TSCĐ hữu hình và kế toán TSCĐ vô hình. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay tại
các doanh nghiệp thì công tác kế toán TSCĐ hữu hình là đa số còn các nghiệp
vụ về TSCĐ vô hình chỉ chiếm một phần rất nhỏ (thậm chí không có nh tại
trung tâm thông tin di động khu vực I), điều đó cho thấy tầm quan trọng của kế
toán TSCĐ hữu hình là rất đáng kể. Do đó thông tin về TSCĐ hữu hình do kế
toán TSCĐ hữu hình cung cấp là một trong những dòng thông tin quan trọng để
những ngời sử dụng thông tin có thể phân tích, đánh giá về cơ sở vật chất kỹ
thuật đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Để thực hiện đợc các yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho ngời sử
dụng, phát huy vai trò của kế toán, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
hữu hình, kế toán TSCĐ trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ sau:
Ghi chép, phản ánh, tổng hợp chính xác, kịp thời về số lợng, giá trị hiện
có, tình hình tăng, giảm và hiện trạng của TSCĐ hữu hình trong toàn doanh
nghiệp và theo từng địa điểm, từng bộ phận sử dụng. Tạo điều kiện để doanh
nghiệp kiểm tra, giám sát thờng xuyên việc giữ gìn, bảo quản, bảo dỡng TSCĐ
hữu hình, có kế hoạch bố trí sử dụng và kế hoạch đầu t đổi mới TSCĐ hữu hình.
Ghi chép, phản ánh tình hình sử dụng theo từng thứ, từng loại và toàn bộ
TSCĐ hữu hình ở từng bộ phận và trong toàn doanh nghiệp. Tính toán, xác định
hiệu quả sử dụng TSCĐ hữu hình, cung cấp các số liệu làm căn cứ cho doanh
nghiệp đề ra các biện pháp huy động, sử dụng triệt để và có hiệu quả các TSCĐ
hữu hình và ra các quyết định đầu t hợp lý.
Tính toán phân bổ hợp lý số khấu hao TSCĐ hữu hình vào chi phí sản
xuất kinh doanh phù hợp với lợi ích kinh tế do tài sản đem lại, phù hợp với đối
tợng sử dụng TSCĐ.
Xác định đúng đắn và kế toán kịp thời các khoản chi phí, thu nhập trong
quá trình thanh lý, nhợng bán, sửa chữa TSCĐ hữu hình và những thiệt hại do
quá trình đó gây ra. Lập báo cáo về TSCĐ nói chung và TSCĐ hữu hình nói
riêng và tham gia phân tích tình hình trang bị, huy động, bảo quản, sử dụng
TSCĐ trong các doanh nghiệp.
2. Phân loại và đánh giá TSCĐ hữu hình.
2.1. Phân loại TSCĐ hữu hình.
Để thuận lợi cho công tác quản lý và kế toán TSCĐ, TSCĐ hữu hình đợc
sắp xếp vào từng loại, từng nhóm theo những đặc trng nhất định. Do đó có
nhiều cách phân loại TSCĐ hữu hình khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu của
quản lý và kế toán.
2.1.1. Phân loại TSCĐ hữu hình theo công dụng.
Theo công dụng thì TSCĐ hữu hình đợc chia ra các loại sau:
- Nhà cửa, vật kiến trúc.
- Máy móc, thiết bị.
- Phơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
- Thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý.
- Cây lâu năm, súc vật làm việc.
- Tài sản cố định hữu hình khác.
Cách phân loại này sẽ giúp doanh nghiệp quản lý và sử dụng các TSCĐ
hữu hình hiệu quả hơn, đồng thời việc trích và phân bổ khấu hao các TSCĐ hữu
hình cũng chính xác hơn.
2.1.2. Phân loại TSCĐ hữu hình theo hình thức sở hữu.
Theo cách phân loại này thì TSCĐ hữu hình đợc chia thành các loại sau:
- TSCĐ hữu hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: Là những TSCĐ
doanh nghiệp đầu t bằng vốn chủ sở hữu hoặc do nguồn vốn bên ngoài tài trợ.
Doanh nghiệp có quyền sở hữu chính thức hoặc đợc Nhà nớc uỷ quyền quản lý
và sử dụng tài sản đó. Đối với những tài sản loại này, doanh nghiệp đợc quyền
sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp; sử
dụng phục vụ cho các hoạt động liên doanh, liên kết; thế chấp hoặc cầm cố; cho
thuê; thanh lý, nhợng bán các tài sản đó.
- TSCĐ hữu hình doanh nghiệp đi thuê: Là những TSCĐ doanh nghiệp
thuê của đơn vị khác theo các hợp đồng thuê tài sản đã đợc ký kết. Hiện nay có
hai loại hình thuê tài sản cố định là thuê hoạt động và thuê tài chính. Trong thời
gian có hiệu lực của hợp đồng, doanh nghiệp đợc quyền sử dụng tài sản đó phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của mình.
Với cách phân loại này cho phép doanh nghiệp nắm bắt đợc thời gian sử
dụng các loại tài sản trong doanh nghiệp từ đó có kế hoạch sử dụng, thực hiện
trích khấu hao và sử dụng nguồn vốn khấu hao một cách hợp lý.
2.1.3. Phân loại TSCĐ hữu hình theo mục đích sử dụng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng TSCĐ, TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp
đợc chia làm những loại sau:
- TSCĐ hữu hình dùng trong sản xuất kinh doanh: Bao gồm tất cả những
TSCĐ hữu hình đợc dùng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp ở các bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh, bộ phận quản lý
doanh nghiệp.
- TSCĐ hữu hình dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc
phòng: bao gồm các TSCĐ đợc sử dụng để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần
của ngời lao động trong doanh nghiệp nh nhà ăn, câu lạc bộ hoặc TSCĐ sử
dụng phục vụ cho các hoạt động sự nghiệp, an ninh, quốc phòng của doanh
nghiệp nh các thiết bị chữa cháy, thiết bị an toàn, thiết bị báo động
- TSCĐ hữu hình bị h hỏng chờ xử lý: Bao gồm những TSCĐ hữu hình
của đơn vị bị h hỏng cha thanh lý hoặc những tài sản doanh nghiệp hiện có nh-
ng không có nhu cầu sử dụng, đang chờ quyết định điểu chuyển hoặc nhợng
bán nhằm thu hồi lại vốn đầu t.
Việc phân loại theo tình hình sử dụng sẽ giúp doanh nghiệp quản lý và
phân tích đúng đắn tình hình, hiệu quả của việc sử dụng tài sản và từ đó có kế
hoạch khai thác, sử dụng TSCĐ hữu hình một cách hữu hiệu nhất.
2.1.4 Phân loại TSCĐ hữu hình theo nguồn tài trợ.
Theo cách phân loại này, TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp đợc chia
thành các loại:
- TSCĐ hữu hình đợc đầu t bằng nguồn vốn chủ sở hữu: Là những TSCĐ
hữu hình do doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để mua sắm, xây
dựng. Nguồn vốn để mua là từ nguồn vốn kinh doanh, nguồn vốn đầu t xây
dựng cơ bản, các quỹ của doanh nghiệp.
- TSCĐ hữu hình đợc đầu t mua sắm bằng nguồn ngân sách Nhà nớc: Là
những TSCĐ hữu hình đợc Nhà nớc cấp ngân sách cho mua sắm và các TSCĐ
đợc hình thành theo kiểu này chủ yếu là ở các đơn vị hành chính sự nghiệp.
- TSCĐ hữu hình đợc đầu t bằng nguồn vốn đi vay: Là các tài sản doanh
nghiệp có đợc từ tiền vốn của các đối tác bên ngoài cho doanh nghiệp vay, mợn
để đầu t mua sắm và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền t-
ơng đơng theo các nghĩa vụ pháp lý cho các đối tác bên ngoài.
Với cách phân loại trên cho phép doanh nghiệp đánh giá đợc một cách
chính xác tình trạng cơ sở vật chất hiện có của mình trong mối quan hệ với tình
hình tài chính của doanh nghiệp và cho phép doanh nghiệp trích và phân bổ
khấu hao các TSCĐ hữu hình một cách hợp lý.
2.2. Đánh giá TSCĐ hữu hình.
2.2.1. Đánh giá TSCĐ hữu hình theo nguyên giá.
Đánh giá TSCĐ hữu hình là việc xác định giá trị của tài sản đó để ghi sổ
kế toán. Nguyên tắc chung xác định giá trị TSCĐ nói chung và TSCĐ hữu hình
nói riêng là phải dựa trên nguyên tắc giá phí. Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính
đúng, tính đủ các chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để có đợc TSCĐ đó. Chi phí
của một TSCĐ hữu hình bao gồm tất cả các phí tổn hợp lý, hợp lệ mà doanh
nghiệp bỏ ra để có đợc tài sản đó và đa tài sản đó vào vị trí sẵn sàng sử dụng. Từ
nguyên tắc chỉ đạo trên, cách xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình nh sau:
a) TSCĐ hữu hình mua sắm.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồm giá mua ghi trên hóa đơn:
Trừ (-) các khoản đợc chiết khấu thơng mại hoặc giảm giá.
Cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế đợc hoàn lại).
Cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đa tài sản vào trạng
thái sẵn sàng sử dụng, nh: Chi phí chuẩn bị mặt bằng; Chi phí vận chuyển, bốc
dỡ; Chi phí lắp đặt, chạy thử; Các chi phí liên quan trực tiếp khác.
b) TSCĐ hữu hình do bộ phận xây dựng cơ bản tự làm bàn giao.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình do bộ phận xây dựng cơ bản tự làm bàn giao
là giá thực tế của công trình và:
Cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử và các khoản chi phí khác có liên
quan.
Cộng (+) thuế trớc bạ (nếu có).
c) TSCĐ hữu hình do bên nhận thầu bàn giao.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình do bên nhận thầu bàn giao là giá phải trả cho
bên nhận thầu và:
Cộng (+) các phí tổn mới trớc khi dùng nh lắp đặt, chạy thử
Cộng (+) thuế trớc bạ (nếu có).
Trừ (-) các khoản giảm giá.
c) TSCĐ hữu hình đ ợc cấp, đ ợc điều chuyển đến.
Nếu là đơn vị hạch toán độc lập: Nguyên giá bao gồm giá trị còn lại
ghi sổ ở đơn vị cấp hoặc giá trị đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận và
Cộng (+) các phí tổn mới trớc khi dùng mà bên nhận phải chi ra nh chi
phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử
Nếu là đơn vị hạch toán phụ thuộc: Nguyên giá, giá trị còn lại và số
khấu hao lũy kế đợc ghi theo sổ của đơn vị cấp. Các phí tổn mới trớc khi dùng
đợc phản ánh trực tiếp vào chi phí sản xuất kinh doanh mà không tính vào
nguyên giá TSCĐ đó.
2.2.2. Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại.
a) Hao mòn và khấu hao TSCĐ hữu hình.
Hao mòn là sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng hoặc
do chịu tác động từ yếu tố thiên nhiên, môi trờng hoặc sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật. Hao mòn TSCĐ hữu hình có hai dạng là:
Hao mòn hữu hình: Là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị
cọ xát, bị ăn mòn, bị h hỏng từng bộ phận.
Hao mòn vô hình: Là sự giảm giá trị của TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ
thuật đã sản xuất ra những TSCĐ cùng loại u việt hơn hoặc sản xuất ra những
TSCĐ khác có khả năng thay thế cho TSCĐ hiện tại.
Khấu hao TSCĐ hữu hình: Là sự phân bổ một cách hợp lý và khoa học
nguyên giá TSCĐ hữu hình vào chi phí thông qua thời gian sử dụng TSCĐ hữu
hình nhằm tái sản xuất TSCĐ đó khi nó bị h hỏng.
Giữa khấu hao và hao mòn TSCĐ hữu hình có sự không đồng nhất về nội
dung kinh tế và ta không thể coi khấu hao là việc tính toán, xác định mức hao
mòn để phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh vì:
Nếu coi khấu hao TSCĐ hữu hình là việc tính toán xác định mức hao
mòn của TSCĐ hữu hình, phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh thì TSCĐ
hữu hình hao mòn bao nhiêu sẽ phân bổ vào chi phí bấy nhiêu. Nhng hao mòn
TSCĐ hữu hình mang tính khách quan, trên thực tế không thể đo lờng một cách
chính xác mức độ hao mòn của TSCĐ hữu hình, còn khấu hao là nhận thức chủ
quan của con ngời, là quá trình tính toán, phân bổ giá trị của TSCĐ hữu hình
vào chi phí sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp hoàn toàn có thể xác định mức
khấu hao hợp lý cho mỗi TSCĐ hữu hình.
Nhu cầu của doanh nghiệp về TSCĐ hữu hình thực chất là nhu cầu về giá
trị sử dụng mà tài sản đó sẽ cung cấp cho doanh nghiệp trong suốt khoảng thời
gian sử dụng. Khi mua TSCĐ hữu hình, doanh nghiệp đã ứng trớc chi phí tại
thời điểm mua tài sản cho một khối lợng hàng hóa, dịch vụ sẽ nhận trong tơng
lai khi sử dụng tài sản đó. Do đó trong quá trình sử dụng cần phải tính toán,
phân bổ các chi phí đã ứng trớc vào chi phí sản xuất kinh doanh. Mặt khác theo
nguyên tắc phù hợp với nội dung doanh thu của kỳ sản xuất kinh doanh phải
phù hợp với các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để có đợc doanh thu, do đó
khi sử dụng tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp
phải phân bổ chi phí tài sản vào chi phí sản xuất kinh doanh một cách hợp lý,
phù hợp với lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại. Từ phân tích trên ta thấy
rằng việc phân bổ giá trị khấu hao của TSCĐ hữu hình không bị phụ thuộc vào
mức độ hao mòn của tài sản đó và sẽ có nhiều phơng pháp khấu hao TSCĐ hữu
hình do mỗi doanh nghiệp có sự tính toán mức độ hợp lý trong việc phân bổ giá
trị TSCĐ hữu hình khác nhau.
b) Xác định giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình.
Trong mọi trờng hợp, TSCĐ nói chung và TSCĐ hữu hình nói riêng phải
đợc đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại. Do vậy việc ghi sổ phải đảm bảo
phản ánh đợc cả 3 chỉ tiêu về TSCĐ hữu hình là nguyên giá, khấu hao lũy kế và
giá trị còn lại của TSCĐ đó. Giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đợc xác định
bằng công thức:
Giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình = Nguyên giá - Giá trị hao mòn lũy kế.
Việc xác định giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình cho biết số chi phí cha
đợc phân bổ, từ đó doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng tài sản và phân bổ chi phí
cho các kỳ kinh doanh tiếp theo. Đồng thời việc xác định giá trị còn lại của
TSCĐ hữu hình cung cấp thông tin về giá trị TSCĐ hữu hình hiện có trong tổng
giá trị tài sản của doanh nghiệp, phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình
tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định.
2.2.3. Đánh giá lại giá trị TSCĐ hữu hình.
Do có sự chênh lệch giữa mức độ hao mòn TSCĐ hữu hình và số khấu
hao đã trích của tài sản đó hoặc do tiến hành nâng cấp TSCĐ hữu hình, định kỳ
các doanh nghiệp thờng tiến hành đánh giá lại nguyên giá của TSCĐ hữu hình
(các thủ tục tiến hành phải theo quy định của Nhà nớc) nhằm phản ánh chính
xác hơn giá trị thực tế của các tài sản đó.
Trong trờng hợp TSCĐ hữu hình có sự nâng cấp hoặc bị tháo dỡ một số
bộ phận thì:
Và
Trong trờng hợp đánh giá lại giá trị TSCĐ hữu hình theo giá thị trờng thì:
3. hạch toán kế toán TSCĐ hữu hình trong các doanh
nghiệp.
3.1. Hạch toán ban đầu TSCĐ hữu hình.
NG của TSCĐ hữu hình đánh giá lại = NG ban đầu + chi phí nâng cấp
giá trị bộ phận bị tháo dỡ.
NG của TSCĐ hữu hình đánh giá lại = NG ban đầu + (-) chênh lệch giá trị
TSCĐ hữu hình do đánh giá lại
Giá trị thực tế của TSCĐ hữu hình sau đánh giá = NG của TSCĐ hữu
hình đánh giá lại giá trị hao mòn lũy kế.
Là quá trình ghi lại thông tin ban đầu phát sinh liên quan đến đối tợng
cần hạch toán theo đúng thời gian, địa điểm phát sinh của nghiệp vụ. Thông tin
do hạch toán ban đầu cung cấp sẽ quyết định tính đúng đắn và chính xác của
toàn bộ quá trình xử lý thông tin của kế toán sau này, do đó điều đầu tiên đối
với kế toán là phải tổ chức tốt công tác hạch toán ban đầu bao gồm việc sử dụng
các chứng từ, quy định các thông tin sẽ đợc ghi nhận trên chứng từ để phản ánh
về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và quá trình kiểm tra, chuyển giao
thông tin cho các bộ phận kế toán để xử lý.
Trong hạch toán ban đầu đối với TSCĐ hữu hình các thông tin cần đợc
cung cấp gồm:
Thông tin về chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để có TSCĐ hữu hình. Điều
này có thể chứng minh thông qua các chứng từ nh hợp đồng kinh tế, giấy
chứng nhận, giao kèo, hoá đơn hay các văn bản có liên quan.
Thông tin về tình hình sử dụng tài sản trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh, căn cứ vào đó để phân bổ chi phí khấu hao và các chi phí sản xuất kinh
doanh theo đúng đối tợng sử dụng tài sản.
Thông tin về các chi phí sửa chữa, đầu t, cải tạo nâng cấp, căn cứ vào đó
sẽ tiến hành phân loại để xử lý vào chi phí kinh doanh hoặc xử lý tăng, giảm
TSCĐ hữu hình trong quá trình sử dụng.
Các chứng từ có thể sử dụng bao gồm: chứng từ giao nhận, chứng từ khấu
hao, thanh lý, nhợng bán, đánh giá lại TSCĐ vô hình Tuỳ từng trờng hợp cần
sử dụng các chứng từ cho phù hợp, đảm bảo mọi thông tin về TSCĐ hữu hình đã
xử lý đều có bằng chứng hợp lệ, hợp pháp.
3.2. Hạch toán chi tiết TSCĐ hữu hình.
Mục đích của hạch toán chi tiết TSCĐ hữu hình nhằm cung cấp đợc các
thông tin một cách chi tiết, cụ thể về tình hình hiện có, tình hình quản lý, sử
dụng TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp cho các nhà quản lý. Những thông tin
đó vừa phải thể hiện trên góc độ toàn doanh nghiệp, đồng thời cụ thể chi tiết
cho từng loại, từng thứ tài sản và từng bộ phận sử dụng tài sản cố định hữu hình.
Do đó hạch toán chi tiết TSCĐ hữu hình phải cung cấp đợc các thông tin sau:
Tổng số TSCĐ hữu hình hiện có trong doanh nghiệp về số lợng, chủng
loại, tính năng kỹ thuật, công suất sử dụng, thời gian sử dụng.
Tổng giá trị TSCĐ hữu hình hiện có cũng nh giá trị của từng thứ, từng
loại tài sản theo nguyên giá, giá trị còn lại.
Số đã khấu hao của các TSCĐ hữu hình, phơng pháp khấu hao TSCĐ hữu
hình.
Tình hình sử dụng TSCĐ phân theo mục đích sử dụng, theo hình thức sở
hữu, theo loại hình hoạt động kinh doanh, theo từng bộ phận sử dụng tài sản.
Trách nhiệm vật chất trong quá trình quản lý, sử dụng TSCĐ hữu hình.
Để đáp ứng đợc yêu cầu cung cấp thông tin trên đòi hỏi doanh nghiệp
cần tổ chức hạch toán chi tiết một cách hợp lý. Việc hạch toán này có thể đợc
thực hiện trên các nội dung nh:
Mở thẻ theo dõi chi tiết cho từng thứ tài sản hiện có, trên thẻ TSCĐ cung
cấp các thông tin về hiện trạng của TSCĐ hữu hình phục vụ yêu cầu quản lý tài
sản đó.
Xây dựng danh mục TSCĐ nói chung và TSCĐ hữu hình nói riêng của
doanh nghiệp và quy định số hiệu cho từng thứ tài sản nhằm thuận tiện cho
công tác quản lý. Việc đánh số đợc thực hiện đảm bảo tính khoa học, hợp lý,
thuận tiện cho quá trình kiểm tra, đối chiếu và thống nhất trong toàn doanh
nghiệp.
Mở sổ theo dõi toàn bộ TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp, đồng thời mở
sổ theo dõi cho từng bộ phận sử dụng tài sản. Trên sổ phải cung cấp đợc các
thông tin về tình hình sử dụng TSCĐ hữu hình đó thể hiện qua các chỉ tiêu nh
loại tài sản, thứ tài sản đợc sử dụng, nguyên giá và tình hình trích khấu hao, tình
hình tăng, giảm tài sản.
Định kỳ doanh nghiệp cần lập các báo cáo về tình hình sử dụng TSCĐ
hữu hình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trên báo cáo ngoài các thông tin
do kế toán cung cấp cần có các thông tin bổ xung nh các tác động có ảnh hởng
đến giá trị tài sản, tình hình trích khấu hao và tình hình sử dụng tài sản. Đồng
thời kết hợp phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ hữu hình trong kỳ, từ đó
có quyết định hợp lý trong quá trình sử dụng cũng nh đầu t, đổi mới TSCĐ hữu
hình.
3.3. Hạch toán tổng hợp tình hình biến động tăng, giảm TSCĐ hữu hình.
3.3.1. Các tài khoản sử dụng.
Theo chế độ hiện hành, việc hạch toán TSCĐ hữu hình đợc theo dõi trên
tài khoản 211 Tài sản cố định hữu hình. Tài khoản này dùng để phản ánh giá
trị hiện có và biến động tăng, giảm của toàn bộ TSCĐ hữu hình thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp theo nguyên giá.
Tài khoản 211 đợc chi tiết thành các tiểu khoản:
2112 Nhà cửa, vật kiến trúc.
2113 Máy móc, thiết bị.
2114 Phơng tiện vận tải, truyền dẫn.
2115 Thiết bị, dụng cụ quản lý.
2116 Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm.
2118 Tài sản cố định khác.
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
khác có liên quan nh các tài khoản 2141, 111, 112, 331
3.3.2. Phơng pháp hạch toán
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét