Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Giải quyết vấn đề dân tộc - dân chủ trong các cương lĩnh cách mạng của Đảng ta

cả thủ đoạn su cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch giai cấp
công nhân ra đời sớm nhng cũng bị Pháp đàn áp. Giai cấp t sản bị Pháp
chèn ép đến cùng, không thể nào ngóc đầu lên đợc. Thực trạng Việt
Nam lúc này vô cùng khốn đốn. Trong xã hội Việt Nam có hai mâu
thuẫn cơ bản cần phải đợc giải quyết.
1. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, đế quốc.
2. Mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo và giai cấp
địa chủ phong kiến.
Giải quyết đợc hai mâu thuẫn trên, chính là hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc - dân chủ ở Việt Nam. Nhiệm vụ dân tộc - dân chủ
do đó vừa là tất yếu vừa là bắt buộc của cách mạng Việt Nam. Nó xuất
phát từ thực tiễn của bối cảnh Việt Nam. Hai nhiệm vụ này không phải
đến khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mới đợc đặt ra, mà nó đã nhen
nhóm từ trớc đó rất lâu. Ngay từ giữa thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp nổ
súng xâm lợc nớc ta thì các phong trào yêu nớc đã nổ ra và dâng lên
mạnh mẽ. Các cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp đã diễn ra liên tục ở
khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và đã trở thành mục tiêu của mọi cuộc
đấu tranh, mọi cuộc bạo động hay khởi nghĩa. Dù có là phòng trào do
các sĩ phu yêu nớc cầm đầu nh Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh , hay
đó là phong trào của nông dân, tiểu t sản, t sản dân tộc thì tất cả đều
nhằm mục đích đánh đuổi cho bằng đợc thực dân Pháp. Nhng rốt cục,
các phong trào này đều bị thất bại. Nguyên nhân là do họ cha xác định
đợc kẻ thù (ví dụ : Phan Bội Châu chủ trơng dựa vào Pháp để đánh
Nhật, Phan Chu Trinh lại chủ trơng đổi mới theo mô hình của nớc
Pháp). Từ chỗ nhận thức sai kẻ thù nên các ông đã không thể nào xác
định đợc rõ mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam lúc đó là gì. Vì
vậy, không thể nhìn ra đợc nhiệm vụ cần thiết. Đến tận đầu thế kỉ XX,
nớc ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng về đờng lối.
5
Mãi đến sau này, thông qua các hoạt động của Nguyễn ái Quốc
từ khi ngời bắt đầu ra đi tìm đờng cứu nớc, qua quá trình bôn ba, học
hỏi, khảo nghiệm ở các nớc Phơng Tây cho đến khi thành lập Đảng
cộng sản Việt Nam mới tìm đợc đờng đi cho cách mạng Việt Nam.
Thông qua quá trình tìm tòi, học hỏi và khảo cứu thực trạng nớc ngoài
kết hợp với việc phân tích tình hình trong nớc, đến ngày 3-2-1930 tại
Hơng cảng, Ngời đã lập ra Đảng cộng sản Việt Nam và đề ra Cơng
lĩnh vắn tắt - sách lợc vắn tắt, trong đó Ngời nêu ra cách mạng Việt
Nam phải trải qua hai giai đoạn : cách mạng t sản dân quyền và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách mạng đó kế tiếp nhau,
không có bức tờng nào ngăn cách. Cơng lĩnh viết : Chủ trơng làm t
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản. Nh vậy, ngay từ đầu, Ngời đã thấu suốt con đờng phát triển tất
yếu của cách mạng nớc ta là con đờng kết hợp và giơng cao ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nh vậy, mục tiêu đó cho thấy rõ
tính chắt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó là
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân - một cuộc cách mạng của
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu t sản, giai cấp t sản
dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên cơ sở liên minh công
nông, nhằm mục đích đánh đổ đế quốc và phong kiến, giải phóng dân
tộc, thực hiện khẩu hiệu ngời cày có ruộng, lập nên nớc Việt Nam dân
chủ cộng hoà, tức là nhà nớc dân chủ nhân dân, và tạo điều kiện cho n-
ớc Việt Nam không qua thời kỳ phát triển t bản chủ nghãi mà tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Và một cuộc cách mạng nh thế, chúng ta
gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đó cũng chính là một
cuộc cách mạng dân chủ t sản kiểu mới ở một nớc thuộc địa và phong
kiến, nó khác với những cuộc cách mạng dân chủ t sản kiểu cũ do giai
cấp t sản lãnh đạo nh cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng Thổ
Nhĩ Kì năm 1925. Tiến hành cuộc cách mạng dân tộc chính là tiến tới
6
đánh đuổi đế quốc, thực dân làm cho nớc nhà hoàn toàn độc lập. Còn
giải quyết nhiệm vụ dân chủ chính là đánh đổ phong kiến, đem lại
ruộng đất cho dân cày. Đó là hai nhiệm vụ cơ bản và xuyên suốt của
cách mạng Việt Nam nhng không phải lúc nào nó cũng diễn ra cùng
một lúc. Tuỳ từng thời kì, từng giai đoạn mà vận dụng cho hợp lí. Vậy
hai nhiệm vụ đó đợc Đảng và Nhà nớc thực hiện nh thế nào và thực
hiện đợc đến đâu, đi vào từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam ta sẽ
đợc sáng rõ.
II. Nội dung của vấn đề dân tộc - dân chủ đợc giải
quyết nh thế nào trong các cơng lĩnh của Đảng
ta.
1. Giai đoạn 1930 - 1945.
Trong chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt do Nguyễn ái Quốc
soạn thảo năm 1930 đã chỉ ra đờng lối chung cho hớng đi của cách
mạng Việt Nam. Nhng đồng thời, Ngời cũng căn cứ vào hoàn cảnh cụ
thể của giai đoạn này để đề ra nhiệm vụ cụ thể nh sau : Nhiệm vụ của
cách mạng t sản dân quyền ở nớc ta là đánh đổ bọn đế quốc pháp; bọn
phong kiến và giai cấp t sản phản cách mạng, làm cho nớc Việt Nam đ-
ợc độc lập; dựng lên chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội
công nông ; tịch thu hết sản nghiệp của bọn đế quốc và bọn phản cách
mạng đem chia cho dân cày nghèo ; tiến hành cách mạng ruộng đất,
đêm lại ruộng đất cho nông dân Các nhiệm vụ đó bao hàm cả nội
dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến, nh ng nổi bật
lên là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phản động, giành độc lập tự
do cho toàn thể dân tộc. Đây là đờng lối đề ra cho mời lăm năm chuẩn
bị cách mạng giành chính quyền. Sau đó đến tháng 10-1930, đ ợc Trần
7
Phú bổ sung. Nội dung Luận cơng chính trị hầu nh không có gì thay
đổi so với chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt, điều lệ vắn tắt đợc đề ra
trong hội nghị thành lập Đảng ; nhng đồng chí Trần phú lại quan niệm
rằng hai nhiệm vụ dân tộc - dân chủ có quan hệ khăng khít, vì vậy phải
tiến hành đồng thời, ông nói : có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá
tan đợc giai cấp địa chỉ và làm cách mạng thổ địa đợc thắng lợi; mà có
phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ đợc đế quốc chủ nghĩa,
đồng thời theo Trần Phú, thực hiện khẩu hiệu ruộng đất cho ng ời nông
dân vẫn là nội dung cốt lõi.
Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử đất nớc ta giai đoạn 1930 - 1945
thì thấy rằng đờng lối mà Bác Hồ đã đề ra trong chính cơng vắn tắt,
sách lợc vắn tắt là phù hợp và đúng đắn hơn. Bởi vì váo những năm
1929 - 1933 là giai đoạn mà các nớc t bản trên thế giới rơi vào cuộc
khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Cuộc khủng hoảng đó đã lan nhanh
sang các nớc thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam. Đế quốc
Pháp đã tìm mọi cách để trút gánh nặng của cuộc khủng hoảng lên vai
nhân dân các nớc thuộc địa của chúng. Nền kinh tế Việt Nam, vốn
hoàn toàn phụ thuộc vào đế quốc Pháp, càng phải chịu những hậu quả
nặng nề của cuộc khủng hoảng. Trong khi đó, về mặt chính trị, nhất là
từ sau khởi nghãi Yên Bái của Việt Nam quốc dân Đảng bị thất bại, đế
quốc Pháp đã ra sức đẩy mạnh chính sách khủng bố trắng hòng dập tắt
phong trào cách mạng vừa bùng nổ. Riêng năm 1930, ở Nam kì có hơn
17.000 ngời bị kết án, trong đó hơn 400 án đại hình. ảnh hởng nặng nề
của cuộc khủng hoảng kinh tế và chính sách đàn áp khủng bố ác liệt
của đế quốc Pháp không làm nhụt tinh thần cách mạng của nhân dân
ta, trái lại càng làm cho nhân dân ta thêm căm thù và quyết tâm, tranh
đấu giành quyền sống của mình. Chính Nguyễn ái Quốc đã khẳng định
: Sự áp bức và bóc lột nặng nề của thực dân Pháp đã làm cho đồng bào
ta hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết.
8
Chính vì vậy mà phong trào cách mạng ngày càng lớn mạnh và dới sự
lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh chống Pháp giải đoạn 1930 -
1931 phát triển mạnh mẽ. Không khí đấu tranh ngày 1-5 sôi nổi từ Bắc
đến Nam, từ thành thị cho đến nông thôn và kéo dài cho đến hết tháng
5, mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh. đây là một sự kiện lịch sử
trọng đại trong lịch sử cách mạng nớc ta. Với một khí thế tấn công
mạnh mẽ, phong trào đã giáng một đòn quyết liệt vào bè lũ đế quốc và
tay sai. Với ý nghĩa đó, phong trào 1930 - 1931 đợc coi nh là cuộc
tổng diễn tập đầu tiên của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của Đảng nhằm
chuẩn bị cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám sau này. Tiếp đó
phong trào 1936 - 1939 đợc coi là cuộc tổng diễn tập lần hai. Và cuối
cùng, giai đoạn 1939 - 1945 là cuộc tổng diễn tập lần ba và cũng là
giai đoạn chứng mìn rõ nhất cho đờng lối mà Đảng và Bác Hồ đã đề ra
trong những năm 1930.
Cho tới năm 1939, cụ thể là tháng 9/1939, chiến tranh thế giới
thứ hai bùng nổ, tình thế cách mạng xuất hiện. Chiến tranh đã đẩy mâu
thuẫn giữa giai cấp t sản và vô sản thêm gay gắt, chiến tranh cũng làm
cho mâu thuẫn giữa thuộc địa và chủ nghĩa thực dân tăng lên. ở Đông
Dơng, Pháp đứng trớc hai nguy cơ :
1. Ngọn cờ cách mạng giải phóng của nhân dân Đông Dơng sớm
muộn sẽ cháy bùng lên thiêu đốt chúng.
2. Sự đe doạ trắng trợn của phát xít Nhật đang lăm le hất cẳng
chúng.
Để đối phó lại tình hình khốn đốn đó buộc Pháp phải thi hành
hàng loạt các chính sách phản động nhằm vơ vét sức ngời, sức của của
nhân dân ta để cung ứng cho cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Với
chính sách đó, thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột
ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế. Do đó mâu thuẫn giữa dân tộc
9
Việt Nam và đế quốc Pháp càng trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Trong
tình hình đó, Đảng ta ra thông báo cho các đồng chí chỉ rõ con đờng
chính trị hiện thời, giải thích tình hình thế giới và trong nớc, bớc đầu
nêu ra sự điều chỉnh chiến lợc cách mạng. Vào tháng 11/1939, Đảng ta
triệu tập hội nghị Trung ơng VI tại Gia Định nêu rõ chủ trơng lớn của
cách mạng trong thời kì mới, trong đó đề ra mục tiêu của cách mạng là
: Đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu và cơ bản nhất của
cách mạng Việt Nam. Mọi vấn đề cách mạng khác, kể cả vấn đề
ruộng đất đều phải nhằm mục đích đó mà giải quyết, tạm gác lại
khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và thay bằng khẩu hiệu chống địa tô
cao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của bọn thực dân đế
quốc và bọn địa chủ tay sai đem chia cho dân cày nghèo.
Đây là nhiệm vụ có tính đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử
Việt Nam lúc này trớc sự đàn áp trắng trợn và dã man của thực dân
Pháp. Với tính đúgn đắn đó, Hội nghị VI đợc coi là họi nghị đánh dấu
sự chuyển hớng đúng đắn và chỉ đạo chiến lợc cách mạng, giơng cao
ngọn cờ giải phóng dân tộc, tăng cờng mặt trận dân tộc thống nhất, mở
đờng đi tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám.
Đến cuối năm 1940 - 1941, chiến tranh thế giới thứ hai đi vào
giai đoạn quyết liệt. Trên mặt trận Châu Âu khi đánh chiếm Pháp, phát
xít Đức ráo riết chuẩn bị tấn công Liên Xô. Trên mặt trận Châu á, phát
xít Nhật mở rộng đánh chiếm Trung Quốc và cũng đang ráo riết chuẩn
bị chiến tranh Thái Bình Dơng. ở Đông Dơng, Nhật nhảy vào xâm lợc,
thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng và quay lại cấu kết với phát xít
Nhật thống trị nhân dân ta. Nhân dân ta rơi vào tình cảnh một cổ đôi
tròng. Dới tầng áp bức nặng nề của Pháp - Nhật, các tầng lớp nhân
dân nói chung - đặc biệt là nông dân bị đẩy đến tình trạng cực khổ,
điêu đứng. Điều đó giải thích vì sao vào cuối năm 1944, đầu năm 1945,
10
có gần hai triệu ngời bị chết đói. Chính vì vậy mà đã đẩy mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt. Trớc
tình hình mới, tháng 5/1941, Nguyễn ái Quốc đã triệu tập hội nghị
Trung ơng lần thứ VIII tại Pắc Bó - Cao Bằng nêu rõ : ở Việt Nam
lúc này mâu thuẫn đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật. Từ đó,
hội nghị chủ trơng trớc hết phải làm sao giải phóng cho đợc các dân
tộc Đông Dơng ra khỏi ách Nhật - Pháp. Hội nghị cũng khẳng định :
Nếu không giải quyết đợc vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi đợc
độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia
dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp
đến ngàn năm cũng không đòi lại đợc. Do đó, hội nghị quyết định tiếp
tục tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đát cho dân cày
Nh vậy, với nhiệm vụ đó, hội nghị VIII đã hoàn chỉnh sự chuyển hớng
chỉ đạo chiến lợc và sách lợc cách mạng đã đề ra từ hội nghị VI. Nó đã
có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân ta tích
cực chuẩn bị tiến tới cách mạng tháng Tám. Và khi cuộc cách mạng
tháng Tám nổ ra và thắng lợi đã chứng minh rằng đờng lối mà Bác Hồ
đã đề ra trong chính cơng vắn tắt, sách lợc vắn tắt; đồng thời đã đợc cụ
thể hoá qua các hội nghị VI, VII, VIII là đúng đắn. Bởi vì với sự thành
công của cách mạng tháng Tám, nớc ta từ một nớc thuộc địa đã trở
thành một nớc độc lập; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành ng-
ời tự do, đứng lên làm chủ nớc nhà. Nh vậy, đến đây nhiệm vụ dân tộc
về cơ bản đã đợc giải quyết, nhng không chỉ dừng lại ở đó. Bởi vì
giành đợc chính quyền còn phải bảo vệ chính quyền. Độc lập dân tộc
phải gắn với nhân dân đợc ấm nó, hạnh phúc. Bởi vậy, ngay sau cách
mạng tháng Tám, Đảng ta đã đa ra những chỉ thị nhằm đem lại một số
quyền lợi cho nhân dân.
11
Nh chúng ta đã biết, sau khi giành đợc thắng lợi sau cuộc cách
mạng tháng Tám, do sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế n-
ớc ta nghèo nàn. Tiếp đó, nạn lũ lụt lớn kéo đến vào tháng 8/1945 đã
làm vỡ đê của chín tỉnh Bắc Bộ khiến cho mùa màng thu đợc rất thấp,
50% ruộng đất không thể cày cấy đợc, sản xuất công nghiệp bị đình
đốn, hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt. Đời sống nhân dân bị đe doạ
nghiêm trọng. Vì vậy, đối với dân tộc lúc này, việc tăng cờng củng cố
đời sống nhân dân là rất quan trọng. Do đó trong bản chỉ thị kháng
chiến (25/11/1945), Bác Hồ đã đề ra nhiệm vụ trớc măt là : Củng
cố chính quyền, diệt trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Và
trên thực tế, chúng ta đã tiến hành diệt giặc đói, giặc dốt và tiến hành
giải quyết những khó khăn về mặt tài chính. Chính quyền cách mạng
đã tịch thu ruộng đất của đế quốc và việt gian chia cho dân nghèo, thực
hiện chia lại ruộng đất theo nguyên tắc công bằng và dân chủ, ra thông
t giảm tô 25%, ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác.
Nhờ có những biện pháp tích cực trên dây, sản xuất nông nghiệp
đợc nhanh chóng khôi phục, sản lợng lơng thực tăng lên, nạn đói đợc
đẩy lùi. Đặc biệt, chính phủ rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp :
Một số đê điều đợc bồi đắp, công tác thuỷ lợi đợc chăm lo. Ngoài ra,
chính phủ còn xoá bỏ các thứ thuế vô lí của chế độ cũ, đồng thời động
viên toàn thể nhân dân bằng tinh thần tự nguyện và theo khả năng của
mình, đóng góp tài chính bằng nhiều hình thức nh quỹ độc lập, đảm
phụ quốc phòng, quĩ kháng chiến, tuần lễ vàng Kết quả của
những hoạt động trên đã làm cho đời sống nhân dân dần dần đi vào thế
ổn định. Vấn đề dân chủ trong giai đoạn này về cơ bản đã đợc giải
quyết.
2. Giai đoạn 1946 - 1954.
12
Trong suốt mời lăn năm qua (1930 - 1945), kể từ khi Đảng cộng
sản Việt Nam thành lập, Đảng và nhân dân ta luôn cố gắng hết mình để
giữ gìn độc lập dân tộc, nhng bọn đế quốc thực dân thì không lúc nào
nguôi âm mu phá hoại nớc ta. Nớc Việt Nam cần hoà bình để kiến thiết
đất nớc. Vì vậy, chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã kiên trì
giải quyết tố mối quan hệ bang giao hoà bình và hợp tác với chính phủ
Pháp bằng hiệp định sơ bộ mông 6/3/1936 và tạm ớc 14/9/1946. Nhng
chúng ta càng nhân nhợng thì thực dân Pháp càng lấn tới. Những ngời
cầm đầu chính phủ Pháp lúc bấy giờ tuy có khác nhau ít nhiều trong
cách giải quyết vấn đề bang giao Pháp - Việt ; song họ đều có một
quyết tâm chung là giành lại chủ quyền thống trị của chúng ở Việt
Nam và toàn bộ bán đảo Đông Dơng với bất kì giá nào, trong đó phản
động nhất là các tớng tá điều hành quân sự ở Đông Dơng nh
Daegiăngliơ, laluy, Pinhong
Trớc một thực trạng nh vậy, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rõ lập tr-
ờng của Việt Nam khi trả lời với báo Pa-ri - Sài Gòn rằng : Đồng bào
tôi và tôi thành thực muốn hoà bình Chúng tôi không muốn chiến
tranh N ớc Việt Nam cần kiến thiết, nớc Việt Nam không muốn là nơi
chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhng cuộc chiến tranh này, nếu
ngời ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm N ớc Pháp có
nhiều phơng tiện ghê gớm và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhng dân tộc
Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do .
Mục tiêu hoà bình là chủa chúng ta. Nhng trong các ngày 15,
16/12/1946, quân đội Pháp vẫn liên tiếp nổ súng, nếm đạn vào nhiều
nơi ở Hà Nội. Tình thế khẩn cấp đó đòi hỏi Đảng - Nhà nớc mà đứng
đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh phải có một sự lựa chọn lịch sử, phải kịp
thời có một quyết định chiến lợc để xoay vận nớc lúc đang lâm nguy.
Sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 và chỉ thị
kháng chiễn ngày 22/2/1946, cả nớc đã đứng dậy kháng chiến chống
13
Pháp. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc là một cuộc
chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào nội lực là
chính. Vì thế lực lợng của ta ngày càng thêm mạnh, nh suối mới chảy,
nh lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái. Đến đầu năm 1951, lực
lợng kháng chiến của Việt Nam, Lào, Cămpuchia đã có nhiều chuyển
biễn quan trọng. Tình hình thế giới cũng có những biến chuyển mới có
lợi cho cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc dân chủ và chủ
nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh đó, đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng cộng sản
Đông Dơng đã họp từ ngày 11-2 đến ngày 19-2/1951 tại Chiêm Hoá,
Tuyên quang. Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị
của Hồ Chí Minh, báo cáo bàn về cách mạng Việt Nam của Trờng
Chinh và bản Tuyên ngôn, chính cơng và Điều lệ của Đảng Lao
động Việt Nam.
Xuất phát từ thực tiễn hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc này và
thông qua tình hình thế giới, Đại hội xác định : Cách mạng Việt
Nam có hai đối tợng, Đại hội xác định : cách mạng Việt Nam có
hai đối tợng. Đối tợng chính hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lợc.
Đối tợng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này là phong kiến
phản động. Để xoá bỏ các đối tợng trên, chính cơng cũng nêu rõ :
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế
quốc xâm lợc giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xoá bỏ
những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho ngời cày có
ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã
hội.
Ba nhiệm vụ đó quan hệ khăng khít với nhau, song trớc mắt phải
tập trung lực lợng hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Thực hiện
chủ trơng đó, toàn dân ta đã dốc sức vào cuộc kháng chiến đánh đuổi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét