biến ở nông thôn vào thời kỳ nhàn rỗi và khu vực kinh tế nhà nớc trong quá
trình cải tổ hệ thống kinh tế xã hội, ớc tính trong thập kỷ tới mỗi năm sẽ có
hơn 1 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động và tỷ lệ tăng của lực lợng lao động
sẽ cao hơn so với tỷ lệ tăng dân số. Một vài năm trở lại đây, lực lợng lao động
đã tăng 3,43 - 3,5% mỗi năm so với mức tăng dân số là 2,2 - 2,4%.
Bảng số ngời TN theo độ tuổi
(Đơn vị: ngời)
T
uổi
S
ố lợng
Tỷ
lệ số với
tổng số N%
Tỷ lệ so với dố
ngời cùng độ tuổi%
S
ố lợng
Tỷ lệ
so với tổng số
TN%
Tỷ lệ
so với số ngời
tuổi%
T
S
1
350035
100,
0
4,17 6
61664
100,0 9,1
1
6-19
6
52261
48,3 12,43 2
83460
12,8 25,5
2
0-24
3
76951
27,9 6,74 1
98037
29,9 16,4
2
5-29
1
67640
12,4 3,06 9
4386
14,3 7,5
3
0-39
1
14655
8,5 1,47 6
4595
9,8 3,3
4
0-49
2
7432
2,0 0,66 1
5467
2,3 1,5
5
0-hết
1
1093
0,8 0,35 5
719
0,9 0,8
T
LĐ
Nguồn: PTS Nguyễn Quan Hiển: Thị trờng lao động. Thực trạng và giải
pháp. Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội 1996, trang 67.
5
1.3: Tác động thất nghiệp và việc làm.
Số ngời tăng thêm trong lực lợng lao động hàng năm và số ngời đợc giải
quyết việc làm hàng năm.
Trong những năm gần đây, nhờ đờng lối đổi mới của Đảng mà nhiều
lao động đã và đang đợc thu hút vào các ngành nghề, các lĩnh vực, ở mỗi địa
bàn, trong nhiều thành phần kinh tế trên phạm vi quốc gia và từng bớc hoà
nhập vào cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp nên Việt Nam
vẫn là nớc nghèo, còn thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định việc chăm
lo giải quyết việc làm đã trở thành nhiệm vụ cơ bản và cấp bách đòi hỏi các
ngành các cấp, mối gia đình và toàn xã hội phải quan tâm. Từ cơ cấu dân số,
ta thấy số ngời dới 15 tuổi chiếm 40% trong khi đó tỷ lệ gia tăng tự nhiên cao
(2,2%) vì vậy, nẩy sinh một vấn đề là một lao động bình quân phải nuôi dỡng
nhiều ngời. Nếu lao động không có việc hoặc số ngày công trong năm thấp, số
giờ làm việc trong 1 ngày, năng suất lao động 1giờ làm việc kém thì mỗi gia
đình và toàn xã hội sẽ rất khó khăn.
Hiện nay, nguồn lao động hàng năm tăng 3,2 - 3,5%, năm 2001 là
2,7%/năm. Bối cảnh kinh tế xã hội sinh ra nhiều mâu thuẫn giữa khả năng tạo
việc làm còn hạn chế trong khi đó nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng tăng,
tất yếu dẫn đến tình hình một bộ phận lao động cha có việc làm nhất là đối với
thanh niên ở thành thị, khu công nghiệp, khu tập trung, vùng ven biển. Tổng
điều tra dân số ngày 01/04/1989 cho thấy hiện có khoảng 1,7 triệu ngời không
có việc làm. Ngời lao động nớc ta có đặc điểm:
- 80% sống ở nông thôn
- 70% đang làm trong lĩnh vực nhà nớc
6
- 14% sống lao động làm việc trong khu vực nhà nớc
- 10% trong lao động tiểu thủ công nghiệp
- 90% lao động thủ công.
Năng xuất lao động và hiệu quả làm việc rất thấp dẫn đến tình trạng
thiếu việc làm rất phổ biến và nghiêm trọng. ở nông thôn 1/3 quỹ thời gian
lao động cha đợc sử dụng tốt bằng 5 triệu ngời lao động. Trong khu vực nhà n-
ớc, số lao động không có nhu cầu sử dụng lên tới 25 - 30% có nơi lên tới 40 -
50%. Đây là điều làm cho đời sống kinh tế xã hội khó khăn của đất nớc ta
những năm 1986 - 1991.
Với tốc độ phát triển dân số và lao động nh hiện nay hàng năm chúng ta
phải tạo ra hơn 1 triệu chỗ làm việc mới cho số ngời bớc vào độ tuổi lao động,
1,7 triệu ngời cha có việc làm, hàng chục cán bộ, bộ đội phục viên, xuất ngũ,
học sinh
Những số liệu dới đây sự giúp ta hiểu rõ hơn:
Nhịp độ tăng bình quân hàng năm.
1987-1991 1992-1996 1997-2001
Tốc độ tăng dân số (%) 2,15 2,1 1,8
Tốc độ tăng nguồn LĐ (%) 3,05 2,75 2,55
Về số lợng tuyệt đối 1985 1991 1996 2001
Tổng dân số vào tuổi LĐ 30,3 35,6 16,7 46,1
(Triệu ngời)%so với dân số 19,2 50,2 53,3 55
Mức tăng bình quân (ngàn ngời) 900 1060 1023 1090
7
Số thanh niên vào tuổi lao động và số lao động tăng thêm trong 5 năm
1992 - 1996 và 1992 - 2005.
5 năm 1992-1996 15 năm 1992 - 2005
Số TN
vào
Số LĐ tăng thêm Số TN vào Số LĐ tăng thêm
tuổi LD Số l-
ợng
Nhịp độ
tăng
BQ
tuổi LĐ Số l-
ợng
Nhịp độ
tăng BQ
Cả nớc
7562 5150 2,75 23550 15700 2,45
Miền núi và
Trung Du Bắc
Bộ
1197 720 2,55 3800 2460 2,55
Đồng Bằng
Sông Hồng
1480 960 2,45 4730 3000 2,30
Khu 4 cũ duyên
hải Trung Bộ
870 580 3,00 2600 1760 2,70
Đông nam bộ
1915 1510 3,35 5762 5762 2,70
Tây nguyên
240 160 2,35 850 420 2,95
Theo thống kê 1996 dân số nớc ta khoảng 74 triệu ngời, số ngời trong
độ tuổi lao động là 38 triệu chiếm 53% dân số, tốc độ tăng dân số là 2,2%,
mỗi năm có khoảng 0,9-1 triệu ngời đợc tiếp nhận và giải quyết việc làm.
Theo tính toán của tổ chức lao động quốc tế (ILO) với tốc độ tăng
nguồn lao động trên 3% nh hiện nay ở Việt nam thì dù cho hệ số co dãn về
việc làm có thể tăng từ mức 0,25 lên 0,33, trong vài năm tới cũng cần có mức
tăng GDP trên 10%/ năm mới có thể ổn định đợc tình hình việc làm ở mức
hiện tại. Vì vậy, dự báo sau năm 2001 nớc ta vẫn sẽ trong tình trạnh d thừa lao
động. Sự lệch pha giữa cung và cầu về lao động là một hiện tợng đáng chú ý
8
trong quan hệ cung cầu lao động ở nớc ta hiện nay. Trong khi nguồn cung về
lao động của ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông
nghiệp, bộ đội xuất ngũ, công nhân giảm biến chế thì cần về lao động lại
đang đòi hỏi chủ yếu lao động lành nghề, lao động có trình độ, chuyên môn
kỹ thuật cao, các nhà quản lý am hiểu cơ chế thị trờng Chính sự khác biệt
này làm cho quan hệ cung cầu về lao động vốn đã mất cân đối lại càng gay gắt
hơn trớc yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
Trong toàn bộ nền kinh tế, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo hiện nay còn
rất thấp, khoảng 4 triệu ngời, chỉ chiếm 10,5% lực lợng lao động. Điều này
cho thấy lực lợng lao động hiện nay cha có thể đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội trong giai đoạn này. Trong số lao động đã qua đào tạo cơ cấu
trình độ và ngành nghề còn nhiều bất cập trớc yêu cầu của quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá Số ngời có trình độ trên đại học chỉ chiếm khoảng
1,2% trong tổng số ngời có trình độ đại học. Về cơ cấu ngành nghề, lao động
đã qua đào tạo đợc tập trung chủ yếu ở các cơ quan nghiên cứu, các đơn vị
hành chính sự nghiệp và ngành giáo dục, lĩnh vực sản xuất vật chất có tỷ lệ lao
động đã qua đào tạo còn thấp, đặc biệt trong nông nghiệp, ngành sản suất lớn
nhất cũng chỉ 9,15% lao động đợc đào tạo. Có vùng nh Tây Nguyên chỉ có
3,51% nhiều lĩnh vực rất thiếu những cán bộ giỏi, cán bộ quản lý, cán bộ am
hiểm công nghệ cao Điều đó đã đẫn đến một thực trạng hiện nay là: Trong
khi có hàng triệu ngời không tìm đợc việc làm, thì ở một số ngành nghề và rất
nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh thiếu lao động kỹ thuật, lao động có nghề
nghiệp và trình độ phù hợp với yêu cầu của công nghệ sản xuất.
2/ Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp.
2.1: Thực trạng thất nhiệp ở Việt Nam
9
Việt nam là một trong những nớc kinh tế đang phát triển, quy mô dân
số và mật độ dân c tơng đối lớn so với các nớc trên thế giới và tốc độ phát
triển nhanh, trong lúc đó việc mở rộng và phát triển kinh tế, giải quyết việc
làm gặp nhiều hạn chế, nh thiếu vốn sản xuất, lao động phân bổ cha hợp lý, tài
nguyên khác cha đợc khai thác hợp lý Càng làm cho chênh lệch giữa cung và
cầu về lao động rất lớn, gây ra sức ép về vấn đề giải quyết việc làm trong toàn
quốc.
Tính bình quân từ 1976 - 1980 mỗi năm tăng 75 - 80 vạn lao động từ
1981 - 1985 mỗi năm 60-90 vạn lao động và từ năm 1986 - 1991 mỗi năm là
1,06 triệu lao động. Từ năm 1996 đến năm 2001 tăng 1,2 triệu lao động. Bảng
dới đây cho ta thấy mối quan hệ giữa sự gia tăng dân số và nguồn lao động.
Do điều kiện kinh tế xã hội điều kiện tự nhiên tài nguyên và trình độ phát triển
kinh tế khác nhau giữa các vùng đất nớc, nguồn lao động ở các vùng đó có
mức tăng và tỉ lệ khác nhau.
Bảng Mối quan hệ dân số và nguồn lao động :
(Đơn vị tính : triệu ngời )
Năm Dân số
Số ngời trong độ
tuổi lao động
% trong dân số
Tốc độ tăng
nguồn lao động
1978 49 21,1 45 3,5
1980 54 25,5 47 3,8
1985 60 30 50 3,2
1991 67 35,4 52,8 2,9
1996 71 40,1 54,2 2,3
2001 81 45,1 55,6 2,2
Nguồn : Thông tin thị trờng lao động. Tập tham luận trung tâm thông
tin khoa học và lao động xã hội.
10
Quan hệ cung - cầu trên thị trờng lao động ngày càng căng thẳng, thất
nghiệp và nhu cầu việc làm đang trở thành sức ép nặng nề cho nền kinh tế.
Số ngời thất nghiệp là số chênh lệch giữa toàn bộ lực lợng lao động và
số ngời có việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp đợc tính bằng tỉ số giữa ngời thất nghiệp
với lực lợng lao động. Thất nghiệp ở Việt Nam mang những nét đặc trng riêng.
Khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trờng, khởi điểm từ năm 1986 đến
nay, tỉ lệ ngời thất nghiệp tăng lên. Theo số liệu bảng tổng điều tra dân số năm
1989 thì ngời lao động ở lứa tuổi 16- 19 chiếm 48,3%, lứa tuổi từ 16-24 tuổi
chiếm 71,2%. Năm 1995, số ngời thất nghiệp toàn phần trong độ tuổi cả nớc
đã lên tới con số 2,6 triệu và năm 1996 là 2,5 triệu ngời. Tỉ lệ ngời thất nghiệp
hữu hình ở các đô thị chiếm từ 9 - 12% nguồn nhân lực trong đó 85%ở lứa
tuổi thanh niên và đại bộ phận cha có nghề. Đây là những tỉ lệ vợt quá giới
hạn để đảm bảo an toàn xã hội.
Từ 1991 đến nay, nớc ta đạt mức tăng trởng kinh tế khá, tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) thời kỳ 1992 - 1996 tăng bình quân 7,9%/năm, lạm phát đợc
ngăn chặn lại, duy trì ở mức 1 con số, năm 1997 lạm phát là 4,5%/năm và năm
1998 là 3,6%/năm. Sức mua của đồng tiền đã đợc tăng lên, giá cả ổn định.
Từ năm 1998 là năm tình trạng thất nghiệp ở các thành phố tăng mạnh
hơn so với các vùng lãnh thổ.
11
Bảng: Tỉ lệ thất nghiệp của dân số trong độ tuổi lao động, hoạt động
kinh tế ở thành phố và các khu vực lãnh thổ.
( đơn vị: % )
Năm
Tỉ lệ TN
1995 1997 1998
Cả nớc 6.08 5,88 6,01
Hà Nội 7,62 7,71 8,56
Hải Phòng 7,87 8,11 8,09
Đà Nẵng 5,81 5,53 5,42
TPHCM 6,39 5,68 6,13
Miền núi trung du Bắc Bộ 6,85 6,42 6,34
Đồng bằng Sông Hồng 7,46 7,57 7,56
Bắc Trung Bộ 6,60 6,96 6,69
Duyên hải miền Trung 4,97 5,57 5,42
Tây Nguyên 2,79 4,24 4,99
Đông Nam Bộ 6,35 5,43 5,81
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt nam. Kinh tế Việt nam và thế giới 97 - 98
trang 23.
Số ngời thất nghiệp ở các đô thị chiếm tỷ lệ cao hơn thất nghiệp ở nông
thôn - Năm 1989 tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố là 13,2% và nông thôn là 4%
thì tới năm 1996 đã có sự thay đổi: ở thành phố con số này là 8% và ở nông
thôn là 4,8%. Trong mấy năm qua, tỷ lệ thất nghiệp cao ở lứa tuổi thanh niên
(từ 15 đến 30 tuổi), chiếm 85% tổng số ngời thất nghiệp và tăng dần.
12
Năm 1989 số ngời thất nghiệp ở lứa tuổi này là 1,2 triệu ngời.
Năm 1991 số ngời thất nghiệp ở lứa tuổi này là 1,4 triệu ngời.
Năm 1993 số ngời thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2 triệu ngời.
Năm 1994 số ngời thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2,3 triệu ngời.
Năm 1995 số ngời thất nghiệp ở lứa tuổi này là 2,21 triệu ngời.
Lao động thất nghiệp cao ở nhóm ngời có trình độ văn hoá thấp, trong
nhóm ngời cha tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Lao động thất nghiệp chiếm
6,12%; số tốt nghiệp phổ thông cơ sở thất nghiệp chiếm 4,93%; tốt nghiệp phổ
thông trung học chiếm 11,27%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm
2,53% và tốt nghiệp cao đẳng, đại học chiếm 2,25%.
Nh vậy, trình độ văn hoá của ngời lao động càng cao thì khả năng tìm
kiếm việc làm càng cao.
Là nớc nông nghiệp đang phát triển, nớc ta gần 80% lực lợng lao động
tập trung ở nông nghiệp. Thất nghiệp mang tính thời vụ, bán thất nghiệp là
phổ biến. Thiếu việc làm ở nông thôn do nguồn lao động ngày một tăng nhanh
trong lúc đó diện tích canh tác chỉ có hạn làm cho tỷ lệ diện tích theo đầu ngời
càng giảm. Năng suất lao động hiện còn thấp. Tình trạnh thiếu việc làm đầy
đủ còn phổ biến. Quỹ thời gian làm việc trong năm mới sử dụng đợc hơn 2/3
năm 1998, tỷ lệ thời gian là đợc sử dụng ở khu vực nông thôn nói chung đã đ-
ợc nâng cao hơn sơ với năm 1997. Tính chung cả nớc, tỷ lệ này đã tăng từ
72,1% đến 72,9%. Năm 1998, số ngời hoạt động kinh tế thờng xuyên thiếu
việc làm ở nông thôn đã giảm từ 27,65% của năm 1997 xuống còn 25,47%
(26,24%).
13
* Bảng: Mức tăng nguồn lao động nông nghiệp so với khối lợng công
việc gieo trồng qua các năm (đơn vị tính: nghìn ngời, nghìn ha %).
1985 1986 1987 1988
1. Ngời lao động nông nghiệp 18.808 19.787.8 20.246.4 20.890.7
- Tỷ lệ tăng hàng năm % 5,3 2,3 3,2
2. Diện tích gieo trồng 8.556.8 8.606.1 8.641.1 8.883.5
- Tỷ lệ tăng hàng năm % 0,6 0,4 2,8
Nguồn: PTS Nguyễn Quang Hiển: Thị trờng lao động: Thực trạng và
giải pháp. Nhà xuất bản thống kê, Hà nội 1991.
Theo tính toán của bộ lao động - Thơng binh xã hội, thời gian thiếu việc
làm của lao động nông thôn cả nớc trong một năm, nếu quy ra lao động lên tới
6- 7 triệu ngời không có việc làm. Đây là sự lãng phí về nguồn lực rất lớn ảnh
hởng tới nhiều mặt của đời sồng kinh tế - xã hội. Mặt khác năng suất lao động
ở các ngành nghề ở nớc ta thấp, số việc làm có hiệu quả thấp là chủ yếu, tính
bình quân năm 1993, một lao động công nghiệp làm ra 6.943.760 đồng GDP
và một lao động nông nghiệp làm ra 1.571.300 đồng GDP.
Năng suất lao động ở nớc ta quá thấp còn thể hiện ở tỷ trọng của lao
động trong nông nghiệp còn quá cao.
* Bảng: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, đến
1/7/1994 (nghìn ngời).
Tổng số Công Xây Nông Lâm Thơng Ngành
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét