Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11. Tổng lượng mưa
mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm.
Trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình
quân 110mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm) . Trong mùa mưa , lượng bốc hơi thấp hơn,
bình quân 85mm/tháng , nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng
10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao. Mùa có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu
từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa
khô. Mùa khô độ ẩm ở thời kì đầu là 82% , giữa 78%, và cuối còn 72%. Mùa mưa ở đây
thật sự là một mùa ẩm ướt . Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84%, cá
biệt có tháng đạt xấp xỉ 90%.
Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như :
lốc xoáy-vòi rồng-mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina.
b) Thủy văn
Chế độ thủy triều của huyện chịu ảnh hưởng tổng hợp của sóng triều biển Đông và
sóng triều biển Tây. Biên độ triều thường xấp xỉ nhau, trong một năm biên độ triều của các
trạm ven sông có những biến động mạnh mẽ. Vào mùa kiệt, biên độ triều tăng dần và đạt trị
số lớn nhất vào tháng 4 hoặc tháng 5. Tiếp đó mùa lũ về, nước sông lên , biên độ triều giảm
và đạt trị số nhỏ nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10.
Thời gian lũ lên và xuống ở An Giang khá dài. Những năm lũ lớn, thời gian lũ lên từ
3 đến 4 tháng và lũ xuống gần 3 tháng. Năm lũ nhỏ có thời gian lũ lên và xuống cũng tới
gần 4 tháng.
c) Đất đai
Nhóm đất phèn
Đất phèn là loại đất phổ biến ở huyện Tịnh Biên với tổng diện tích khoảng 20.191ha
(chiếm 67% toàn tỉnh). Nhóm đất này được hình thành do quá trình biển tiến cách đây
6.000 năm để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông, trên đó rừng ngập mặn
phát triển mạnh mẽ như đước, sú, mắm…Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu
huỳnh trong thân và rễ dưới dạng các hợp chất hữu cơ. Khi những khu rừng này bị vùi lấp,
xác của chúng được các vi sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới
5
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
dạng sunfit. Chúng kết hợp với các ion kim loại sắt, nhôm vừa được dòng nước mang đến
từ lục địa tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite.
Pyrite chứa trong tầng trầm tích đầm lầy còn gọi là tầng phèn tiềm tàng, nhưng
chúng lại dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc với không khí.
Dựa trên nguồn gốc hình thành và mức độ nhiễm phèn trong đất, có thể chia đất
phèn ở đây thành các loại tầng đất sinh phèn (phèn tiềm tàng), tầng đất than bùn chứa phèn,
đất nhiều phèn và đất bị nhiễm phèn.
Đất phèn tiềm tàng:
Hầu hết đất phèn tiềm tàng có thành phần chủ yếu là sét (40,83%), bột 45,13%, cát
mịn 4,15%.
Đất phèn nhiều :
Thành phần hạt độ chủ yếu là sét chiếm 41,31%, bột 36,68%, cát 4,75%.
Đất phèn ít:
Bao gồm đất phù sa phát triển bị nhiễm phèn và đất nhiễm phèn nặng được thuần
thục và rửa trôi. Loại này thường phân bố ở những nơi có địa hình tương đối cao, có sự bồi
đắp khá nhiều của phù sa nên tầng phèn tiềm tàng bên dưới được che phủ khá dày (80-
100cm), khả năng bị nhiễm phèn nhẹ. Bên cạnh đó, những vùng trước đây bị nhiễm phèn
nhưng do có địa hình cao, khả năng rửa trôi tốt nên dần dần đất trở nên ít nhiễm phèn.
Thành phần hạt độ hàm lượng sét trong loại đất này rất cao (60-63,9%), bột và cát
ít , chứng tỏ đất có độ thoát , thấm nước kém và dẻo chặt, phân bố dọc dưới chân núi Cô Tô
Đất than bùn chứa phèn:
Loại đất này được đặc trưng bởi lớp than bùn dày, xốp bên dưới thường phân bố dọc
theo các thung lũng sông cổ và lung đìa. Trong đất than bùn độ khoáng tương đối thấp và
nghèo nàn nhưng bù lại hàm lượng đạm rất cao; được phân bố dọc theo thung lũng sông
cổ .
Nhóm đất phù sa có phèn:
Đất có nguồn gốc chủ yếu là bưng sau đê, địa hình thấp từ 0,8-1m và khá bằng
phẳng.
Tùy thuộc vào mức độ chứa phèn và phát triển, nhóm đất này có thể chia thành:
6
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
- Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi, chưa phát triển.
- Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi , phát triển.
- Đất có phản ứng hơi chua, pH từ 4,7-5,5 , đặc biệt lượng nhôm di động và độ acid
tổng số gia tăng nhanh từ độ sâu 90cm trở đi.Nhóm đất này chủ yếu thuộc địa hình thấp, có
mức độ bồi tụ yếu.
Nhóm đất phù sa cổ :
Nhóm đất này chủ yếu phân bố ở những nơi có địa hình cao (ruộng trên). Chúng
hình thành nên dãy đồng bằng quanh núi như khu vực quanh núi Dài, núi Cấm, cánh đồng
ven kênh Vĩnh Tế giáp biên giới Campuchia.
Đất phù sa cổ không gây độc cho cây trồng nhưng nghèo dinh dưỡng và độ thoát
thủy, tơi xốp kém. Tuy nhiên, do ảnh hưởng phù sa mới của sông Hậu, qua các đợt lũ tràn
về, nên đã hình thành tầng mặt mới, trộn lẫn với nhiều chất hữu cơ thứ sinh đã tạo thành
tầng tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng. (theo http://www.angiang.gov.vn/ ).
2. TỔNG QUAN VỀ CHẤT HỮU CƠ VÀ PHÂN HỮU CƠ
2.1 Chất hữu cơ (CHC)
2.1.1Khái niệm CHC
CHC là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong hóa từ đá mẹ để tạo
thành đất. CHC là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và là nguồn nguyên liệu để tạo
nên độ phì của đất. Số lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất
hóa lý và sinh học của đất.
CHC là bộ phận của đất có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai phần : CHC
chưa bị phân giải là những tàn tích hữu cơ như xác bã động thực vật, vsv. Phần thứ hai là
những chất hữu cơ đã phân giải, trong phần chất hữu cơ đã phân giải này chia làm hai
nhóm :
Nhóm những hợp CHC ngoài mùn .
Nhóm những hợp chất mùn .
Nhóm những hợp chất CHC trong đất ngoài mùn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn bộ
CHC thường không vượt quá 10-15% .Nhóm CHC này gồm những chất hữu cơ thông
7
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
thường có trong động vật, thực vật và vsv như: Hydrat, cacbon, protein, linhin, lipit,
andehyt,…
Nhóm những hợp chất mùn là những hợp chất cao phân tử có cấu tạo phức tạp,
chúng chiếm tỷ lệ cao trong CHC (khoảng 85-90%) (Nguyễn Thế Đặng, 1999).
Theo Dương Minh Viễn (2003) sự có mặt của CHC làm cho đất có một tính chất đặc
biệt đó là độ phì, bao gồm những đặc tính về lý, hóa học và môi trường sống trong đất.
2.1.2 Sự chuyển hóa CHC trong đất
Sự biến đổi và chuyển hóa các xác hữu cơ trong đất là một quá trình sinh hóa phức
tạp được thực hiện với sự tham gia trực tiếp của vsv, động vật, oxy không khí và nước.
Xác sinh vật tồn tại trên mặt đất hoặc trong các tầng đất. Trong quá trình phân giải,
chúng mất cấu tạo hình dạng còn các hợp chất cấu tạo nên xác sinh vật thì bị chuyển đổi
thành những hợp chất linh hoạt hơn dễ tan hơn. Một phần hợp chất này được khoáng hóa
hoàn toàn để tạo ra sản phẩm cuối cùng là CO
2
và H
2
O.Trong quá trình khoáng hóa một số
hợp chất trung gian đơn giản là nguồn dinh dưỡng cho vsv, độnh vật và thực vật một phần
sản phẩm cuả quá trình khoáng hoá được vsv dùng để tổng hợp nên protit, lipit, gluxit và
một loạt hợp chất mới xây nên cơ thể chúng và khi chết đi được phân hủy tiếp tục. Phần
thứ ba là các hợp chất cao phân tử có cấu tạo phức tạp đó là các axit mùn, những hợp chất
mùn này có thể lại tiếp tục bị khoáng hóa để giải phóng dinh dưỡng cho cây trồng (Nguyễn
Thế Đặng, 1999).
Như vậy xác hữu cơ trong đất chịu sự tác động của hai quá trình song song, tùy
thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, hệ vsv và loại xác hữu cơ mà quá trình này hay quá trình
kia chiếm ưu thế. Hai quá trình ấy là quá trình khoáng hóa và quá trình mùn hóa CHC
2.2 Phân hữu cơ
2.2.1 Khái niệm về phân hữu cơ
Theo TS. Đỗ Thị Thanh Ren và TS. Ngô Ngọc Hưng phân hữu cơ là tên gọi chung
cho các loại phân có nguồn gốc từ dư thừa thực vật, rơm rạ, phân chuồng, phân gia súc,
phân rác và phân xanh. Phân hữu cơ được đánh giá chủ yếu dựa vào hàm lượng CHC(%),
họăc chất mùn có trong phân. Mặc dù nền công nghiệp hóa trên thế giới ngày càng phát
triển, phân hữu cơ vẫn là nguồn phân quý, không những làm tăng năng suất cây trồng mà
còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì của đất.
8
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
CHC có tỷ lệ C/N cao được vùi trực tiếp vào đất không qua chế biến, chức năng chủ
yếu là cải tạo đất thì được gọi là CHC cải tạo đất. CHC thông qua chế biến hay không
thông qua chế biến có tỷ lệ C/N thấp thì gọi là phân hữu cơ.
2.2.2 Vai trò của phân hữu cơ đối với quá trình khoáng hóa N trong đất
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) và Nguyễn Ngọc Nông (1999) cho rằng : Phân hữu cơ
khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm
thành phần thức ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất.Theo Lê
Duy Bá (2000) cây trồng chỉ hấp thu 50-56% chất dinh dưỡng từ phân N vô cơ trong khi đó
phân hữu cơ chỉ khoảng 20-30%. Nguyễn Ngọc Hà năm (2000) kết luận rằng bón hoàn toàn
rơm rạ sẽ tăng năng suất lúa 16% so với hòan toàn không bón phân. Bên cạnh đó bón kết
hợp phân hữu cơ với phân hóa học sẽ tăng năng suất lúa 22%. Ngoài ra kết quả ghi nhận
của Bùi Đinh Dinh (1984) cho thấy để đảm bảo năng suất ổn định thì phân hữu cơ chiếm ít
nhất là 25% trong tổng số dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng. Nếu sử dụng phân khoáng
liên tục mà không chú trọng bón phân hữu cơ thì làm cho đất bị chua dần, đất chai cứng,
giảm năng suất cây trồng.
CHC còn là môi trường tốt cho vsv sống và phát triển, chẳn hạn chất mùn từ phân
chuồng làm tăng hiệu quả cố định N của Rhirobium và Azobacter và khả năng nitrate hóa
trông đất cũng tăng lên (Đỗ Thị Thanh Ren và ctv 1995). Nó cũng là sản phẩm năng lượng
là nguồn thức ăn đối với vi khuẩn đất và là nguồn vsv cung cấp cho đất (Lê Văn Khoa và
ctv 1996).
Theo Hoàng Minh Châu (1998), nhờ các acid humic trong phân hữu cơ giúp cây hấp
thụ tốt chất dinh dưỡng, các chất hữu cơ cũng là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây do
mùn bị phân hủy và hòa tan các chất vô cơ trong đất. Chất hữu cơ là nguồn cung cấp chất
dinh dưỡng cho cây trồng giúp đạt năng suất cao nhất nhờ con đường khóang hóa và cải tạo
tính chất hóa lý của đất. Theo Nguyễn Lân Dũng (1968) nguồn N bổ sung cho đất chủ yếu
dựa vào nguồn phân hữu cơ và sự cố định N của các vi khuẩn sống trong đất. Ngoài N phân
hữu cơ còn chứa các nguyên tố P, K, Ca, Mg và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây
trồng (Trần Thành Lập, 1998).
3. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG LUÂN CANH
9
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
Nhiều nghiên cứu công bố cho thấy rằng năng suất lúa nhận được thấp nhất trong lô
trồng độc canh lúa. Năng suất lúa cao nhất trong các lô luân canh Lúa-Đậu nành.Ngoài ra
việc luân canh này còn giúp cải tạo được lý tính và hóa tính của đất do chuyển từ chế độ
đất ngập nước liên tục sang chế độ cây trồng cạn. Việc này giúp cho cả hai loại cây trồng
lúa và cây trồng cạn trong việc sinh trưởng và phát triển. Đồng thời cây họ đậu còn giúp cải
thiện độ phì nhiêu của đất do sự cố định đạm của nhiều vi khuẩn nốt sần từ bộ rễ của cây
đậu nành (Nguyễn Công Thành, 2007)
Hệ thống luân canh lúa-màu thay cho chuyên canh lúa, một mặt hạn chế tình trạng
ngập nước liên tục làm tăng độ tự do của sắt và thành phần CHC tích lủy trong đất chủ yếu
từ rơm rạ lúa. Mặt khác, nó tạo ra môi trường oxy hóa thúc đẩy quá trình khoáng hóa CHC,
góp phần đáng kể trong việc cung cấp những khoáng chất cần thiết cho cây trồng (Trần
Xuân Lạc, 1990).Theo Nguyễn Minh Đông (2006) hàm lượng đạm hữu cơ dễ phân hủy có
khuynh hướng cao hơn ở các nghiệm thức luân canh, cụ thể 18.5- 18.8 mg/kg so với 16.5
mg/kg ở hệ thống chuyên lúa, phần trăm đạm khoáng hóa so với đạm tổng số cũng cao hơn
và có ý nghĩa thống kê ở đất luân canh màu cho thấy chất lượng chất hữu cơ đã được cải
thiện trong hệ thống luân canh lùa –màu, hàm lượng N-NH4
+
của đất luân canh 16.1-16.5
mg/kg đất trong suốt vụ.
Theo Ngô Ngọc Hưng (2004) nhu cầu dinh dưỡng của mỗi loại cây trồng có khác
nhau và hệ rể phát triển sâu cạn dài ngắn cũng khác nhau, nên luân canh làm cho dinh
dưỡng của đất được sử dụng tốt hơn. Đồng thời, rễ cây đậu xanh, đậu nành cung cấp một
lượng đạm trung bình 40 kg/ha (Trần Thương Tuấn, 1983) , vi khuẩn cộng sinh rể cây họ
đậu cung cấp lượng đậm rất đáng kể cho đất sau thu hoạch trung bình 40-40 kg/ha (Trần
Thương Tuấn, 1983). Luân canh cây màu còn giúp cho cấu trúc đất được cải thiện, hệ vsv
đất phong phú, môi trường đất bền vững hơn, hệ thống canh tác lúa màu cho lãi cao hơn
chuyên lúa (Dương Văn chính & ctv, 1995).
4. SỰ KHOÁNG HÓA ĐẠM HỮU CƠ
Đạm có nguồn gốc từ sự khoáng hóa N hữu cơ là nguồn N chính mà cây trồng hấp
thu từ đất. Thường thì 50-80% N hoặc hơn thế nữa được cây lúa hấp thu có nguồn gốc từ
CHC (Broadbent, 1978), ngay cả khi bón phân N liều lượng cao cũng không thể thay thế
được N của đất (Cassman và ctv, 1994).
10
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
Trên 95% N ở tầng đất mặt của hầu hết các loại đất đều ở dạng hữu cơ (Kowalenko,
1978). Do hoạt động dinh dưỡng của vsv đất như: Bacteria, actinomycetes, fungi…Đạm
hữu cơ khoáng hóa thành N vô cơ, sự khoáng hóa N gồm hai tiến trình là : Tiến trình
amonium hóa và tiến trình nitrate hóa. Tiến trình khoáng hóa N trong đất đã được Nguyễn
Bảo Vệ (1997) mô tả như sau :
Vi sinh vật
N hữu cơ N vô cơ
Heterotroph Autotroph
NH
4
NO
2
NO
3
Vi khuẩn Nitrosomonas Nitrobacter
Nấm
Xạ khuẩn
Hình 3: Sơ đồ khoáng hóa N trong đất (Nguyễn Bảo Vệ, 1997).
4.1 Tiến trình amonium hóa
Trong đất vsv sử dụng N như là nguồn nguyên liệu để phát triển sinh khối của
chúng (Janson và Presson, 1982).Sự phân hủy các protein, amino acid thành NH
4
+
của vsv
gọi là tiến trình amonium hóa. Tiến trình này xảy ra ở hai điều kiện yếm khí và háo khí
(Jarvis và ctv, 1996).
Quần thể vsv dị dưỡng trong đất bao gồm nhiều nhóm vi khuẩn và nấm, mỗi
nhóm đáp ứng một hoặc nhiều bước trong phản ứng phân hủy CHC. Sản phẩm cuối cùng
cho sự hoạt động của một nhóm là nguồn nguyên liệu cung cấp cho phản ứng tiếp theo, cứ
như thế cho đến khi CHC hoàn toàn bị phân hủy.
R-NH
2
+ HOH NH
3
+ R-OH + Năng lượng
2 NH
3
+ H
2
CO
3
(NH
4
)
2
CO
3
= 2NH
4
+
+ 2CO
2
-
(Trích Giáo trình phì nhiêu đất, 2004).
11
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
• VSV tham gia vào tiến trình amonium hóa :
VSV tham gia vào tiến trình amonium hóa bao gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn chủ
yếu là Pseudomonas, Bacillus, Clostridium, Serratia, Micrococcus, Corynebacterium,
Achromobacter,….(Phạm Văn Kim, 1996).
• Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình amonium hóa
Chất hữu cơ :Tốc độ phân hủy và khoáng hóa của các thành phần
hữu cơ ở đất có cấu trúc thô nhanh hơn ở đất có cấu trúc mịn(Van Veen and
KuiKman,1990) vì chất hữu cơ và sinh khối của vsv trong đất có cấu trúc mịn được bảo vệ
về mặt vật lý tốt hơn. Chất hữu cơ trong đất có liên quan chặt với N tổng số trong đất
(Stevenson, 1982) nhưng N hữu dụng lại tương quan không cao với N tổng số
(Casman,1996). Hàm lượng N khoáng hóa phụ thuộc vào hàm lượng và chất lượng CHC, tỉ
số C/N ảnh hưởng đến sự khóang hóa N trong đất, tỉ số C/N càng cao thì tốc độ khoáng hóa
càng giảm, tỉ số C/N =20:1 được coi là cân đối (Tisdale et al, 1985)
Ẩm độ và nhiệt độ : Ẩm độ trong đất ảnh hưởng đến tốc độ khoáng
hóa N trong đất. Alexander (1961) cho rằng đất có ẩm độ 70% hàm lượng N khoáng hóa
khoảng 180ppm sau 28 ngày ủ và hàm lương chỉ đạt 40ppm ở ẩm độ 27% khả năng giử
nước của đất trên cùng một điều kiện thí nghiệm. Ẩm độ thích hợp cho sự khoáng hóa
amonium thường là trong khoảng 50- 60% khả năng giử nước của đất.
Theo Alexander (1961) nhiệt độ tối hảo cho quá trình amonium hóa trong khoảng
50-60
0
C. Nhiệt độ lạnh lâu dài cũng làm cho tốc độ khoáng hóa xảy ra chậm, do đó đối với
vùng ôn đới với nhiệt độ lạnh lâu dài làm chậm tốc độ khoáng hóa, Vì thế vùng ôn đới đất
có nhiều mùn hơn vùng nhiệt đới.
Tình trạng thoáng khí của đất : Tốc độ khoáng hóa cũng phụ thuộc vào
điều kiện thoáng khí. Sự khoáng hóa cần có nước nhưng nếu ẩm độ quá cao gây ra yếm khí
thì sẽ dẫn đế tình trạng phân hủy CHC giảm. Đối với đất ruộng ngập nước việc cày ải phơi
đất (giúp đất thoáng khí trước khi trở lại trạng thái ẩm sẽ cho lượng amonium khoáng hóa
cao hơn đất bị ngập liên tục. Ngoài ra, việc bón vôi cho ruộng cũng làm gia tăng lượng NH
3
khoáng hóa (Nguyễn Quan Lữ, 1981).
12
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
Ảnh hưởng của pH: Theo Lê Văn Căn (1978) pH của đất không ảnh hưởng
mạnh đến tiến trình amonium hóa trừ trường hợp pH thấp như đất phèn, quá trình
amonium hóa xảy ra mạnh ở pH khoảng trung tính .
Ngoài ra tất cả những yếu tố nào liên quan đến hoạt động của vsv đều có ảnh
hưởng đến sự khoáng hóa, như nông dược sử dụng trong quá trình canh tác. Nhiều nghiên
cứu về ảnh hưởng của nông dược cho thấy, khi sử dụng dydrene và Maneb ở liều lượng
960g /1kg đất làm ảnh hưởng đến tiến trình amonium hóa nhưng không ảnh hưởng ở liều
lượng 60 g / 1kg đất mặc dù sự nitrate hóa bị chậm trể (Dubey và Rodriquez trích trong Tất
Anh Thư, 2003)
4.2 Tiến trình nitrate hóa
Trong điều kiện thoáng khí NH
4
+
sinh ra trong tiến trình amonium hóa sẽ tiếp tục
được chuyển hóa thành NO
3
-
tiến trình này xảy ra theo 2 giai đoạn (Jarvis et al.,1996)
2NH
4
+
+ 3O
2
2HNO
2
+ 2H
+
+ 2H
2
O
2HNO
2
+ 3O
2
2 NO
3
-
+ 2H
+
2NH
4
+
+ 4O
2
2 NO
3
+ 4H
+
+ 2H
2
O
Các phản ứng oxy hóa được xúc tác bởi 2 nhóm vsv tác động qua lại với nhau (
Nitrosomonas và Nirtobacter) . Kết quả của tiến trình này tạo ra các phân tử oxy và các ion
H
+
.
o Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình Nitrate hóa
Cũng như tiến trình amonium hóa tiến trình nitrate hóa luôn chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố như độ thoáng khí của đất, pH của môi trường, hàm lượng amonium và mật số
vsv sống trong đất (Bramley và White, 1991 trích trong Tất Anh Thư, 2003)
Hàm lượng amonium :Sự nitrate hóa xảy ra khi có nguồn amonium bị
oxy hóa. Tỉ lệ C/N của xác thải cao ngăn chặn sự phóng thích amonium đồng thời cũng
ngăn chặn sự nitrate hóa. Nếu NH
3
hiện diện quá cao cũng làm kiềm hãm sự nitrate hóa do
NH
3
gây độc đối với nitrobacter vì thế có sự tích lũy các ion NO
2
-
gây độc (Brady, 1984).
Độ thoáng khí của đất: Sự Nitrate hóa là một tiến trình oxy hóa vì vậy
cần điều kiện đất thoáng khí. Đôi với đất thoáng khí và đất thoát thủy tốt cung cấp đầy đủ
13
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Thị Nhã Phương
O
2
cho quá trình nitrate hóa. Quá trình Nitrate hóa xảy ra nhanh khi đất được cáy và canh
tác thích hợp (Brady, 1984).
Nhiệt độ và ẩm độ : Nhiệt độ và ẩm độ củng ảnh hửong mạnh mẽ đến tiến
trình nitrate hóa. Nhiệt độ thích hợp cho sự nitrate từ 25-35
0
C . Nhiệt độ đất thấp làm chậm
tiến trình nitrate hóa. Sự nitrate hóa giảm khi nhiệt độ trên 35
0
C và giảm liên tục khi nhiệt
độ lớn hơn 500C. Sự nitrate hóa cũng cần chung cấp đủ nước. Độ ẩm đất quá thấp hoặc quá
cao cũng làm chậm cũng làm chậm sự nitrate hóa. Trên thực tế ẩm độ thích hợp cho sự sinh
trưởng của cây trồng cũng là ẩm độ thích hợp cho sự nitrate hóa (Brady, 1984).
Baze trao đổi và pH: pH môi trường là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng
đến hoạt động của vi khuẩn nitrate và tiến trình nitrate (Alexander,1961).Trị số pH tối ưu
cho hoạt động nitrate hóa biến thiên từ 6.6-8.0. Sự nitrate hóa sẻ giảm ở pH thấp hơn 6, còn
ở pH cao sẻ ức chế sự chuyển hóa NO
2
-
thành NO
3
-
.
Sự nitrate hóa xảy ra nhanh chóng khi đất có nhiều baze trao đổi. Mặc dù vsv
mẩn cảm với pH của đất nhưng trong một giới hạn nhất định độ chua ít ảnh hưởng đến sự
nitrate hóa khi môi trường cung cấp đủ baze. Điều này đúng trên đất than bùn vì khi pH < 5
loại đất này vẫn có thể tích lũy nitrate (Brady, 1996).
Ngoài ra, quá trình nitrate hóa cũng chịu ảnh hưởng của thuốc phòng trừ dịch
hại như các chất gốc cyanua, các hợp chất gốc Clor hữu cơ đều ức chế mạnh quá trình
nitrate hóa.
CHƯƠNG II : PHƯƠNG TIỆN- PHƯƠNG PHÁP
1. Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Đề tài được thực trên các mẫu đất đã được lấy từ thí nghiệm luân canh dài hạn giữa
lúa với cây họ đậu và thí nghiệm bón thêm phân hữu cơ trên đất lúa chuyên canh hai vụ,
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét