tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 8|
Q
uê hương là một “mảnh tình riêng” đối
với mỗi nghệ só. Sinh ra và lớn lên ở Hà
Nội, Bùi Xuân Phái đã vẽ về phố cổ với
tất cả tình yêu quê hương của mình.
Cả cuộc đời cầm cọ, ông đã vẽ rất nhiều tranh
và ở nhiều thể loại khác nhau nhưng thành công
nhất vẫn là tranh sơn dầu tập trung vào đề tài
phố cổ Hà Nội. Tranh phố cổ của ông bắt nguồn
từ hiện thực Phố cổ Hà Nội thập niên những năm
50, 60, 70 còn mang đậm nét cổ kính. Có thể nói
rằng phố cổ đã trở thành người bạn tri âm của Bùi
Xuân Phái và ngược lại không biết tự khi nào Bùi
Xuân Phái đã trở thành một phần của phố cổ. Các
mảng mầu trên tranh Phái thường có đường viền
đậm nét. Phố cổ trong tranh ông không những
trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người,
từ bề mặt đến cảnh quan đều rõ chiều sâu bên
trong. Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem
nhận thấy họa só đă gửi gắm những kỉ niệm, những
hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng
khuân trên từng nét vẽ, như một dự báo tất yếu về
sự đổi thay và biến mất của nó.
phố Phái
Khám phá đầu tiên của hoạ só Bùi Xuân Phái về phố là bức sơn dầu
“Phố Hàng Phèn” (năm 1940), được vẽ trước khi ông vào học trường
cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Sau đó bức này được gửi tham dự
triển lãm Tokyo (Nhật Bản) và có người mua ngay lập tức.
bài
Bùi Thanh Phương |
ảnh
từ Phòng trưng bày tranh của Cố họa só Bùi Xuân Phái
Màu thời gian
trong tranh
Có thể chia ra mảng đề tài vẽ phố cổ Hà Nội
của Bùi Xuân Phái ra ba giai đoạn: Thời kỳ Nâu
(1960-1970), Thời kỳ Xám (1970-1980) và Thời kỳ
Lam (1980-1988)
.
Thời kỳ Nâu (1960-1970):
Có thể nói Thời Kỳ Nâu mang dấu ấn đặc trưng
nhất về phong cách, tinh thần của Bùi Xuân Phái.
Những bức vẽ trong thời kỳ này phản ánh khung
cảnh của phố cổ Hà Nội nguyên chất nhất, chưa
bò sửa sang, cơi nới. Cũng không lấy làm lạ khi
phần nhiều những người Hà Nội có tuổi và am
hiểu mỹ thuật thường yêu thích thời kỳ này hơn
cả, trong khi giới trẻ và người ngoại quốc lại nồng
nhiệt yêu thích Thời kỳ Lam.
Tranh ông trong giai đoạn này thường bàng bạc
nỗi buồn da diết, cô đơn, hoài cổ, như tiếc nuối
một thời tuổi trẻ đã mất, phố thường vắng bóng
người qua, các căn nhà có cửa mặt tiền luôn đóng
chặt với dáng vẻ trầm mặc, những mái nhà thâm
nâu của khu phố cổ im lìm dưới sức nặng của bầu
trời xám như dự báo một cơn giông sắp ập xuống.
Điều đặc biệt là các ô cửa chỉ được mô tả bằng
một vệt mầu thẫm.
Đây là thời kỳ sung sức và cũng khốn khó nhất
trong sự nghiệp nghệ thuật của Bùi Xuân Phái.
Ông bước vào cuộc chơi với hình và mầu trong giai
đoạn lòch sử trầm luân của đất nước, nên các tác
phẩm của ông nhuốm vẻ trầm buồn sâu xa, nét bi
ai, sự cô đơn khốn khổ. Tranh tựa như một phương
tiện giải tỏa ẩn ức nội tâm cũng như ý thức về sự
bất lực của ông trước thời cuộc.
Hiện nay, những bức tranh được các nhà sưu
Chân dung cố họa sỹ Bùi Xuân Phái
Phố (1968)
Màu thời gian trong tranh phố Phái
Nghiên cứu & Lý luận
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 10|
tập đặt giá cao nhất vẫn thuộc về những tác phẩm
được vẽ trong Thời Kỳ Nâu. Thí dụ như bức “Hà
Nội kháng chiến” (vẽ năm 1966) thuộc sưu tập
của Trần Hậu Tuấn đã được khởi giá là 200.000
USD trên trường quốc tế.
Thời kỳ Xám (1970-1980):
Không nên hiểu là hễ thấy bức mang tông
mầu nào là xếp nó vào thời kỳ đó. Thường thì các
chuyên gia chỉ cần thoáng nhìn đã biết ngay bức
tranh đó được vẽ vào thập niên nào, bởi ngoài
gam mầu và bút pháp, người ta còn căn cứ vào
cảnh và người trong tranh của ông.
Thời kỳ xám có điểm nổi bật nhất là trên phố
không còn người đàn ông mặc áo dài và cầm ô đi
trên hè phố nữa. Những người bán dong cũng có
trang phục khác, các ô cửa sổ được vẽ kỹ lưỡng và
chi tiết hơn, xe bò không được phép đi vào thành
phố nữa nên không hiện diện trong tranh ông.
Trong thập niên 70, họa só rơi và cảnh khó khăn,
ngặt nghèo cả về kinh tế lẫn tinh thần. Trong nhật
ký, ông từng viết: “Cuộc sống nào thấy gì vui?
Chỉ thấy kinh khủng và kinh khủng”. Thời kỳ
này Bùi Xuân Phái vẽ tranh phố cổ Hà Nội bằng
bột mầu, nhiều bức được vẽ trên giấy báo, được
thể hiện với gam mầu ghi xám. Phố trong tranh
ông đã bớt đi vẻ cô liêu, trầm mặc, nét vẽ tung
tẩy, nhẹ nhàng, nhiều bức phố của ông ngả dần
theo hướng trừu tượng, nhiều bức mang tính chất
thể nghiệm Đây là giai đoạn hưng phấn và được
sáng tác nhiều tranh cùng các đề tài khác trong
sự nghiệp của ông.
Thời kỳ Lam (1980-1988):
8 năm cuối cùng của cuộc đời, tác phẩm của hoạ
só Bùi Xuân Phái được mời đi triển lãm ở nhiều nước,
nên công chúng Việt và thế giới biết đến tên tuổi ông
nhiều hơn. Lúc này tranh phố của ông mới nhẹ nhõm
hơn, xuất hiện những gam mầu ấm của nắng, của tà
áo đỏ qua đường
Giá trò của các phố cổ là giá trò của thời gian lắng
đọng ở những mái ngói, những bức tường rêu phong
của chúng. Bùi Xuân Phái cũng đã từng nhận xét là
trong sự rêu phong cổ kính có “màu thời gian”. Thời
gian cũng đã làm cho các bức tranh của ông càng ngày
càng có giá trò ,từ chỗ mỗi bức chỉ đổi được vài lạng
cà phê, dăm bao thuốc lá dưới thời bao cấp, đến chỗ
mỗi bức là cả một gia tài theo qui luật “giá trò thặng dư
của thời gian”. Tuy nhiên, thời gian đã làm điều này
quá chậm đối với cá nhân Bùi Xuân Phái, hay nói cách
khác là ông đã không ở lại trần thế để thụ hưởng thành
quả lao động nghệ thuật của mình.
“Phố Phái” dù có xuất hiện con người hay không
đều có một không gian đặc biệt. Không gian ấy có
khi như chết lặng cùng thời gian, có khi lại như đang
chuyển động. Cảnh vật có thể hiện hữu ngay đấy
nhưng cũng có thể là thuộc về một thế giới khác - thế
giới tâm hồn Bùi Xuân Phái.
Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, ông đã được ghi
nhận là một họa sỹ bậc thầy trong làng hội họa Việt
Nam với một thứ ngôn ngữ hội họa mới mẻ. Hàng
ngàn bức tranh, hàng vạn ngôi nhà, hàng trăm bức
chân dung… dưới nét vẽ của ông đều mang thứ hồn
phách lạ kỳ, có tiết tấu riêng và ẩn chứa một tình yêu
thiết tha dành cho Hà Nội. Cũng bởi thế mà người yêu
tranh phố Phái muốn tìm và lưu giữ lại bút họa cùng
ông. Âu cũng là muốn gìn giữ cho muôn đời sau thấy
được vẻ đẹp của một Hà Nội có nét phảng phất u buồn
nhưng đầy hoài niệm, thân thương./.
Phố (1973)
Phố (1982)
Màu thời gian trong tranh phố Phái
Màu thời gian trong tranh phố Phái
Phố (1987)
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 12|
là “hình nghệ thuật” thực sự của tác phẩm. Trẻ
càng nhỏ càng ít quan tâm tới sự đánh giá thẩm
mỹ của người xem mà chỉ cố gắng truyền đạt,
giúp người xem hiểu được những suy nghó, thái
độ, tình cảm của mình qua những gì được miêu tả.
Cùng với tính duy kỉ, tính không chủ đònh cũng
là một đặc điểm tâm lý rất đặc trưng tạo cho tranh
vẽ của trẻ có vẻ hấp dẫn riêng. Do đó, trẻ chưa có
khả năng độc lập suy tính công việc một cách chi
tiết, các ý đònh miêu tả của trẻ thường nảy sinh
một cách tình cờ(2).
Ban đầu là những kiến thức, kỹ năng cơ bản,
theo thời gian, qua luyện tập, dần dần trẻ tích luỹ
được kinh nghiệm và phát triển khả năng thẩm
mỹ, năng khiếu thẩm mỹ. Thế giới trong mắt trẻ
thơ là một thế giới sinh động, rực rỡ sắc màu và
được trẻ thể hiện những điều trẻ muốn nói qua
những “tác phẩm nghệ thuật” mang dấu ấn của
riêng mình. Những gì trẻ miêu tả trong tranh vẽ
thể hiện trí tưởng tượng vô cùng phong phú, đáng
yêu và ngộ nghónh. Màu sắc, đường nét mà trẻ vẽ
nhiều khi phi lí, trái với thực tế nhưng lại vô cùng
có lí khi nghe trẻ lí giải. Ví dụ: trẻ vẽ những đường
ngoằn nghèo sau con gà và bảo đó là con gà đang
đi vệ sinh. Chúng ta thường có thói quen dùng
màu sắc thực tế để tô
màu nhưng với trẻ màu
sắc không nhất thiết là
màu xanh tô lá cây,
màu nâu tô cho mặt
đất , điều thú vò nhất
khi khám phá các tác
phẩm của trẻ là những
điều diễn giải thú vò
đằng sau những nét vẽ
ngộ nghónh, ngây thơ.
Khả năng thể hiện tư
duy hình tượng và xúc
cảm, tình cảm trong
tranh vẽ của trẻ được
phát triển theo từng
lứa tuổi.
Trẻ 3 tuổi là kiểu tư
duy trực quan- hành
động chuyển sang kiểu
tư duy trực quan - hình
tượng (chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài thành
những hành động đònh hướng bên trong theo cơ
chế nhập tâm). Tư duy của trẻ đã đưa vào những
hình ảnh hiện có trong óc chứ không chỉ dựa vào
những hành động diễn ra bằng tay(3).
Trẻ tư duy thế giới xung quanh bằng con mắt
ngây thơ trong sáng và non nớt. Khi có thể cầm
bút trong tay thì một trong những hoạt động thú
vò nhất của trẻ là nguệch ngoạc những hình thù
trên giấy. Trẻ vẽ không theo một tiêu chuẩn về kỹ
thuật như bố cục, phối màu hay phải giống thực.
Với những bức vẽ hình thù kì lạ lại là một thông
điệp hay một bản “mô tả bản thân” khá phong
phú. Qua đó trẻ bày tỏ một cách hoàn toàn vô
thức những gì các em đã thấy, đã hình dung và
cả những mong ước thầm kín của mình. Điều này
“thực” hơn rất nhiều những gì các em đã vẽ dưới
sự hướng dẫn của người lớn.
Khả năng sử dụng đường nét, hình dạng như
những phương tiện truyền cảm, thể hiện ở mức
độ tích cực và tương đối chuẩn xác trong việc thể
hiện các sự vật có hình dạng tròn, hình vuông,
hình tam giác, linh hoạt sử dụng phương thức vẽ
các sự vật đơn giản mà trẻ quan sát được trong
môi trường xung quanh. Mặc dù các hình vẽ ở độ
tuổi này tạo nên còn thật sơ lược, ấu tró và khó
hiểu đối với người lớn nhưng trong con mắt trẻ thơ
chúng lại rất sống động và như thật. Đây là một
đặc điểm mà người lớn cần chú ý tận dụng để
phát triển hứng thú, tư duy và tưởng tượng sáng
tạo của trẻ trong tranh vẽ(4). Ngoài ra ở lứa tuổi
này trẻ thường có xu hướng dùng màu tự do thể
hiện theo ý thích, không nhất thiết giống với màu
sắc của vật thật(5). Vì đặc điểm này mà xem tra-
nh trẻ em chúng ta có cảm nhận rằng, trẻ thường
phá vỡ hình ảnh trọn vẹn của sự vật thành những
bộ phận rời rạc khi chúng vẽ mỗi bộ phận, mỗi chi
tiết của hình vẽ bằng một màu khác nhau.
Trẻ 4 tuổi bắt đầu suy nghó, xem xét hoạt động,
lựa chọn phương pháp, phương tiện để giải quyết
nhiệm vụ tư duy sao cho phù hợp. Nhờ có sự phát
triển ngôn ngữ trẻ xuất hiện loại tư duy trừu tượng,
phần lớn trẻ đã biết khả năng suy luận. ở cuối tuổi
này trẻ thường sử dụng kí hiệu, sơ đồ để làm điểm
tựa. Hành động tư duy lô gíc phát triển nhờ khả
năng sử dụng kí hiệu dần dần trẻ đã có tư duy trừu
H
oạt động vẽ là một trong những nội
dung giáo dục thẩm mỹ nhằm phát
triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, thông
qua đó phát triển cảm giác, tri giác,
phát triển khả năng cảm thụ và khả năng sáng
tạo, đồng thời vẽ còn là sự biểu lộ thái độ, tình
cảm yêu ghét của trẻ đối với thế giới xung quanh.
Đối với trẻ, thế giới xung quanh thật mới mẻ
và lý thú, trẻ luôn muốn thông qua mọi phương
tiện để biểu đạt những cảm xúc của mình. Trong
điều kiện khả năng ngôn ngữ phát triển chưa hoàn
thiện thì hội họa là phương tiện để biểu đạt hiệu
quả nhất, lý thú nhất, đặc biệt là với trẻ ở gần tuổi
đi học lớp một. Hơn thế nữa, tranh vẽ cũng là một
phương pháp truyền đạt thông tin khá hiệu quả
của trẻ.
Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ đã tiếp thu một
lượng tri thức đáng kể về thế giới xung quanh do
trẻ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy và sờ thấy hoặc
do người lớn kể lại qua các câu chuyện, phim ảnh.
Từ đó thế giới biểu tượng của trẻ cũng phong phú
dần lên và làm nảy sinh tính ham hiểu biết, hứng
thú nhận thức, muốn khám phá những điều mới
lạ. Xuất phát từ đó trẻ bắt đầu quan tâm đến các
kiểu dáng, cách trang trí, thiết kế, bỗng kết hợp
lại với nhau và được trẻ thể hiện qua tranh vẽ
một cách trượng trưng. Những nét vẽ nghuệch
ngoạc, hồn nhiên, hết sức bình dò nhưng rất cần
thiết trong quá trình hình thành khả năng cảm thụ
cái đẹp và khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Từ
những nét vẽ, bức tranh đó chính là cảm xúc, tình
cảm là ước mơ mà trẻ đã thể hiện trên trang giấy.
Lứa tuổi mẫu giáo là lứa tuổi tràn ngập xúc cảm,
phát triển trí tò mò, trí tưởng tượng bay bổng, khả
năng liên tưởng mạnh. Vì vậy đây là giai đoạn tối
ưu, là “mảnh đất” màu mỡ để gieo hành vi sáng
tạo. Mọi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo,
sự sáng tạo của trẻ không giống sự sáng tạo của
người lớn. Sáng tạo của người lớn là tạo ra cái mới,
cái độc đáo, gắn với tính chủ đích, có tính bền
vững và thường là kết quả của quá trình nỗ lực
tìm tòi Sự sáng tạo của trẻ em lại khác, thường
bắt đầu bằng sự tái tạo, bắt chước, mô phỏng và
thường không có tính chủ đích. Sự sáng tạo của
trẻ em phụ thuộc nhiều vào cảm xúc, vào tình
huống và thường kém bền vững. Do đó tranh vẽ
của trẻ nhỏ chưa phải là những tác phẩm nghệ
thuật thực thụ. Một đặc điểm rõ nét trong tranh
vẽ của trẻ là tính duy kỉ. Tính duy kỉ làm cho trẻ
đến với tranh vẽ một cách dễ dàng: trẻ sẵn sàng
vẽ bất cứ cái gì, không biết sợ, không biết tới khó
khăn trong miêu tả. Càng nhỏ tuổi trẻ càng dễ
lựa chọn đối tượng miêu tả, bởi lẽ đối tượng đó
thường là cái trẻ thích, trẻ muốn chứ không phải
là cái dễ vẽ (1).
Mối quan tâm chính trong tranh vẽ của trẻ tập
trung vào sự thể hiện, biểu cảm chứ chưa phải
Tư duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo qua tranh vẽ
bài
Ngô Bá Công
Nghiên cứu & Lý luận
Tư duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo qua tranh vẽ
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 14|
mơ của mình qua những bức tranh trẻ vẽ.
Qua 3 lứa tuổi ta có thể thấy rằng khả năng cảm
nhận và thể hiện cách vẽ của trẻ có sự thay đổi rõ
rệt về cả tư duy cũng như trí tưởng tượng và sáng
tạo. Điều đó cho ta thấy hoạt động vẽ của trẻ mẫu
giáo là hoạt động trẻ sử dụng hệ thống các biểu
tượng mỹ thuật mang tính hình học không gian
đa dạng để thể hiện những cảm xúc và tình cảm
chính bản thân trẻ. Cảm nhận mỹ thuật qua tranh
vẽ vừa là sự cảm nhận về cái đẹp của tác phẩm
thông qua cảm giác và tri giác. Đồng thời vừa là
quá trình tiếp nhận vào bên trong của những cảm
xúc phán đoán. Vì vậy tranh vẽ có giá trò giáo dục
rất lớn đối với trẻ mẫu giáo.
Trẻ em nói chung đều thích vẽ tranh mặc dù đó
là những bức tranh vẽ theo cảm hứng, dẫu động
tác còn vụng về nhưng trẻ vẫn muốn thể hiện “tài
năng” của mình. Trẻ được tự do tưởng tượng, bộc
lộ niềm vui, ý thích của mình trong tranh vẽ. Cha
mẹ, cô giáo và cảnh vật luôn là đối tượng trẻ mu-
ốn thể hiện đầu tiên và là hình tượng nghệ thuật
quan trọng, có tác dụng gợi mở khả năng hội họa
của trẻ. Bồi dưỡng năng lực hội họa cho trẻ cần
được bắt đầu khi trẻ còn nhỏ tuổi. Người lớn cần
hướng dẫn trẻ vẽ một cách phù hợp, đúng với lứa
tuổi kết hợp với rèn kỹ năng cơ bản để khai thác
và phát huy được trí tưởng tượng sáng tạo cũng
như năng lực bên trong của trẻ. Những hoạt động
vẽ tranh đối với trẻ mẫu giáo vừa có giá trò giáo
dục sâu sắc, vừa tích hợp được tất cả các lónh
vực phát triển khác. Vì vậy các bậc cha mẹ không
nhìn nhận một cách phiến diện đối với những bức
tranh của con cái mình mà cần có thái độ ân cần,
quan tâm, hỏi han trẻ xem vì sao trẻ lại làm như
vậy, vẽ như thế có ý nghóa gì? Điều đó sẽ giúp
cha mẹ, cô giáo hiểu được những nhận thức, suy
nghó về thế giới xung quanh, từ đó giúp trẻ thể
hiện được sự hiểu biết phong phú về cuộc sống
đời thường thông qua những bức tranh của trẻ.
Đồng thời, vẽ tranh còn giúp trẻ có được những
giây phút thư giãn, sáng tạo cũng như khả năng
diễn đạt của trẻ. Chúng ta phải đặt mình vào vò trí
của trẻ, quan sát, tư duy theo cách của trẻ thì mới
hiểu được tranh của trẻ muốn nói gì./.
tượng- khái quát khi giải quyết các nhiệm vụ trí
tuệ(6). Nhờ đó trẻ đã bắt đầu hiểu được chức năng
thẩm mỹ của các đường nét, các hình dạng. ở tuổi
này, trẻ có khả năng phân biệt và học điều chỉnh
đường nét để vẽ nhiều loại hình học có quan hệ
gần gũi với nhau như hình tròn, hình ô van, hình
vuông, hình chữ nhật, các hình dạng tam giác
như cây, nhà, ô tô, con vật, nhân vật , khả năng
này tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng mở rộng phạm
vi các đối tượng miêu tả tự chọn. Tuy nhiên, các
hình vẽ của trẻ còn mang nặng tính lắp ráp và còn
gần gũi với các hình học cơ bản. ở lứa tuổi này,
trẻ vẽ màu tương ứng với màu của mọi vật trong
hiện thực. Trong quá trình vẽ, trẻ bắt đầu nhận
biết, phân biệt màu sắc thật của một số đồ vật,
hoa quả như một dấu hiệu bắt buộc, như nét đặc
thù của mọi vật và vẽ hình bằng màu “qui đònh
bắt buộc” đó mà không quan tâm tới sự biến đổi
màu sắc rất sinh động do đặc điểm chiếu sáng,
đặc điểm thời gian, không gian trong hiện thực(7).
Trẻ 5 tuổi hình thành kiểu tư duy mới- trực
quan sơ đồ giúp trẻ hiểu được những thuộc tính
bản chất của sự vật hiện tượng. Đây là một bước
ngoặt trong sự phát triển tư duy của trẻ chuyển từ
tính hình tượng sang tính trừu tượng(8). ở tuổi này
do sự phát triển về thể lực, cơ bắp và sự khéo của
vận động, trẻ đã có khả năng tạo nên các đường
nét với tính chất khác nhau khá phức tạp. Cùng
với sự tăng lên ngày càng phong phú của các
kinh nghiệm nhận thức, các ấn tượng, xúc cảm,
tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và
vẻ hấp dẫn của các hình vẽ khái quát với những
đường nét đơn điệu, sơ lược. Đặc biệt trẻ ở tuổi
này khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp
tính chất của đường nét và hình thể để thể hiện
hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng, sự
vật cụ thể. ở độ tuổi này nhiều trẻ đã có vốn hiểu
biết khá phong phú về cảm giác màu sắc, đã có
khả năng độc lập quan sát để thấy được vẻ linh
hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật
hiện tượng trong hiện thực và làm quen qua quá
trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc(9).
Tính tích cực quan sát, nhận thức chính là điều
kiện giúp trẻ biết sử dụng màu sắc một cách sinh
động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tra-
nh vẽ, qua đó mà biểu lộ suy nghó, tình cảm, ước
Tài liệu tham khảo
1 2.4.5.7.9. Lê Thanh Thủy. Phương
pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
mầm non. NXB ĐHSPHN. 2006.
3.6.8. Nguyễn ánh Tuyết, Nguyễn Thò
Như Mai, Đinh Thò Kim Thoa. Tâm lý
học trẻ em lứa tuổi mầm non. NXB ĐH-
SPHN. 2004.
10. Xem và dạy vẽ một số giờ năng
khiếu của 4 trường mầm non: Mầm non
Hoa Hồng, Mầm non Họa Mi. Quận Cầu
Giấy, Mầm non Đống Đa, Mầm non
Trung Tự .Quận Đống Đa.
Tư duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo qua tranh vẽ
Tư duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo qua tranh vẽ
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 16|
”Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Giáp Tết nên không khí khắp làng nhộn nhòp
lắm. Giấy màu phơi trên các bờ tường, góc sân
rực rỡ cả làng. Bây giờ số gia đình chuyên làm về
tranh Đông Hồ còn lại không nhiều, khiến những
gì còn lưu lại càng trở nên quý giá.
Không ai biết chính xác nghề tranh Đông Hồ ra
đời từ bao giờ, nhưng căn cứ vào các gia phả trong
làng thì muộn nhất là vào đời Lê, tức là cách đây
khoảng 500 năm. Đặc trưng làm nên nét riêng có
của tranh Đông Hồ là tranh bắt buộc vẽ trên giấy
dó. Giấy dó làm từ vỏ cây dó, phủ lên một lớp bột
làm từ vỏ điệp.
Màu để vẽ thì hoàn toàn làm từ chất liệu tự
nhiên như: màu xanh từ lá chàm, màu đỏ từ sỏi
son, màu đen từ than lá tre, màu vàng từ hoa hòe,
màu trắng từ vỏ điệp…Ban đầu tranh làm ra phần
nhiều mang màu sắc tín ngưỡng, dần dần mở
rộng để trang trí nhà cửa, phản ánh sinh hoạt đời
thường cũng như phản ánh ước mơ nguyện vọng
của nhân dân.
Về Đông Hồ, bạn còn có dòp đi qua những triền
đê quanh co, thanh bình với những lũy tre xanh
và cánh đồng rộng rãi. Từ đây còn có thể đi tham
quan một số nơi như chùa Dâu, chùa Bút Tháp,
lăng Kinh Dương Vương. Quả đúng với hình ảnh
làng quê Kinh Bắc yên bình trù phú thường biết
đến trong thơ.
Thời gian gần đây ngày càng có nhiều du khách
nước ngoài tìm đến với Đông Hồ. Làng Đông Hồ
đang cần được đánh thức, để mỗi du khách một
lần bước chân đến đây đều thấy cần phải quay trở
lại, như lời ca xưa nhắn nhủ:
“Dù ai buôn bán trăm bề
Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh”
./.
T
ranh Đông Hồ phản ánh cuộc sống hồn
nhiên và ước mơ giản dò của người dân
quê với hàng trăm mẫu tranh ở 5 loại
chính: Tranh thờ, tranh lòch sử, tranh
chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Đi từ
cuộc sống lao động, lại được những bàn tay nghệ
nhân tinh tế phản ánh, tranh Đông Hồ sống động
và rất có hồn.
Cái rét ngọt cuối năm không làm vơi đi niềm
nao nức, cho chúng tôi tìm về làng Đông Hồ (xã
Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) -
vùng đất đã nổi tiếng suốt 5 thế kỷ qua với một
dòng tranh dân gian được coi như di sản văn hóa
không thể thiếu của người Việt.
Qua chợ Hồ, triền đê đầy gió đưa chúng tôi đến
làng tranh nằm nép mình thơ mộng bên dòng
sông Đuống - cái miền quê nhỏ bé đã trở thành
cảm hứng của bao nhà thơ tên tuổi: Tú Xương,
Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Ngô Văn Phú, Chế
Lan Viên
HOÀI CỔ VỚI TRANH
ĐÔNG
HỒ
bài
Tùng Lâm
Mỹ thuật Việt
Hoài cổ với tranh Đông Hồ
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 18|
để khi nhắc đến, người mê tranh có thể biết được.
Nhưng có thể nói đặc điểm nổi bật làm nên nét
riêng của tranh Đông Hồ đó là tranh in trên giấy
điệp bằng những bản khắc. Những nghệ só sáng
tác tranh dân gian sử dụng tính ước lệ trong bố
cục cũng như trong cách miêu tả về hình khối và
màu sắc, do đó khi xem tranh ta thường bắt gặp
cái thú vò ở những nét ngây ngô đơn giản và gần
gũi với cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà khi xem
tranh, người xem có thể thấy nét bình dò nhưng
mang đậm tình quê hương, xứ sở.
T&S: Xưa kia, làng Hồ vốn ở ngoài bãi ven sông
Hồng, làng thường bò lụt nên các bản khắc để in
tranh và đồ nghề làm tranh thường bò nước lũ cuốn
trôi. Một nguyên nhân nữa khiến cho những bản
khắc tranh không còn đó là quá trình hội nhập các
nền văn hóa từ nước ngoài vào khiến cho tranh
Đông Hồ bò bỏ quên một thời gian khá dài. Đó có
phải là nguyên nhân để ông cố công khôi phục và
phát triển dòng tranh của quê hương mình?
NN-NĐC: Đúng là tranh Đông Hồ đã trải qua
biết bao khó khăn bởi những biến đổi của thiên
nhiên và của lòch sử. Tôi là người con của làng Hồ,
ngay từ khi mới sinh ra đã quen với tiếng giã giấy,
tiếng đục gỗ làm bản khắc. Lên 10 tuổi tôi đã được
đến chợ tranh họp tại đình làng vào dòp Tết đến
Xuân về. Gia đình tôi đến bây giờ cũng đã có 20
đời làm tranh. Có thể nói những thăng trầm của
làng tranh đã ảnh hưởng rất lớn đên cuộc sống
của gia đình tôi. Khi nghề làm tranh bò mai một,
tôi cũng đã suy nghó để làm sao gìn giữ được nghề
mà cha ông để lại, cũng là để lưu giữ lại một nét
văn hóa làng Hồ. Năm 1980, khi nghỉ hưu tạiNXB
Văn hóa dân tộc (nay là NXB Văn hóa - Thông tin)
trở về làng, tôi đã lặn lội mua lại những bức tranh
cổ còn lưu lạc đâu đó trong các nhà dân, từ những
bức tranh đó, tôi nghiên cứu để về phục chế lại
những bản khắc gỗ. Đến nay, ngoài những bản
khắc cổ quý giá, số bản khắc mà tôi sưu tầm và
chế tác đã hơn 1.000 bản.
T&S: Bằng chính tình yêu và tâm huyết của
mình và cũng bắt nguồn từ ý tưởng phát triển
dòng tranh này, ông đã thành lập “Trung tâm
giao lưu văn hóa dân gian tranh Đông Hồ” ngay
chính mảnh đất đã sản sinh ra dòng tranh dân
gian Đông Hồ nức tiếng một thời?
NN-NĐC: Có thể nói, đây là công sức hơn 30
năm qua của tôi và cả gia đình. Ý tưởng thành lập
trung tâm cũng bắt nguồn từ mong muốn gìn giữ
những bức tranh của làng Hồ. Nhưng, chỉ lưu giữ
không thì đến một ngày nào đó, tranh Đông Hồ
sẽ chỉ còn tồn tại trong các viện bảo tàng mà thôi.
Chính vì vậy, tôi xây dựng trung tâm với mô hình
vừa là nơi trưng bày, vừa là nơi sản xuất và giới
thiệu 180 loại tranh khác nhau. Du khách khi đến
với trung tâm vừa được xem tranh, vừa được xem
cách làm tranh qua từng công đoạn.
T&S: Phát huy tính dân tộc vốn có trong tranh
Đông Hồ cộng với kiến thức mỹ thuật học được tại
Trường Mỹ nghệ Đông Dương (nay là Đại học Mỹ
thuật công nghiệp) ông đã vẽ được tất cả 15 bức
tranh trên chất liệu tranh dân gian Đông Hồ đã
ghi dấu ấn cái tên Nguyễn Đăng Chế trong lòng
những người yêu tranh Đông Hồ. Vậy hiện nay,
ông đã làm gì để khơi mạch sống cho dòng tranh
dân gian này?
NN-NĐC: Đây chính là điều tôi trăn trở nhất từ
khi có ý thức phát triển lại nghề tranh Đông Hồ.
Tranh muốn sống được thì ngoài giá trò về văn
hóa, còn phải gần gũi và gắn liền với cuộc sống
của con người. Ngoài những bức tranh được in
trên giấy truyền thống, tôi còn in thành các tấm
thiệp nhỏ bằng bàn tay để tiện sử dụng và không
kém phần tinh xảo, lại có những bức tranh khổ to,
để trong khung kính với đường viền tinh tế tạo cho
người xem cảm giác vừa sang trọng nhưng cũng
không mất đi tính dân dã vốn có của tranh Đông
Hồ. Tôi còn đóng tranh thành những quyển lòch
bằng mành trúc vừa độc đáo vừa có giá trò sử dụng
cao. Có rất nhiều khách du lòch nước ngoài đến
trung tâm để mua những sản phẩm này. Điểm
đáng mừng nữa là trung tâm đã nhận được những
hợp đồng xuất khẩu tranh ra nước ngoài. Nhưng
đó chỉ là những khởi đầu để phát triển nghề tranh,
còn lâu dài, tôi muốn cho mọi người hiểu biết về
giá trò của tranh nên đã biên soạn cuốn sách gần
300 trang, xuất bản bằng song ngữ Anh - Việt với
mục đích giới thiệu những giá trò đặc sắc của dòng
tranh dân gian Đông Hồ tới đông đảo công chúng
trong và ngoài nước. Hy vọng những việc tôi làm
ngày hôm nay sẽ góp phần phát triển nghề tranh
Đông Hồ./.
T&S: Xin ông cho biết những nét riêng biệt của
dòng tranh Đông Hồ so với những dòng tranh dân
gian khác của Việt Nam?
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế (NN-NĐC): Tranh
Đông Hồ là một trong 3 dòng tranh dân gian tồn tại
ở miền Bắc Việt Nam. Trải qua những biến cố lòch
sử, mỗi dòng tranh có số phận riêng, trong đó tranh
Đông Hồ hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian
Đông Hồ đã chứng minh được sức mạnh trường tồn
của nó để tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Có
thế nói mỗi dòng tranh đều có những đặc điểm riêng
Trò chuyện với nghệ nhân
NGUYỄN ĐĂNG CHẾ
Người khơi mạch cho tranh Đông Hồ
M
ột dòng tranh dân gian có tuổi vài trăm năm không hề thuộc về quá khứ, mà vẫn
vươn lên bám sát thời cuộc, để lại những thành tựu nhất đònh trong mỗi thời kỳ, từ
thời Pháp thuộc đến thời chống Pháp và chống Mỹ. Các bức tranh Đông Hồ thời
cận - hiện đại này ít nhiều đã ghi đậm dấu ấn cá nhân của những người sáng tác
chúng - những nghệ nhân không còn khuyết danh nữa, mà đã có tên tuổi hẳn hoi.
Để hiểu thêm về vấn đề này phóng viên TT&VH đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Đăng
Chế - một nghệ nhân không những đang làm sống dậy nghề tranh Đông Hồ mà còn chính là
người đã sáng tác nhiều bức tranh Đông Hồ thời chống Mỹ.
bài & ảnh
Dương Khánh Chi
Mỹ thuật Việt
Trò chuyện với Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 20|
Nguyễn Thanh Hoa: Tất cả các tác phẩm sáng
tác của tôi đều vẽ nude. Tôi không bao giờ vẽ mặc
quần áo. Tôi muốn giữ nguyên cái hình hài nguyên
sơ của con người. Tôi có một thói quen có thể hơi
khác người. Khi ngồi trước một ai đó, tôi hình dung
thế giới bên trong của họ. Tôi luôn bóc tách các
trạng thái cảm xúc của con người để hiểu thế giới
tinh thần của họ. Vì vậy, tôi có thể vẽ nude một
người hoàn toàn xa lạ theo tưởng tượng của tôi.
* Có họa só nói rằng, nếu ai đó tung hô vẽ nude
mà không cần có lửa của sự say mê mãnh liệt là
nói dối?
Lê Thiết Cương: Điều đó đúng quá rồi. Người
họa só không có sự say mê mãnh liệt thì đừng vẽ
đề tài này. Một họa só nổi tiếng người Áo đã viết
về tranh nude như thế này: “Thực khó mà rạch ròi
đâu là mỹ cảm, đâu là nhục dục”. Hai yếu tố này
phải hòa trộn nhuần nhụy với nhau mới tạo được
một tác phẩm nude đẹp. Tôi đề cao yếu tố nhục
cảm trong tranh nude. Nếu vẽ nude mà không
có đặc thù của nó thì vứt. Có thể ví thô thiển như
thế này, nó cũng tựa như như ăn một bát phở rất
hợp vệ sinh nhưng dở ẹt, chẳng có mùi vò gì cả.
Yếu tố nhục cảm trong tranh nude không phải là
sự ham muốn nhục dục giữa nam và nữ, giữa họa
só và người mẫu, mà cao hơn thế là sự khao khát
vươn tới cái đẹp của tạo hóa, của con người. Sex
đâu có xấu. Yếu tố thứ hai phải là mỹ cảm mỹ
thuật, tức là thứ mỹ cảm được nâng lên thành
cảm hứng sáng tạo cho người nghệ só chứ không
dừng lại ở những cảm xúc về cái đẹp như ở người
thưởng thức.
Đỗ Sơn: Tôi nhớ lần đầu tiên được vẽ mẫu nude
khi còn trong trường đại học, khi đó tôi cảm thấy
rung động mãnh liệt Khi tôi “cảm” một ai đó, tôi
hỏi thẳng họ có thể làm mẫu cho tôi không. Nếu
họ đồng ý tôi đưa họ về xưởng vẽ. Người phụ nữ
luôn làm tôi say mê vì đằng sau vẻ đẹp tạo hình
của họ là những thế giới rất riêng, những thuộc
tính rất riêng. Đôi khi chỉ một giọng nói, một ánh
mắt, một cử chỉ, hay một dáng đi của họ cũng đủ
khơi lên ngọn lửa đam mê được cầm bút vẽ của
người họa só và chính điều đó tạo nên sự khác biệt
giữa các người mẫu trong các tác phẩm nude của
tôi.
T&S: Các nam họa só cho rằng sự đam mê là
chất kết dính người họa só đến với tranh nude, vậy
thì điều gì hấp dẫn các nữ họa só theo đuổi đề tài
này?
Lê Thiết Cương: Nếu nói phải có đam mê khi vẽ
tranh nude thì không đúng, như vậy thì tôi đã ôm
rất nhiều người vào lòng (cười). Nói đùa thôi, với
tôi, đôi khi vẽ nude là sự khám phá chính mình.
Nếu nhìn theo cách tục thì kể cả một cô gái mặc
áo hai dây vẫn bò coi là tục, còn nếu nhìn sự vật,
hiện tượng theo đúng bản chất của nó thì rất bình
thường.
Lý Trần Quỳnh Giang: Trong mỗi người con gái,
hay một người đàn bà đều có nhu cầu khám phá
chính bản thân mình. Khi nhu cầu ấy đòi hỏi dữ
dội buộc người họa só phải cầm bút vẽ. Trên thế
giới có một nữ họa só vẽ nude chính thân thể bà
bò nhiều nhát dao đâm trên người. Gần đây có
Họa só với mỹ cảm
L
ê Thiết Cương đã quyết đònh gây “sốc”
những người yêu hội họa bằng một cuộc
triển lãm tranh nude tại tư gia của anh
vào ngày 11.11 tới, với các tác phẩm
của nhiều tên tuổi như Bùi Xuân Phái, Lưu Công
Nhân, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Quân, Đỗ Sơn,
Dương Minh Long, Trần Huy Hoan trong đó có
hai nữ họa só còn rất trẻ Nguyễn Thanh Hoa và Lý
Trần Quỳnh Giang. Hãy nghe họ tâm sự về mảng
đề tài “tế nhò” này.
T&S: Từ cổ chí kim, nude luôn là mảng đề tài
hấp dẫn đối với giới họa só, và có nhiều người đã
yêu, đã say đề tài này
Đỗ Sơn: Sinh viên mỹ thuật nào khi nhập môn
vào nghề họa cũng đều phải vẽ nude và đó là
nguyên nhân mà họa só nào cũng “chạm” tay vào
mảng đề tài này. Tôi vẽ nude từ năm 1994, và cho
đến bây giờ tôi vẫn thích vẽ nude. Bức tranh đầu
tiên của tôi có tên là Tắm tiên. Nhà tôi ở Bắc Ninh
có con sông Cầu thơ mộng chảy quanh. Từ xa
xưa, cứ mỗi buổi chiều những người phụ nữ trong
làng thường ra tắm sông - những mảng hình khối
tuyệt vời của tạo hóa, một vẻ đẹp mà bất cứ ai
cũng cảm nhận được. Tôi luôn khao khát được thể
hiện những cảm nhận của tôi về vẻ đẹp ấy bằng
hình khối và những sắc màu. Đến nay tôi đã có
trên 100 bức tranh nude, không kể con số lẻ.
Lê Thiết Cương: Tôi vẽ nude từ lâu, lâu lắm.
Bức tranh đầu tiên Mất ngủ, tôi vẽ một người đàn
bà đang nằm ngủ nhưng dáng vẻ trằn trọc, thao
thức. Tôi đã vẽ trên dưới 60 bức tranh nude, trong
đó có một số bức là sex.
nude
Các họa sỹ: Lý Trần Quỳnh Giang, Đỗ Sơn, Nguyễn Thanh Hoa, Lê Thiết Cương
Mỹ thuật Việt
Họa só với mỹ cảm nude
Nude,
Sơn
dầu
của
Lý
Trần
Quỳnh
Giang
bài
Thu Hồng
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 22|
nghệ thuật cao, tư duy tạo hình và cảm xúc thẩm mỹ
mạnh mẽ, tiêu biểu cho hội họa Việt Nam.
Triển lãm này cũng là kết quả của sự phối hợp chặt
chẽ giữa các tổ chức và cá nhân ba nước Việt Nam,
Nhật Bản, Hàn Quốc, góp phần tích cực vào việc thúc
đẩy sự hiểu biết và giao lưu văn hóa giữa nhân dân
các nước, đồng thời đưa ra thông điệp về hòa bình cho
Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Triển lãm sẽ chia thành hai đợt, đợt 1 từ 13-3 đến
25-4, đợt 2 từ 1-5 đến 11-7./.
một số họa só trẻ cũng vẽ theo phong cách này.
Tôi không có cảm giác khi xem những bức tranh
này vì nó có phần “gồng” lên thái quá. Người phụ
nữ Á Đông không quằn quại dữ dội như phụ nữ
phương Tây, họ sống lặng lẽ và cam chòu.
T&S: Hễ nói đến nude người ta thường nghó đến
mẫu nữ, các nữ họa só đã “thử” khám phá vẻ đẹp
nam tính từ các mẫu nam chưa?
Lý Trần Quỳnh Giang: Quả là không có sự
công bằng về mẫu nam. Hơn chục năm nay đã
có nhiều họa só vẽ nude với mẫu nam nhưng dư
luận xã hội tỏ thái độ “tẩy chay”, có lẽ vì thấy
mẫu nam chưa “thuận mắt” hoặc có vẻ bạo liệt
quá Phải công bằng với mẫu nam chứ, họ cũng
có vẻ đẹp tạo hình rất hấp dẫn. Bản thân tôi cũng
vẽ mẫu nam, tôi vẫn e dè khi động chạm đến đề
tài này. Nhiều bạn bè tôi cũng muốn vẽ mẫu nam
nhưng dư luận xã hội làm cho họ “cụt” hết hứng
thú sáng tác.
T&S: Lại nói về vấn đề dư luận xã hội. Trong
mảng đề tài về tranh nude, các họa só có “ngại”
rằng người xem không đồng cảm với mình?
Nguyễn Thanh Hoa: Nude đâu có tội tình gì, tôi
vẽ nude và chẳng cảm thấy có gì xấu, tục tằn,
mà rất bình thường. Nếu người họa só vẽ nude
bằng sự chân thành, trung thực với bản thân mình
thì không sợ người xem không hiểu, không cảm
với tác phẩm của mình. Tháng tư vừa rồi tôi làm
cuộc triển lãm đầu tiên với phần lớn là tranh nude,
có rất nhiều người đến xem, trong đó có cả giáo
viên, nhiều người nói rằng họ thích các tác phẩm
của tôi. Phổ cập mỹ thuật của chúng ta hiện nay
còn khá thấp, nếu người ta có một phông văn hóa
nhất đònh thì việc cảm nhận tranh nude không có
gì đáng bàn. Không nên né tránh nude bởi nó là
một mảng của đời sống.
Lý Trần Quỳnh Giang: Quả thực có nhiều người
vẽ nude dung tục, thiên về tính dục hoặc vì một
động cơ nào đó. Tôi rất thích vẽ nude vì mảng đề
tài này phóng khoáng, hợp với lối vẽ biểu hiện của
tôi. Bản thân tôi không sợ điều gì khi vẽ nude vì tôi
vẽ nude đã nhiều năm, nếu đi sâu vào mảng đề
tài này rất thú vò. Tranh nude của tôi không có tính
dục mà cô đơn một cách trần trụi. Những người
đàn bà vật vã trong khối ru-bích đa chiều của thế
giới nội tâm.
Đỗ Sơn: Tôi không ngại người xem không tìm
được tiếng nói đồng điệu với tôi, vì những rung
động của tôi rất người, rất tự nhiên và trong sáng.
Các bức tranh nude của tôi được tạo tác theo nhòp
điệu của tạo hình với những mảng màu sắc mạnh,
táo bạo chứ không phải theo lối mô tả hiện thực.
Lê Thiết Cương: Tranh nude không phải là một
câu chuyện mới mẻ gì, từ cổ đến kim người ta
đã vẽ nude, tuy nhiên ở Việt Nam tranh nude chỉ
phát triển khi người xem khắc phục được tâm lý
“tự sợ”. Tâm lý “tự sợ” trong phần đông công
chúng đã gây áp lực không nhỏ cho người họa só.
Chính vì vậy tôi mong muốn trong cuộc triển lãm
nude sắp tới này, chúng tôi sẽ “kéo” được người
xem cùng chúng tôi đi tìm tiếng nói đồng điệu của
nghệ thuật./.
Họa só với mỹ cảm nude
Nude, Đỗ Sơn Nude, Lê Thiết Cương
Mùa thu thiếu nữ. Tranh: Dương Bích Liên
Tin tức
Tranh 3D lớn nhất thế
giới
Một bức tranh 3D vô cùng ấn tượng
với diện tích 892m2 trên một con
đường của thành phố Trùng Khánh,
Trung Quốc vừa được xác lập kỷ lục
là lớn nhất thế giới.
Đây là tác phẩm của một họa só
Trung Quốc tên Tề Hưng Hoa. Bức
tranh có tên là Shimen Xiagu (hay
Lions gate gorge - Vực cổng sư tử),
dài 32,2m, rộng 23,3m. Những bức
tường trong bức tranh này cao khoảng 6,09m. Bức
tranh khiến người xem có cảm giác như đang đứng
cheo leo trên một sợi dây thừng, ở giữa là khoảng
không, còn hai bên là thác nước.
Tề Hưng Hoa đã hoàn thành bức tranh này một
tháng. Sau khi ra mắt, bức tranh đã đi vào sách kỷ
lục Guinness với tư cách là bức tranh 3D lớn nhất thế
giới. Tranh sẽ được trưng bày trên đường phố Trung
Quốc trong 15 ngày./.
Triển lãm tranh Việt Nam
tại Hàn Quốc
100 bức họa của 25 họa só, trong đó có những
tên tuổi lớn của hội họa Việt Nam như Dương
Bích Liên, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng,
Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn, Linh Chi,
Lưu Văn Sìn đang được trưng bày tại Bảo
tàng Nghệ thuật thành phố Busan (Hàn Quốc)
trong khuôn khổ Triển lãm nghệ thuật đương
đại Việt Nam tại Hàn Quốc.
Đây là những tác phẩm xuất sắc được lựa
chọn trong số 374 tác phẩm thuộc bộ sưu tập
HUOEI, do hai nhà sưu tập Nhật Bản là Ito Toy-
ochiki và Ito Tamiko ký thác và gửi tặng Bảo
tàng Nghệ thuật thành phố Busan. Nhà sưu
tập Ito Toyochiki đã dành hơn 20 năm để sưu tập các
tác phẩm nghệ thuật Việt Nam.
Các nhà phê bình nghệ thuật Hàn Quốc đánh giá
cao các tác phẩm hội họa đương đại Việt Nam, đã kết
hợp hài hòa giữa nghệ thuật truyền thống, bản sắc
dân tộc và kỹ thuật tạo hình phương Tây, do vậy có
một vò trí rất độc đáo trong lòch sử nghệ thuật đương
đại châu Á.
Những tác phẩm này bao gồm các thể loại như tranh
vẽ, sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ ; mô tả phong cảnh,
đời sống thường nhật, các sự kiện lòch sử, văn hóa
và truyền thống của dân tộc Việt Nam; có chất lượng
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 24|
“hoàn toàn vắng bóng triết lý, tôn giáo và nghệ
thuật, thiếu thơ mộng, không mang thông điệp tin
yêu và không nối gót truyền thống của cái đẹp”
lắm lúc lại “phất” hơn giá trò thực của nó rất nhiều.
Điều đáng nói là những năm đầu thời kỳ đổi
mới, mỹ thuật VN đã nắm bắt được ngọn nguồn
tươi mới và sáng tạo, nhất là trong mảng mỹ thuật
dân tộc, thì càng về sau, những người làm mỹ thu-
ật trẻ ào ạt chọn những
hình thức nghệ thuật
mới như pop art hoặc
là sắp đặt và trình diễn,
video art, mà những hình
thức này chỉ mới được
tiếp cận trên thông tin
cóp nhặt là chính chứ
chưa có những cơ sở lý
luận vững chắc. Tính
chuyên nghiệp của nghệ
só đương đại cũng vì thế
được nhận đònh là yếu,
tác động không nhỏ tới
hình ảnh năng động, có
chất lượng của mỹ thuật
VN đương đại.
Một trong những ví dụ
nóng hổi về sự say sưa
tìm tòi hình thức mới là
màn trình diễn nude với
tên gọi Bay lên của họa
só Lại Thò Diệu Hà tại
chương trình nghệ thu-
ật đương đại với tên gọi
IN-ACT. Trong màn trình
diễn này, nữ họa só ngồi
trên một tấm thảm lông
gà lông chim nhuộm
xanh, từ từ cởi hết quần
áo ra, bôi keo lên tấm
thân trần trụi và nằm
lên thảm cho lông chim
nhuộm xanh dính lên người như một tấm choàng
voan chỗ thưa chỗ dày, chỗ kín chỗ hở rồi bước đi
quanh phòng như người mẫu trình diễn trước khán
giả. Cuối cùng, họa só để con chim nhỏ vào miệng
rồi phóng sinh cho nó bay đi. Cuộc trình diễn này
đã vấp phải những ý kiến trái chiều, chưa phân
thắng bại.
Mặc dù sự tìm tòi còn bất cập và thường gây
nhiều tranh cãi, chúng ta vẫn có quyền hy vọng
vào các họa só trẻ VN, họ muốn có những loại hình
nghệ thuật giúp họ bộc lộ được cảm xúc của xã
hội đương đại mà họ đang sống. Nếu chúng ta
giật mình trước con số hơn 5.000 họa só VN với
công việc chính là kẻ vẽ, vẽ bìa sách, vẽ quảng
cáo thì cũng có thể hy vọng về 200 họa só bán
được tranh và tự hào về 20 họa só giàu có vì bán
tranh. Nhưng không vì thế mà có thể phủ nhận
thực tế như họa só Nguyễn Xuân Tiệp, nguyên Phó
GĐ Bảo tàng Mỹ thuật VN nhận đònh: “Trên thò
trường tranh VN, các tác phẩm chủ yếu nghiêng
về thương mại mà thiếu chú ý tới chất lượng. Việc
xây dựng một thò trường tranh nội đòa cũng là một
vấn đề nhức nhối, bởi muốn nghệ thuật phát triển
thì cần phải có sự quan tâm của chính người dân
bản đòa, vì chính họ là tác nhân quan trọng giữ
gìn và quảng bá nghệ thuật của người Việt. Việc
không có thò trường nội đòa sẽ làm chậm sự công
nhận ở quốc tế đối với nghệ thuật VN”. Hơn bao
giờ hết, ngay lúc này, vấn đề trọng tâm của những
nhà quản lý mỹ thuật là ngăn chặn hiện tượng
“chảy máu chất xám” của mỹ thuật VN.
“So về chuyên môn nghệ thuật, hội họa VN
được đánh giá cao hàng đầu khu vực”, họa só
Đặng Xuân Hòa, một trong những họa só có số
tranh ở các bộ sưu tập nước ngoài với giá cao nhất
hiện nay phản bác lại ý kiến tranh Việt đang rớt
giá và cũng theo họa só này, “giá tranh Việt không
thể tăng lên nếu không có những nhà đầu tư trong
nước”. Đó phải chăng là một gợi dẫn có tính mở
vì một nền mỹ thuật đương đại Việt Nam đang
khao khát được vươn cao. Việc sớm hình thành
các trung tâm hoặc hãng đấu giá tranh nghệ thuật
trong nước, việc tìm được điểm gặp gỡ, trao đổi
nghệ thuật, thể nghiệm sự sáng tạo của những
họa só trẻ, những người yêu hội họa và nhất là các
chuyên gia thẩm đònh tác phẩm mang tính pháp
lý là những hoạt động kết hợp mang lại hiệu quả
cao, tạo được niềm tin cho khách khảo cứu tranh,
mua tranh hay đơn giản chỉ là thưởng thức tranh.
Hơn tất cả những giải pháp trên, tinh thần tự
học, dám thể nghiệm, dấn thân là điều cần có ở
các họa só VN để mỹ thuật nước nhà có bản sắc
riêng trong nền mỹ thuật đương đại thế giới./.
V
iệc xây dựng một thò trường tranh nội
đòa đang là một vấn đề nhức nhối hiện
nay vì nếu không có sự quan tâm của
chính người dân bản đòa - tác nhân quan
trọng của sự giữ gìn và quảng bá nghệ thuật của
người Việt - thì nghệ thuật không thể phát triển.
Những năm gần đây, giới họa só nước ta không
khỏi xót xa khi thò trường tranh Việt bò báo động
đỏ là “mang giá trò ảo”, “đang bò đóng băng” và
chưa đủ “nhiệt” để phá băng. Thò trường mỹ thu-
ật mấy năm gần đây khá trầm lắng, các gallery
Việt hầu như phải gồng mình lên, phải tự thân
vận động. Những tác phẩm nghệ thuật đích thực
nhiều khi bò lãng quên, công chúng kém mặn mà.
Trong khi những tác phẩm nghệ thuật được coi là
Tranh Việt đang mang “giá trò ảo”
Tranh Việt đang mang “
giá trò ảo
”
bài
Thụy Điển |
ảnh
abcview@gmail.net
Tranh Việt đang mang “giá trò ảo”
Một phòng
tranh trên
phố Tây,
đường
Phạm Ngũ
Lão, Quận I
tranh sa ùch
&
|No.03/2011 | Trang 26|
Toba Mika
16 năm vẽ
Việt Nam
trên tranh nhuộm
T
heo đánh giá của Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam: Trong nhiều nhân tố
giúp quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển, sự tương đồng và hợp tác trên
lónh vực văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng. Một trong những nhân vật có
nhiều đóng góp trong hoạt động giao lưu văn hóa giữa hai nước là họa só nổi
tiếng Toba Mika - giáo sư Trường Đại học Kyoto Seika, Nhật Bản.
Từ năm 1994, nữ họa só Nhật Toba Mika theo đuổi đề tài duy nhất: Việt Nam, một
Việt Nam chuyển động nhưng tónh lặng, trên mặt tranh nhuộm katazome truyền thống
Nhật Bản.
Triển lãm “Nara và Hà Nội - kết nối những kinh đô vónh hằng” của Toba Mika, một
họa só Nhật có tình cảm sâu đậm với Việt Nam, được tổ chức nhân kỷ niệm 1.300 năm
cố đô Nara của Nhật Bản và 1000 năm Thăng Long Hà Nội.
Toba Mika đến Việt Nam từ năm 1994, sau khi đã đi qua một số nước Nam Á. Theo
nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, đó là thời điểm họa só đang gặp bế tắc khi
sáng tác ở Nhật.
Khi đến Việt Nam, cô đã tìm thấy ở xứ sở này một cuộc sống sôi động, những mâu
thuẫn lý thú, những biến chuyển linh hoạt vốn không còn tồn tại trong một đất nước phát
triển như Nhật Bản. Điều này đã khiến nữ họa só đạt được thành công khi sáng tác về
Việt Nam trong khi không đạt được kết quả tương tự khi còn ở Nhật Bản.
Trong cả sự nghiệp sáng tác 20 năm của mình, Mika vẽ được trên dưới 100 bức tranh
Đường tàu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét