Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu đợc chuyển hết vào chi phí
kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao động,
t liệu lao động và đối tợng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu nó
quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện đợc hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng sản xuất, chúng
ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó lại kém
chất lợng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho quá
trình sản xuất đợc diễn ra thờng xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số lợng, quy
cách, chủng loại nguyên vật liệu chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao đợc các chỉ tiêu
kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh nghiệp mới có thể tồn
tại đợc trên thơng trờng.
- Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản xuất
cung cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ không
có hiệu quả cao.
- Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo
nên sản phẩm, chất lợng nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng sản
phẩm. Do đó công tác quản trị nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để nâng
cao chất lợng sản phẩm.
2.3. Vai trò quản trị nguyên vật liệu.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất có
thể tiến hành và tiến hành có hiệu quả cao.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ tạo cho điều kiện cho hoạt động sản xuất
diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn góp phần đáp ứng tốt nhu cầu của
khách hàng.
- Là một trong những khâu rất quan trọng, không thể tách rời với các khâu
khác trong quản trị doanh nghiệp.
- Nó quyết định tới chất lợng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt
khe, khó tính của khách hàng.
- Một vai trò rất quan trọng nữa của quản trị nguyên vật liệu đó là nó góp
phần làm giảm chi phí kinh doanh, giảm giá thành sản phẩm do đó tạo điều kiện
nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
3. Sự luân chuyển của dòng nguyên vật liệu.
Nắm bắt đợc sự luân chuyển của dòng vật liệu sẽ giúp cho nhà quản trị
nhận biết đợc xu hớng vận động, các giai đoạn di chuyển của dòng nguyên vật liệu
để có biện pháp quản lý một cách tốt nhất.
Một trong những đặc trng nổi bật nhất của các doanh nghiệp lớn đó là sự
vận động. Với một số lợng lớn nhân lực và sự phức tạp của thiết bị có thể kéo theo
việc quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Các vật liệu dịch chuyển từ hoạt
động này sang hoạt động khác khi các yếu tố đầu vào đợc chuyển thành các đầu ra
thông qua quá trình chế biến.
Ta có sơ đồ sau:
Sơ đồ luân chuyển dòng vật liệu
Qua sơ đồ trên ta thấy, phần đầu vào của dòng vật liệu kéo theo những hoạt
động nh mua, kiểm soát, vận chuyển và nhận. Các hoạt động liên quan tới nguyên
vật liệu và cung ứng nguyên vật liệu trong phạm vi doanh nghiệp có thể bao gồm
kiểm tra quá trình sản xuất, kiểm soát tồn kho và quản lý vật liệu. Các hoạt động
liên quan đến đầu ra có thể bao gồm đóng gói, vận chuyển và kho tàng.
4. Các đơn vị cung ứng và một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật
liệu.
Cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp và trách nhiệm đợc giao cho từng đơn
vị phụ thuộc vào khả năng của ngời lao động và nhu cầu của doanh nghiệp khi các
nhà ra quyết định của nó quan sát đợc điều đó. Tơng ứng với mỗi cách mà doanh
nghiệp đợc tổ chức, một số chức năng liên quan tới quản trị nguyên vật liệu có thể
đợc thực hiện trong một số bộ phận của doanh nghiệp.
Ta có một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật liệu:
- Mua.
- Vận chuyển nội bộ.
Bên bán Bên
Nhận hàng
Nhận hàng
Vận
chuyển
Đầu ra
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
- Kiểm soát tồn kho.
- Kiểm soát sản xuất.
- Tập kết tại phân xởng.
- Quản lý vật liệu.
- Đóng gói và vận chuyển.
- Kho tàng bên ngoài và phân phối.
Những ngời có trách nhiệm đối với các chức năng trên báo cáo cho nhà
quản lý vật liệu, nhà cung ứng hoặc nhà quản lý điều hành. Các chức năng đợc
thực hiện và cộng tác để đảm bảo điều hành một cách có hiệu quả.
Từ chỗ các doanh nghiệp tổ chức theo các cách thức rất đa dạng nó có thể
đặt tên các loại phòng cụ thể và có trách nhiệm chính xác nh tên của nó. Sau đây
ta cần phân tích một số hoạt động trên. Bốn chức năng đầu hầu nh chỉ diễn ra
trong hoạt động sản xuất vật chất. Hoạt động mua bán và kiểm tra hàng hoá trong
khi xảy ra trong sản xuất vật chất và phi vật chất.
4.1. Hoạt động kiểm soát sản xuất:
Nó thực hiện các chức năng sau:
- Xây dựng lịch điều hành sản xuất cho phù hợp với khả năng sẵn có của
nguyên vật liệu tho công việc và tiến độ tồn đọng trớc đó, xác định cho nhu cầu
sản phẩm và thời gian cho sản xuất.
- Giải quyết nhanh gọn hoặc hớng dẫn các phân xởng sản xuất nhằm thực
hiện các tác nghiệp cần thiết để đáp ứng tiến độ sản xuất.
- Xuất vật liệu cho các phân xởng hoạt động khi chức năng này không đợc
thực hiện bởi bộ phận kiểm tra vật liệu.
- Quản lý quá trình làm việc trong các bộ phận tác nghiệp xúc tiến công
việc của các bộ phận này sao cho nó có thể bám sát tiến độ và tháo gỡ những công
việc của một số phòng khi tiến độ thay đổi.
4.2. Hoạt động vận chuyển.
Chi phí vận tải và thời gian mà nó thực hiện để nhận đợc các sản phẩm đầu
vào hoặc phân phối sản phẩm của doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Việc lựa
chọn địa điểm cho các phơng tiện của doanh nghiệp có mối quan hệ cố hữu với chi
phí và thời gian từ sản xuất đến giao nhận. Sau khi địa bàn cho các phơng tiện đợc
lựa chọn, thì chi phí và thời gian vận chuyển cho các hàng hoá bên trong và bên
ngoài đều có thể đợc kiểm soát đối với một số khu vực thông qua bộ phận vận tải
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
của doanh nghiệp. Bộ phận vận tải của doanh nghiệp có trách nhiệm hợp đồng với
ngời thực hiện để vận chuyển hàng hoá (bộ phận vận chuyển có nhiệm vụ lựa chon
các phơng tiện và hình thức vận chuyển, kiểm soát vận đơn để xem xét hoá đơn có
hợp lệ không, phối hợp sao cho chi phí là thấp nhất).
4.3. Hoạt động giao nhận.
Một số bộ phận của tổ chức thông thờng là bộ phận tiếp nhận phải có trách
nhiệm đối với hàng hoá nhận ddcợ của vật t đến và sửa chữa, bảo dỡng và cung
cấp. Bộ phận này có trách nhiệm:
- Chuẩn bị báo cáo tiếp nhận nguyên vật liệu.
- Giải quyết nhanh gọn các nguyên vật liệu nhằm chỉ ra ở đâu chúng sẽ đợc
kiểm tra, cất trữ hoặc sử dụng.
4.4. Hoạt động xếp dỡ.
- Quản lý các phơng tiện vận tải của doanh nghiệp.
- Chuyển hàng lên phơng tiện vận tải.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới quản trị nguyên vật liệu
trong doanh nghiệp.
1. Số lợng nhà cung cấp trên thị trờng.
Một trong những nhân tố ảnh hởng rất thờng tới các quá trình quản trị
nguyên vật liệu đó là các nhà cung cấp. Số lợng đông đảo các nhà cung cấp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trờng các yếu tốt
đầu vào nguyên vật liệu. Thị trờng này càng phát triển bao nhiêu càng tạo ta khả
năng lớn hơn cho sự lựa chọn nguồn nguyên vật liệu tối u bấy nhiêu.
Mặt khác, sức ép của nhà cung cấp có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn cho quản trị nguyên vật liệu. Sức ép này gia tăng trong những trờng
hợp sau:
- Một số công ty độc quyền cung cấp.
- Không có sản phẩm thay thế.
- Nguồn cung ứng trở nên khó khăn.
- Các nhà cung cấp đảm bảo các nguồn nguyên vật liệu quan trọng nhất cho
doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
2. Giá cả của nguồn nguyên vật liệu trên thị trờng.
Trong cơ chế thị trờng giá cả là thờng xuyên thay đổi. Vì vậy việc hội nhập
và thích nghi với sự biến đổi đó là rất khó khăn do việc cập nhật các thông tin là
hạn chế. Do vậy nó ảnh hởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý nguyên vật
liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thờng xuyên là do:
- Tỷ giá hối đoái thay đổi làm cho các nguyên vật liệu nhập khẩu với giá
cũng khác nhau.
- Do các chính sách của chính phủ (quata, hạn ngạch )
- Do độc quyền cung cấp của một số hãng mạnh.
3. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay do việc xem nhẹ các hoạt động quản
lý liên quan tới nguồn đầu vào của doanh nghiệp cho nên ảnh hởng rất lớn tới kết
quả kinh doanh. Một trong những yếu tố của việc xem nhẹ này là việc đánh giá
không đúng tầm quan trọng của yếu tố đầu vào (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nớc)
do trình độ của cán bộ quản lý còn hạn chế, số lợng đào tạo chính quy rất ít, phần
lớn làm theo kinh nghiệm và thói quen. Mặt khác là do những yếu kém của cơ chế
cũ để lại làm cho một số doanh nghiệp hoạt động không năng động còn trông,
chờ, ỷ lại
4. Hệ thống giao thông vận tải.
Một nhân tố quan trọng ảnh hởng tới công tác quản trị nguyên vật liệu là hệ
thống giao thông vận tải của một nơi, một khu vực, một quốc gia, những nhân tố
này thuận lợi sẽ giúp cho quá trình giao nhận nguyên vật liệu thuận tiện, đáp ứng
nhu cầu của doanh nghiệp, làm cho mọi hoạt động không bị ngừng trệ mà trở nên
đồng đều, tạo ra mức dự trữ giảm, kết quả là ta sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Thực tế đối với mỗi doanh nghiệp nguồn nhập nguyên vật liệu không chỉ
trong nớc mà còn cả các nớc khác trên thế giới. Nh vậy hệ thống giao thông vận
tải có ảnh hởng lớn tới công tác quản trị nguyên vật liệu của một doanh nghiệp.
Nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hãm một doanh nghiệp phát triển, đồng
nghĩa với nó là việc hoạt động có hiệu quả hay không của một doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
II. vai trò của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
chế biến nông-lâm-thuỷ sản
Nguyên liệu dùng vào sản xuất bao gồm nhiều loại nguyên liệu nh: nguyên
liệu chính, nguyên liệu phụ Chúng tham gia một lần vào chu kỳ sản xuất và cấu
thành thực thể sản phẩm. Nó là một trong những yếu tố chính của quá trình sản
xuất. Vì vậy, nếu thiếu nguyên lỉệu không thể tiến hành đợc sản xuất.
Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là nghiên cứu một trong các
yếu tố chủ yếu của sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu này để giúp cho doanh
nghiệp thấy rõ đợc u nhợc điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng thời có
biện pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm
chất. Không để xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên liệu ngừng sản xuất, thừa
nguyên liệu gây ứ đọng vốn sản xuất.
1. Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu.
Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất , đi đôi với việc đảm bảo các yếu tố lao
động, t liệu lao động, phải thực hiện tốt việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà nguyên
liệu của nó có những nét đặc trng riêng. Đối với doanh nghiệp công nghiệp
nguyên liệu gồm: nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phế liệu. Đối với công ty
xây lắp nguyên liệu gồm xi măng, sắt, thép, cát. Đối với doanh nghiệp nông
nghiệp nguyên liệu gồm: hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu Đối với sản xuất nh
ngành đờng nguyên liệu là cây mía.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng nguyên liệu nhập về doanh nghiệp từ
nhiều nguồn khác nhau nh: tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lu vật t Mỗi
nguồn nhập lại có một giá mua, bán khác nhau. Vì vậy để đánh giá tình hình cung
cấp về tổng khối lợng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của chúng mà
phải biểu hiện khối lợng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế hoạch. Ngoài ra
cần dựa vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu.
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thế để sản
xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều có thể
thay thế đợc nh: cây mía, cao su Các loại nguyên liệu không thể thay thế đợc gọi
là nguyên liệu chủ yếu, tham gia cấu thành thực thể sản phẩm. Để đảm bảo sản
xuất không bị gián đoạn, trớc hết doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các
nguyên liệu chủ yếu.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lợng nguyên liệu mới chỉ biết đợc
nét chung về vấn đề này. Mọi nhân tố cá biệt đã đợc bù trừ lẫn nhau. Ngay cả
trong trờng hợp doanh nghiệp hoàn thành vợt mức kế hoạch cung cấp về tổng khối
lợng nguyên liệu, nhng tình trạng ngừng sản xuất vẫn xảy ra, nếu doanh nghiệp
không hoàn thành kế hoạch cung cấp về nguyên liệu chủ yếu cho quá trình sản
xuất.
Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu, nhằm mục
đích thấy rõ ảnh hởng của việc cung cấp nguyên liêụ đối với việc đảm bảo tính
liên tục của chu trình sản xuất ở doanh nghiệp.
Khi đảm bảo cung cấp nguyên liệu không lấy nguyên liệu cung cấp vợt kế
hoạch để bù cho loại nào đó không đạt mức kế hoạch. Điều đó có nghĩa là chỉ cần
một loại nguyên liệu chủ yếu, khối lợng cung cấp thực tế thấp hơn kế hoạch là đủ
kết luận doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại vật t chủ yếu.
Khi nhịp điệu sản xuất khẩn trơng, việc nắm bắt kịp thời tiến độ cung cấp
các loại nguyên liệu chủ yếu là cần thiết đối với mọi doanh nghiệp sản xuất. Bởi vì
nó liên tục trực tiếp đến tiến độ sản xuất. Tuỳ thuộc trọng điểm nguyên liệu cần
quản lý một cách sát sao, mà xác định loại nào cần thờng xuyên phân tích và ra
thông báo kịp thời để chấn chỉnh tồn tại ở khâu cung cấp.
Khi thờng xuyên phân tích tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ
yếu thờng sử dụng chỉ tiêu số ngày đảm bảo sản xuất , dựa vào chỉ tiêu này có thể
biết đợc đến một ngày nào đó, số lợng nguyên liệu hiện còn đủ sản xuất trong bao
nhiêu ngày.
3. Đảm bảo tình hình khai thác các nguồn nguyên liệu
Trong nền kinh tế thị trờng mỗi doanh nghiệp có quyền chủ động trong việc
khai thác các nguồn nguyên liệu để đảm bảo sản xuất. Bên cạnh khối lợng nguyên
liệu nhập từ các đơn vị cung ứng vật t của Nhà nớc, doanh nghiệp có thể tự nhập
khẩu, liên doanh liên kết và nhập từ các nguồn khác. Mở ra cơ chế mới trong việc
cung cấp nguyên liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thoát khỏi sự bế tắc, kéo
dài trong một thời kỳ bao cấp chờ đợi Nhà nớc cung ứng, trong khi bản thân Nhà
nớc không đáp ứng nổi.
Để thấy rõ thành tích của doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch cung
cấp nguyên liệu, một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng là phải chỉ ra
cho đợc tình hình khai thác của nguồn khả năng về nguyên liệu để đảm bảo nhu
cầu sản xuất.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Khi nghiên cứu vấn đề này, có thể so sánh trị giá nguyên liệu thực tế từng
nguồn cung cấp với tổng trị giá nguyên liệu kế hoạch, cũng nh với tổng giá trị
nguyên liệu thực tế cung cấp. Qua đó sẽ thấy đợc tỷ trọng của từng nguồn trong
tổng giá nguyên liệu đợc cung cấp trong kỳ.
Khối lợng nguyên liệu cung cấp trong kỳ là có liên quan mật thiết với tình
hình sản xuất dự trữ và sử dụng nguyên liệu. Khi phân tích cần đặt nó trong mối
quan hệ với các nhân tố trên để kết luận đợc đầy đủ và sâu sắc. Trên thực tế, có
khi khối lợng nguyên liệu cung cấp tăng nhng phẩm chất quy cách không đảm bảo
sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong trờng hợp chất l-
ợng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lợng sản xuất không tăng mà tăng
khối lợng nhập sẽ dẫn đến ứ đọng vốn. Vì thế, vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra cho
công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp cần phải quán triệt là: đảm bảo
cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất nhằm phục vụ
tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lơng thực cho con
ngời và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hoa quả, rau xanh cho bữa
ăn hàng ngày của con ngời, sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu và cũng chính cây
trồng của ngành nông nghiệp cung cấp cây xanh tạo nên lá phổi của trái đất, góp
phần cân bằng sinh thái cho quả đất chúng ta. Nh vậy, sản phẩm của ngành trồng
trọt rất đa dạng và phong phú.
Ngành trồng trọt sản phẩm chủ yếu là sản phẩm cây trồng. Vì nó là sản
phẩm của ngành trồng trọt do đó sản lợng sản phẩm trớc hết tuỳ thuộc vào diện
tích gieo trồng, năng suất cây trồng. Diện tích gieo trồng phụ thuộc vào thiên tai,
chất đất, loại đất và thời vụ mà ngời ta gieo trồng, nhiều loại giống cây trồng khác
nhau mỗi loại giống cây trồng có năng suất thu hoạch khác nhau do đó khi thay
đổi giống cây trồng, tức là thay đổi cơ cấu diện tích gieo trồng, tuỳ năng suất từng
loại cây trồng có thể thay đổi năng suất thu hoạch bình quân. Nếu chúng ta thay
đổi sản lợng cây trồng cuối cùng phải tiến hành cải tạo đất, thứ hạng đất từ đó làm
tăng năng suất tăng sản lợng cây trồng.
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
Vì vậy muốn tăng sản lợng cây trồng phục vụ cho công nghiệp chế biến
nông sản ta phải tăng diện tích gieo trồng, diện tích mất trắng, cơ cấu diện tích
gieo trồng và năng suất từng loại cây trồng.
5. Tầm quan trọng của nguyên liệu trong công việc chế biến nông sản nói
chung và với ngành đờng nói riêng.
Trong công nghiệp chế biến nông sản thì nguyên liệu là vấn đề hàng đầu,
quyết định sự sống còn và phát triển của nhà máy. Thiếu nguyên liệu trong sản
xuất, kinh doanh sẽ trì trệ, lãng phí máy móc, thiết bị, công nhân sẽ không có
công ăn việc làm, đời sống khó khăn. Do đó giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu đợc
các nhà máy đặc biệt quan tâm chú ý, đó là một nhiệm vụ trong sản xuất kinh
doanh.
Đặc điểm của nguyên liệu chế biến thờng là nguyên liệu tơi, cồng kềnh, khó
bảo quản, không dự trữ đợc lâu, gieo trồng và thu hoạch mang tính thời vụ nhất
định. Trong khi đó nhu cầu của doanh nghiệp chế biến đờng là: sản xuất liên tục,
nguyên liệu tơi, thu hoạch xong phải đa vào chế biến ngay, nếu để lâu chất lợng sẽ
giảm. Mía sau khi thu hoạch cứ một ngày để lâu lại trên bãi chất lợng mía giảm
0,03 trữ đờng, nếu để quá thời hạn cho phép thì đờng sẽ biến chất không ra đợc
sản phẩm đờng, mà ra một sản phẩm khác, thậm chí còn làm hỏng một lô mía
khác.
Mặt khác trong sản xuất nông nghiệp các loại cây trồng thờng tranh chấp
lẫn nhau, không ổn định. Trồng mía sau mỗi năm mới cho thu hoạch nếu không có
chính sách hợp lý nông dân sẽ bỏ trồng mía mà chuyển trồng cây hoa màu khác
nh cây ngô, khoai, sắn, cao su Thực tế ở nớc ta trong nhiều năm qua một số nhà
máy do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu nên sản xuất bị đình đốn, kém
hiệu quả thậm chí còn bị đóng cửa, dỡ bỏ nhà máy đi nơi khác.
Trớc cách mạng tháng 8 năm 1945 thực dân Pháp đã xây dựng ở miền Đông
Nam Bộ hai nhà máy đờng nhng do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu hai
nhà máy bị thải, bỏ.
Năm 1961 Nhà nớc ta đầu t xây dựng nhà máy đờng Vạn Điểm công suất
1.000 tấn mía/ngày. Qua bao nhiêu năm vẫn không đủ nguyên liệu cho nhà máy
sản xuất, từ năm 1962 đến 1983 trong 21 năm chỉ thu mua đợc 1.312.486 tấn mía,
bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến đợc 62.516 tấn mía. Trong khi đó yêu
cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tấn/năm. Bớc sang thời kỳ đổi mới xoá bỏ
bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua đợc 30.000 tấn mía. Do không giải quyết
Luận văn tốt nghiệp Lê ngọc Quang QLKT.K. K 28
đợc nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng cửa không sản xuất và đang
có phơng án dỡ bỏ đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đờng Sông Lam - Nghệ An cũng đợc xây dựng năm
1961, công suất 500 tấn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tấn mía nguyên liệu
nhng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu mua và
chế biến đợc 32.000 tấn, cha đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đờng Việt Trì - Vĩnh Phú trong nhiều năm
sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nớc ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về nhà
máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
Nhà máy đờng Lam Sơn công suất 1.500 tấn mía/ngày hàng năm yêu cầu từ
225.000 đến 250.000 tấn mía để sản xuất ra 22.500 đến 25.000 tấn đờng. Đợc Nhà
nớc đầu t xây dựng từ đầu năm 1980 đến cuối năm 1986 nhà máy căn bản hoàn
thành và đi vào hoạt động. Là nhà máy có quy mô hiện đại, thiết bị toàn bộ của
pháp, công nghệ sản xuất tiên tiến nhng trong giai đoạn đầu từ 1986 - 1990 khó
khăn nhất là thiếu nguyên liệu, liên tục trong suốt 4 năm liền nhà máy chỉ sử dụng
đợc 10% công suất thiết bị (vụ mía 1986 - 1987 thu mua và chế biến 9.600 tấn
mía, vụ bằng 4% công suất, vụ mía 1987 - 1988 thu mua đợc 24.000 tấn mía, vụ
mía 1988 - 1989 thu mua đợc 36.000 tấn mía bằng 12% công suất), nhà máy đứng
trớc nguy cơ phải đóng cửa, thậm chí có phơng án tháo dỡ nhà máy đa vào miền
Nam.
Từ những dẫn liệu trên đây chúng ta có thể khẳng định rằng xây dựng và
phát triển vùng nguyên liệu là vấn đề then chốt có tính chất quyết định đối với sự
tồn tại và phát triển của nhà máy nhất là trong giai đoạn đến năm 2000 Nhà nớc ta
đang có chủ trơng thực hiện chơng trình mía đờng trong cả nớc đạt 1 triệu tấn đ-
ờng và đang xúc tiến xây dựng một loạt nhà máy, do đó việc xây dựng và phát
triển vùng nguyên liệu là bài học cho tất cả các nhà máy đờng đã và sẽ xây dựng,
việc quy hoạch xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu vừa là bớc khởi đầu, vừa
là khâu quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một nhà máy.
III - vai trò của ngành đờng trong việc chuyển dịch cơ
cấu vùng từ nông nghiệp sang công nông nghiệp
nôngthôn điển hình là vùng kinh tế lam sơn
Khi phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật về mô hình hiệp hội mía đờng
Lam Sơn, Nhà nớc coi đây là một mô hình kinh tế mới nếu thành công sẽ đợc nhân
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét