhà cửa, đầu t vào bất động sản, kinh
doanh trong các lĩnh vực mà vốn quay vòng nhanh, dể tránh sự kiểm tra, giám
sát .Các nhà đầu t cha vội đến với công ty cổ phần.
Cung về vốn luôn đi liền với cầu về vốn. Nhu cầu về vốn rất đa dạng. Nhu cầu
về vốn với chi phí rẻ, ít bị kiểm soát, hoặc có vốn để sử dụng mạo hiểm đều không
thể dẫn đến mua bán chứng khoán. Chúng ta cần một nhu cầu về vốn để kinh doanh
lành mạnh, có hiệu quả cao, lâu dài, đáp ứng đợc những đòi hỏi của ngời cấp vốn. Do
vậy, cần phải có đội ngũ kinh doanh giỏi- những ngời có khả năng sử dụng vốn có
hiệu quả cao, thoả mãn đồng thời lợi ích của họ và của các cổ đông khác. Nếu thiếu
đội ngũ này thì sẽ không có các công ty cổ phần, sẽ không có ngời mua cổ phiếu và
công việc cổ phần hoá sẽ thất bại.
Khi bắt đầu công cuộc đổi mới, chúng ta đã khẳng định phải tạo sự bình đẳng
giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, đối với
các DNNN vẫn còn có nhiều u đãi nh: đợc cấp vốn, chi phí phải trả thấp, u đãi tín
dụng Doanh nghiệp ít chịu rủi ro, lỗ thì Nhà n ớc chịu, lãi thì đợc hởng phần lớn. Do
đó cán bộ công nhân viên của DNNN còn ngại CPH.
1.3. Các phơng pháp cổ phần hoá
1.3.1. Các phơng pháp cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
10
Bán cổ phần cho công chúng. Đó là việc Nhà nớc bán toàn bộ hay một phần sở
hữu Nhà nớc trong doanh nghiệp cho công chúng. Việc bán này thờng đợc thông qua
sở giao dịch chứng khoán hay một tổ chức tài chính trung gian. Việc bán cổ phần cho
công chúng cho phép các tầng lớp dân c rộng rãi có thể mua đợc cổ phần và phù hợp
với mong muốn của chính phủ khuyến khích mở rộng và đa dạng hoá cơ cấu sở hữu
trong DNNN. Mặt khác, biện pháp này cũng nhằm làm giảm sự tập trung tài sản kinh
tế của các nhóm t nhân, mở rộng quy mô và chiều sâu của thị trờng chứng khoán.
Bán cổ phần cho t nhân là phơng pháp đợc sử dụng rất phổ biến. Nhà nớc bán
một phần hay toàn bộ số cổ phần của doanh nghiệp thuộc sở hữu một phần hay toàn
bộ của Nhà nớc cho một số cá nhân hay một nhóm nhà đầu t t nhân thông qua đấu
thầu có tính cạnh tranh hay những ngòi mua đã đợc xác định trớc. Phơng pháp này đ-
ợc áp dụng rộng rãi do tính linh hoạt của nó trong các điều kiện cụ thể, do tính đơn
giản về các yêu cầu pháp lý do đó tốc độ triển khai thực hiện nó nhanh hơn. Phơng
pháp này đợc u tiên sử dụng với các DNNN đang hoạt động yếu kém, cần những ngời
chủ đủ mạnh và có kinh nghiệm.
Bán cho những ngời quản lý và lao động mua doanh nghiệp. Phơng pháp này th-
ờng đựoc áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Nó tạo ra sự
khuyến khích lớn đối vối việc tăng năng suất, đồng thời, cũng là cách giải quyết vấn
đề lao động trong trờng hợp doanh nghiệp sắp bị giải thể. Phơng pháp bán cổ phần
cho cán bộ quản lý và công nhân trong doanh nghiệp thờng đợc kết hợp với các ph-
ơng pháp CPH khác để dung hoà sự chống đối của ngời lao động vừa mở rộng giới
hạn chủ sở hữu. Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp để
chuyển thành công ty cổ phần. Nhà nớc không nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc
biệt.
1.3.2. Các hình thức tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
11
Công việc CPH doanh nghiệp Nhà nớc có các hình thức CPH nh sau:
-Đấu thầu, hình thức này chủ yếu ở các nớc có nền kinh tế thị trờng đã phát triển,
thị trờng vốn đã hoàn chỉnh, môi trờng pháp luật đã hoàn thiện và sự hiểu biết rộng
rãi của công chúng đối với công việc CPH.
-T nhân hoá hàng loạt, Biến tất cả các DNNN thành các công ty cổ phần. Để
thực hiện hình thức này, Nhà nớc đem chia tài sản của Nhà nớc cho toàn dân theo
một tiêu thức nhất định. Hình thức này đợc áp dụng ở một số nớc khi chuyển từ sự
quản lý nền kinh tế tập trung trong tay Nhà nớc sang nền kinh tế đa thành phần. Do
sự chuẩn bị không kĩ của chính quyền, sự hiểu biết nông cạn của công chúng, sự quản
lý lõng lẽo và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý, nền kinh tế này đã bị thất bại.
-Cổ phần hoá từng phần, Đây là hình thức CPH có sự phân loại từng loại doanh
nghiệp, và mức độ CPH trong từng doanh nghiệp cũng khác nhau. Nhìn chung, theo
phơng thức này phần vốn Nhà nớc trong doanh nghiệp đợc coi là phần gốc mà đợc
tính nh cổ phần Nhà nớc góp vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiếp tục bán thêm các
cổ phiếu cho các cổ đông từ đó hình thành doanh nghiệp cổ phần.
Việt Nam hiện nay dựa trên những hình thức đó quá trình cổ phần hoá bao gồm
có các hình thức CPH sau:
- Giữ nguyên DNNN phát hành thêm cổ phiếu .
- Giữ lại một phần vốn DNNN, phát hành thêm cổ phiếu.
- Tách một phần DNNN ra và cổ phần hoá doanh nghiệp đó.
- Bán cổ phiếu toàn bộ doanh nghiệp .
1.3.3. Các bớc tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp
Các bớc CPH doanh nghiệp Nhà nớc bao gồm các bớc sau:
12
Lựa chọn DNNN để cổ phần hoá. Việc lựa chọn phải căn cứ vào đối tợng đợc
thực hiện CPH, khả năng và tình hình tài chính của mổi doanh nghiệp, và vào yêu cầu
của từng doanh nghiệp. Việc lựa chọn và quyết định doanh nghiệp CPH do bộ trởng
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh lựa chọn và quyết định.
Thực hiện việc phê duyệt phơng án CPH và quyết định chuyển DNNN thành
công ty cổ phần.
Tiến hành định giá doanh nghiệp. Giá trị thực tế của doanh nghiệp là toàn bộ
tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm CPH mà ngời mua, ngời bán cổ phiếu
đều chấp nhận đợc, trị giá của doanh nghiệp là giá cả của doanh nghiệp khi bán cho
chủ sở hữu khác vì vậy nó cũng chịu sự chi phối của thị trờng, quan hệ cung cầu tại
thời điểm CPH. Việc xác định trị giá doanh nghiệp đợc tiến hành theo trình tự sau:
-Xác định trị giá vốn của doanh nghiệp theo số liệu kiểm kê thời điểm 1-1-1992
và điều chỉnh theo hệ số tại thời điểm 1-1-1993.
-Đánh giá lại trị giá tài sản và vốn trong diện CPH.
-Phân tích phơng án kinh doanh và lợi nhuận trong 5 năm tới.
-Xác định sơ bộ trị giá doanh nghiệp theo phơng án lợi nhuận trên.
-Dự kiến trị giá doanh nghiệp và báo cáo lên hội đồng thẩm định xem xét trớc khi
trình lên cấp có thẩm quyền quyết định.
-Xác định tổng số cổ phần và mệnh giá cổ phiếu.
Giá trị thực tế đợc xác định trên cơ sở về hiện trạng phẩm chất, tính năng kĩ
thuật, nhu cầu sử dụng của ngời mua tài sản và giá thị trờng tại thời điểm CPH sau đó
trừ đi các khoản nợ phải trả và do Bộ trởng Bộ Tài chính hớng dẫn. Bộ trởng Bộ Tài
chính quyết định giá doanh nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ sách kế toán tại
thời điểm cổ phần hoá trên 10 tỷ đồng. Căn cứ vào hớng dẫn của Bộ trởng Bộ Tài
chính, bộ trởng các bộ liên quan, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung Ương, hội đồng quản trị của Tổng công ty 91 quyết định giá trị của doanh
13
nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ kế toán đến thời điểm CPH từ 10 tỷ trở
xuống. Tiến hành định giá doanh nghiệp để t đó xác định tỷ lệ vốn của Nhà nớc sẽ
tham gia trong doanh nghiệp khi tiến hành CPH.
Thực hiện bán cổ phần cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nớc và cho lao
động của doanh nghiệp. Vận động ngời mua và phân tích sự lựa chọn của khách
hàng.
Tiến hành đăng kí kinh doanh cho công ty cổ phần. Sau 7 ngày kể từ khi nhận
đủ hồ sơ đăng kí kinh doanh, sở kế hoạch và đầu t cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh cho công ty cổ phần.
2. Tính tất yếu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Khi bớc sang nền kinh tế thị trờng, việc đề cao vai trò tích cực của Nhà nớc đã
khắc phục hai yếu điểm của nền kinh tế thị trờng là cạnh tranh vô chính phủ và bất
bình đẳng về xã hội. Tuy nhiên, khi sự can thiệp đã vợt qua giới hạn hợp lí của sự
phát triển nền kinh tế thị trờng, thì nó lại kìm hãm sự tăng trởng và làm cho nền kinh
tế thị trờng của nhiều nớc rơi vầo sự trì trệ kéo dài. Hầu hết các DNNN lâm vào tình
trạng hoạt động thiếu hiệu quả. Hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cứng nhắc không
có tính chất thích ứng với cơ chế thị trờng. Nguồn tài chính đợc sử dụng hoàn toàn
theo kế hoạch đợc duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt không hợp lý
hoá đợc sản suất, chi phí giá thành tăng. Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản
xuất kinh doanh bị hạn chế. Vì Nhà nớc làm chủ doanh nghiệp nên các quyết định về
kinh doanh nh về đầu t, giá cả thị trờng cung ứng và tiêu thụ rất chậm chạp, phức
tạp và không rõ ràng cho nên dẫn tới gây trở ngại tới hiệu quả công việc. Tình trạng
độc quyền của các DNNN đợc pháp luật bảo vệ đã đánh mất động lực nâng cao hiệu
quả hoạt động, thiếu sức cạnh tranh, Nhà nớc phải chịu gánh nặng trợ cấp ngày càng
lớn .
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét