Thông qua việc trả lương mà người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra
theo dõi quan sát người lao động làm việc theo kế hoạch. Đảm bảo tiền lương người
lao động sẽ nhận được nhưng đồng thời công việc của mình cũng đem lại hiệu quả
mong muốn.
Chức năng tích lũy.
Như mọi thu thập khác, tiền lương là thu nhập của người lao động sau một thời
gian làm việc. Vì vậy người lao động tạo ra thu nhập không chỉ để duy trì sự sống
trong thời gian làm việc mà còn để tích lũy lâu dài trong những lúc rủi ro, mất khả
năng lao động. Tiền lương càng cao thì khả năng tích lũy càng lớn.
2.1.2. Phân loại tiền lương.
Do tiền lương có nhiều loại với tính chất khác nhau, chi trả cho các đối tượng
khác nhau nên cần phân loại tiền lương theo tiêu thức phù hợp. Trên thực tế có
nhiều cách phân loại tiền lương như phân theo cách trả lương (lương sản phẩm,
lương thời gian, lương khoán), phân theo đối tượng trả lương (Lương gián tiếp,
lương trực tiếp), phân theo chức năng tiền lương (Sản xuất, bán hàng, quản lý…).
Mỗi cách phân loại đều có những tác dụng nhất định trong quản lý. Tuy nhiên thuận
lợi cho công hạch toán nói chung và quản lý nói chung, xét về mặt hiệu quả, tiền
lương được chia thành tiền lương chính và tiền lương phụ.
Tiền lương chính: Là bộ phận trả cho người lao động trong thời gian thực tế có
làm việc, gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thưởng và các khoản phụ cấp có tính chất
tiền lương.
Tiền lương phụ: là bộ phận tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
thực tế không làm việc nhưng đựoc chế độ quy định như nghỉ phép, hội họp, học
tập, lễ, tết, ngừng sản xuất…Cách phân loại này không những giúp cho việc tính
toán, phân bổ chi phí tiền lương được chính xác mà cong cung cấp thong tin cho
việc phân tích chi phí tiền lương.
2.2 NỘI DUNG QUỸ LƯƠNG VÀ CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG
2.2.1 Nội dung quỹ lương.
5
Quỹ lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp dùng để
trả cho tất cả người lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Theo nghị
định số 235 của hội động bộ trưởng ra ngày 19/09/1995 của hội đồng bộ trưởng.
Quỹ tiền lương bao gồm các khoản sau:
Tiền lương tháng, ngày theo hệ thống các bảng lương của nhà nước.
Tiền lương trả theo sản phẩm.
Tiền lương công nhật cho người lao động ngoài biên chế.
Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng việc, thiết bị máy
móc ngừng làm việc vì nguyên nhân khách quan, trong thời gian điều
động công tác, đi học nhưng vẫn trong biên chế.
Các loại tiền thưởng thường xuyên, các loại phụ cấp theo chế độ quy định
và phụ cấp khác được hưởng trong quỹ lương.
Nếu dựa theo kết cấu thì quỹ lương được chia làm 2 bộ phận:
Bộ phận cơ bản bao gồm: Tiền lương cấp bậc là mức lương do các thanh bảng
lương của từng ngành, từng xí nghiệp quy định được Nhà nước ban hành.
Bộ phận biến đổi: Bao gồm các loại phụ cấp, các loại tiền thưởng bên cạnh tiền
lương cơ bản.
Quan hệ của hai bộ phận này tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, quỹ tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất. Còn
đối với người cung ứng sức lao động thì quỹ tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu
trong điều kiện hiện nay. Để quỹ tiền lương phát huy được tác dụng của nó thì trước
hết mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo quỹ tiền lương của doanh nghiệp mình thực
hiện tốt chức năng thấp nhất và cũng là chức năng quan trọng nhất là đảm bảo đủ
chi phí tái sản xuất sức lao động.
2.2.2 Chế độ tiền lương.
Chế độ tiền lương theo cấp bậc
6
Chế độ tiền lương theo cấp bậc là toàn bộ những quy định của nhà nước, xí
nghiệp vận dụng để trả lương cho người lao động. Căn cứ vào chất lượng và điều
kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.
Chế độ này áp dụng cho công nhân, những người lao động trực tiếp và trả
lương theo kết quả lao động của họ, thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động.
Số lượng lao động thể hiện qua mức hao phí lao động dùng để sản xuất ra sản
phẩm trong một thời gian theo lịch nào đó. Còn chất lượng lao động là trình độ lành
nghề của người lao động được sử dụng và quá trình lao động thể hiện ở trình độ
giáo dục đào tạo, kinh nghiệm kỹ năng.
Chế độ tiền lương theo chức vụ.
Là toàn bộ những quy định của nhà nước mà các tổ chức kinh tế nhà nước và
các doanh nghiệp áp dụng để trả lương cho lao động quản lý. Đây là chế độ trả
lương cho những người không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại đóng vai trò quan
trọng trong việc lập kế hoạch tổ chức, điều hành kiểm soát và điều chỉnh các hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hiệu quả của lao động quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến
quy mô kinh doanh.
Tiền lương trong chế độ này được trả theo thời gian và dựa vào các bảng lương
chức vụ. Việc phân biệt tình trạng trong bảng lương chức vụ chủ yếu dựa vào các
tiêu chuẩn: Chính trị, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng với
chức vụ đảm nhiệm.
7
2.2.3 Các hình thức trả lương.
Việc tính trả lương chi phí lao động có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác
nhau, tùy theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản
lý của doanh nghiệp. Mục đích của việc quy định các hình thức trả lương là nhằm
quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động: Trên thực tế, thường áp dụng các
hình thức trả lương như: Trả lương theo thời gian, theo sản phẩm, tiền lương khoán.
Trả lương theo thời gian.
Được áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như hành chính quản trị, tổ
chức lao động, thống kê, tài vụ, kế toán…Trả lưong theo thời gian là hình thức trả
lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, Tiền lương theo
thời gian có thể chia ra.
+ Tiền lương tháng: Tiền lương tháng là tiền lương trả cố định hàng thãng trên cơ sở
hợp đồng lao động.
+ Tiền lương tuần: Là tiền lương trả cho một tuần làm việc được xác định trên cơ sở
tiền lương tháng nhân (x) với 12 tháng và chia (:) cho 52 tuần.
+ Tiền luơng ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc được xác định bằng
cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng.
+ Tiền lương giờ: là tiền lưong trả cho một giờ làm việc và được xác định bằng cách
lấy tiền lương trả ngày chia cho số giờ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ luật Lao
động (Không quá 8h/ ngày).
Là hình thức trả lưong cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lưong sản
phẩm họ làm ra và đơn giá tiền lương tính cho 1 đơn vị sản phẩm. Việc trả lưong
theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau như: Trả lương theo sản
phẩm trực tiếp không hạn chế trả lương theo sản phẩm gián tiếp, trả lương theo sản
phẩm có thưởng, trả lương theo sản phẩm lũy tiến.
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế, được căn cứ vào số lượng sản
phẩm hoàn thành thưo đúng quy cách, sản phẩm nhân (x) đơn giá tiền lương quy
định cho 1 sản phẩm ngoài ra không chịu một sự hạn chế nào.
8
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp được áp dụng để trả lưong cho công nhân phục
vụ sản xuất (Vận chuyển chuyển vật liệu sản phẩm, bảo dưỡng máy móc).
* Hình thức trả lương theo sản phẩm
Là hình thức trả lưong cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lưong sản
phẩm họ làm ra và đơn giá tiền lương tính cho 1 đơn vị sản phẩm. Việc trả lương
theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau như: Trả lương theo sản
phẩm trực tiếp không hạn chế trả lương theo sản phẩm gián tiếp, trả lương ltheo sản
phẩm có thưởng, trả lương theo sản phẩm lũy tiến.
+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế, đươc căn cứ vào số lượng sản
phẩm hoàn thành thưo đúng quy cách, sản phẩm nhân (x) đơn giá tiền lương quy
định cho một sản phẩm ngoài ra không chịu một sự hạn chế nào.
+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp được áp dụng để trả lương cho công nhân
phục vụ sản xuất (Vận chuyển chuyển vật liệu sản phẩm, bảo dưỡng máy móc, thiết
bị…).Mặc dù lao động của những công nhân này không trực tiếp làm ra sản phẩm
nhưng gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhân trực tiếp sản
xuất. Vì thế, có thể căn cứ vào năng suất lao động của công nhân trực tiếp sản xuất
để tính lương cho công nhân phục vụ. Nhờ đó, bộ phận công nhân phục vụ sẽ phục
vụ tốt hơn và quan tâm hơn đến kết quả phục vụ, kết quả sản xuất: từ đó, có giải
pháp cải tiến công tác phục vụ sản xuất.
+Trả lương theo sản phẩm có thưởng là việc kết hợp trả lưong theo sản phẩm (sản
phẩm trực tiếp hoặc sản phẩm gián tiếp) với chế độ tiền thưởng trong sản xuất
(thưởng nâng cao chất lượng, thưởng tăng năng suất lao động, thưởng tiết kiệm chi
phí…). Nhờ đó, Người lao động quan tâm hơn đến việc cải tiến kỹ thuật, nâng cao
chất lượng sản phẩm làm ra, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất lao động …
+ Trả lưong theo sản phẩm lũy tiến là việc trả lương trên cơ sở sản phẩm trực tiếp,
đồng thời căn cứ vào mức đọ hoàn thành định mức sản xuất. Mức độ hoàn thành
định mức sản xuất càng cao thì suất lương lũy tiến càng lớn. Nhờ vậy, trả lương
theo sản phẩm lũy tiến sẽ kích thích được người lao động tăng nhanh năng suất lao
động.
9
Hình thức trả lương khoán.
Là hình thức trả lương theo được áp dụng cho những công việc cụ thể mà
doanh nghiệp giao khoán cho các cá nhân hoặc tập thể người lao động hiệu áp dụng
hình thức trả lương khoán sẽ kích thích người lao động hoàn thành công việc giao
khoán với năng suất và chất lượng cao nhất.
Căn cứ các hình thức tả lương nêu trên, doanh nghiệp lựa chọn hình thức thù
lao phù hợp với tính chất công việc và điều kiện sản xuất kinh doanh, gắn thù lao với
kết quả công việc, bảo đảm khuyến khích lao động nâng cao hiệu quả, năng suất lao
động. Việc lựa chọn hoặc thay đổi hình thức trả lương (thù lao) phải thể hiện trong
hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể.
Ngoài chế độ tiền lương, các doanh nghiệp còn tiến hành xây dựng chế độ tiền
thưởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động sản xuất kinh
doanh.Tiền thưởng bao gồm thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng thưởng trong
sản xuất kinh doanh (thưởng nâng cao chất luợng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật
tư, thưởng phát minh, sáng kiến ).
Có một số hình thức trả lương khoán sau
Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng.
Đây là hình thức trả lương theo sản phẩm nhưng tiền lương được tính theo
đơn giá tập hợp theo sản phẩm hoàn thành đến công việc cuối cùng hình thức này
áp dụng cho doanh nghiệp mà quá trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn công nghệ,
nhằm khuyến khích người lao động quan tâm đến chất lượng sản phẩm.
Trả lương khoán thu nhập.
Tùy thuộc vào kết quả lao động sản xuất kinh doanh hình thành quỹ lương để
phân chia cho người lao động. Nếu tiền lương không thể hoạch toán riêng rẽ cho
từng người lao động thì phải hoạch toán cho cả tập thể người lao động sau đó mới
chia cho từng người.
Có thể chia lương theo các phương pháp:
Chia lương theo cấp bậc kỹ thuật và cấp bậc công việc trung bình cộng điểm
Chia lương theo bình quân cộng điểm.
10
2.2.4 Một số chế độ khác khi tính lương
Chế độ trả lương khi ngừng việc
Theo thông tư số 11/ LĐ – TT ngày 14/ 4/ 1962 quy định của bộ lao động chế độ trả
lương khi ngừng việc được áp dụng cho người lao động làm việc thường xuyên,
buộc phải ngừng làm việc do nguyên nhân khách quan (Bão lũ, mất điện, máy
hỏng ) do người khác gây ra hoặc khi chế thử, sản xuất thử sản phẩm mới.
Việc tính trả lương được tính thống nhất cho tất cả lao động theo % trên mức
cấp bậc kể cả phụ cấp. Cụ thể
Trả 70% lương khi không làm việc.
Trả ít nhất 85% lương nếu phải làm việc khác có mức lương thấp hơn.
Trả 100% lương khi ngừng việc do chế thử, sản xuất thử.
Chế độ phụ cấp lương
Theo điều 4 của thông tư liên bộ số 20LĐ – TT ngày 02/06/1993 của liên bộ
lao động thương binh và xã hội – Tài chính quy định có 7 loại phụ cấp:
Phụ cấp theo khu vực: Áp dụng với những nơi hẻo lánh, vùng xa có nhiều khó
khăn, và điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Loại phụ cấp này có 7 mức phụ cấp
với các hệ số : 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,6; 0,7, một số với mức lương tối thiểu.
Phụ cấp độc hại hoặc nguy hiểm chưa xác định, trong mức lương có 4 mức
phụ cấp với các hệ số : 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; so với mức lương tối thiểu
Phụ cấp trách nhiệm cao hoặc phải kiêm nhiệm công tác quản lý không thuộc
chức vụ lãnh đạo. Có 3 mức phụ cấp với các hệ số 0,1; 0,2; 0,3 so với mức
lương tối thiểu tùy thuộc vào công tác quản lý của mỗi lao động .
Phụ cấp làm đêm: Áp dụng đối với những công nhân viên chức làm ca 3 (Từ
22h đến 6h sáng) ở loại này phụ cấp gồm 2 mức:
•
Mức 1: Phụ cấp 30% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ đối với công
việc không thường xuyên làm việc ban đêm.
•
Mức 2: Phụ cấp 40% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ đối với công
việc thường xuyên làm việc theo ca.
11
Phụ cấp thu hút áp dụng đối với công nhân viên chức làm việc những vùng
kinh tế mới, cơ sở kinh tế và các hải đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt hết
sức khó khăn do chưa có cơ sở hạ tầng. Phụ cấp thu hút gồm 4 mức: 20%;
30%, 50%, 70% mức lương cấp bậc hoặc chức vụ, thời gian hưởng từ 2 đến
3 năm.
Phụ cấp đắt đỏ: Áp dụng cho những nơi có chỉ số sinh hoạt cao hơn chỉ số giá
sinh hoạt bình thường của cả nước từ 10% trở lên với 5 mức phụ cấp, và hệ
số phụ cấp là : 0,1; 0,15; 0,2; 0,25; 0,3 so với mức lương tối thiểu.
Phụ cấp lưu động: Áp dụng đối với một số nghề hoặc những công việc phải
thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc hoặc chỗ ở, phụ cấp gồm 3 mức với
các hệ số: 0,2; 0,4; 0,6 so với mức lương tối thiểu.
Nguyên tắc thưởng
Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ xung nhằm quán triệt đầy đủ hơn nguyên
tắc phân phối theo lao động. Trong cơ cấu thu nhập của người lao động thì tiền
lương có tính ổn định, thường xuyên, còn tiền thưởng chỉ là phần thu thêm và nó
phụ thuộc vào các chỉ tiêu, phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tiền thưởng có tính chất khuyến khích vật chất, để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nguyên tắc thực hiện chế độ thưởng.
Áp dụng chế độ thưởng thích hợp tùy vào đặc điểm sản xuất và yêu cầu công
việc hoặc yêu cầu sản xuất kinh doanh.
Đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa các chỉ tiêu số lượng và chất lượng.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về mức thưởng trong nội bộ người lao động.
Tổng số tiền thưởng không vượt quá số tiền mang lại lợi ích.
Để tiền thưởng thực hiện tốt chức năng đòn bẩy thì doanh nghiệp phải xác định
rõ quỹ tiền thưởng hiện có của doanh nghiệp.
2.3
NỘI DUNG CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
Bên cạnh chế độ tiền lương, tiền thưởng đ ược hưởng trong quá trình sản xuất kinh
doanh, người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc quỹ bảo hiểm xã hội, bảo
12
hiểm y tế trong các trường hợp ốm đau, thai sản…Các quỹ này được hình thành một ph ần do
người lao động đóng góp, phần còn lại được tính vào chi phí kinh doanh của nghiệp
2.3.1 Bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm xã hội (BHXH) được thực hiện ở nước ta từ những năm 1920 nhưng
chưa thực sự trở thành một chính sách xã hội lớn, kể từ năm 1962 các chế độ bảo
hiểm xã hội đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo đời sống CBCNV giữ vững
ổn định chính trị xã hội.
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất việc hoặc khoản thu nhập bị giảm do không còn khả
năng lao động, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự
đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo an toàn đời
sống cho người lao động của gia đình họ.
Hiện nay, theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ, chế độ BHXH áp
dụng hầu hết các đối tượng hưởng lương trong các doanh nghiệp, cơ quan, đoàn
thể.
Theo điều149 bộ luật lao động. Quỹ BHXH dùng để chi trả trợ cấp BHXH và các
chi phí khác phục vụ cho quản lý và phát triển sự nghiệp BHXH. Quỹ BHXH được
quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước hoạch toán độc lập và được
nhà nước bảo hộ.
Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau:
Người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương.
Người lao động đóng góp bằng 5% so với tổng quỹ lương.
Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối
với người lao động.
Và từ các nguồn khác.
Khi tính mức trích BHXH, các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan
BHXH nếu doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu thì lập kế hoạch xin cấp trở lại.
2.3.2 Bảo hiểm y tế
13
Bảo hiểm y tế (BHYT) thực chầt là sự bảo trợ về y tế cho người tham gia bảo
hiểm, giúp họ một phần nào đó trang trải tiền khám chữa bệnh, tiền viện, tiền thuốc
thang Mục đích của BHYT là tập hợp một mạng lưới bảo vệ sức khỏe cho cộng
đồng, không phân biệt địa vị xã hội, mức thu nhập cao hay thấp.
Về đối tượng BHYT áp dụng cho người tham gia đóng BHYT thông qua việc
mua thẻ BHYT trong đó chủ yếu là người lao động.
Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 3% so với tổng quỹ lương trong đó
doanh nghiệp chịu 2% được hoạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ,
người lao động chịu 1% được trừ vào lương. Toàn bộ quỹ này doanh nghiệp phải
nộp cho cơ quan sở y tế, cơ quan BHYT thống nhất quản lý và cấp cho người lao
động thông qua mạng lưới y tế.
2.3.3 Kinh phí công đoàn
Kinh phí công đoàn (KPCĐ) là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp
theo chế độ hiện hành. Nguồn kinh phí này được trích theo tỷ lệ 2% so với tổng quỹ
lương phải trả cho người lao động và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải
trả được hoạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh. Khi trích mức KPCĐ trong kỳ
thì một nửa (1%) doanh nghiệp phải nộp cho công đoàn cấp trên và một nửa được
giữ lại sử dụng chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại cơ sở.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét