1.2.2.Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định đầu tư, công trình được ghi
vào trong kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư cho đến khi xây dựng xong toàn bộ
công trình.
Nội dung của giai đoạn này:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn giám định kỹ thuật
chất lượng công trình
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình: Tất cả các dự án đầu tư xây
dựng thuộc mọi nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được cơ quan
chuyên môn thẩm định thiết kế trước khi xây dựng. Nội dung thẩm định
trên một số mặt: sự tuân thủ các tiêu chuẩn, qui phạm trong thiết kế kiến
trúc, công nghệ, kết cấu …
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
- Xin giấy phép xây dựng: Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo sửa
chữa, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây
dựng
- Kí kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án
- Thi công xây lắp công trình
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án
vào khai thác sử dụng: Việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng được tiến
hành hàng năm trong thời gian xây dựng. Khi dự án hoàn thành thì chủ
đầu tư phải báo cáo quyết toán vốn đầu tư cho cơ quan cấp phát hoặc cho
vay vốn và cơ quan quyết định đầu tư .
khi quyết toán phải qui đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị thời
điểm bàn giao đưa vào vận hành
1.2.3. Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận
hành đạt thông số đề ra trong dự án đến khi thanh lý dự án.
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán
2. Vai trò của ngành Thuỷ lợi đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta
2.1.Khái niệm:
Theo thống kê điều tra ngày 1/4/1999 dân số nước ta là 76.324.753 người
trong đó có 37.519.754 nam (chiếm 49,2%)và 38.804.999 nữ (chiếm 50,8%). Số
người sống ở nông thôn là 58.407.770(chiếm 76,5%) và ở thành thị là 17.916.983
người (chiếm 23,5%) với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,1% từ năm 1979-1989 và
là 1,7% từ năm 1989-1999. Hiện nay vấn đề phát triển nông thôn đâng là mối quan
tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như
thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Để tạo điều kiện cho sự phát triển
toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn
phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản
có tính chất quyết định. Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước một trong những
điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản
xuất. Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của
đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá - xã hội .
Các nguồn nước trong thiên nhiên (nước mặt ,nước ngầm) và mưa phân bố
không đều theo thời gian, không gian. Mặt khác yêu cầu về nước giữa các vùng
cũng rất khác nhau, theo mùa, theo tháng, thậm chí theo giờ trong ngày .
Như vậy có thể nói : Thuỷ lợi là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước
với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các biện
pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn chế những
thiệt hại do nước có thể gây ra.
2.2. Vai trò của Thuỷ lợi đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta
2.2.1.Những ảnh hưởng tích cực:
Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước.
Vì vậy nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thơi tiết khí
hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp
những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây
lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta. Vì
vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước
ta như:
- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về
nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất.
Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn
chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi
thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ
biến. Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo
ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần
đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần. Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã
sản xuất được 4 vụ. Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa
chỉ có hai vụ trong một năm. Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu
hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên
dưới 10 triệu đồng. Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của
Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự phát triển đáng kể và góp
phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu
lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…
Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc
hoá .
- Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống
loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực
- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là
những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du
lịch
- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết
nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp. Từ đó góp phần
nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị
trong cả nước
- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều
từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ
tăng gia sản xuất .
Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân
nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận
một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát
triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo. Từ đó tạo điều
kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-
HĐH đất nước.
3 2.2.2.Những ảnh hưởng tiêu cực :
- Mất đất do sự chiếm chỗ của hệ thống công trình, kênh mương hoặc do
ngập úng khi xây dựng hồ chứa, đập dâng lên.
- Ảnh hưởng đến vi khí hậu khu vực, làm thay đổi điều kiện sống của người,
động thực vật trong vùng, có thể xuất hiện các loài lạ, làm ảnh hưởng tới cân bằng
sinh thái khu vực và sức khoẻ cộng đồng
- Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới
thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước trong
khu vực
- Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới lịch
sử văn hoá trong vùng
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác thuỷ lợi :
Sự phát triển của thuỷ lợi ở các quốc gia trên thế giới không đồng đều mà
phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau. Nếu xem xét một cách tổng quát thì có
thể thấy nó phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau :
- Điều kiện tự nhiên của quốc gia
- Tập quán sản xuất, cơ cấu cây trồng cũng như nhu cầu về nước
- Mức độ phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật
4. Nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án thuỷ lợi :
Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thuỷ lợi là hồ sơ pháp lý đảm bảo rằng
công trình đã hội đủ các điều kiện tối ưu và hiện thực để có thể tiến hành đầu tư xây
dựng .
Đây là yêu cầu bắt buộc và vì thế đòi hỏi nghiên cứu khả thi phải:
- Tuân thủ luật tài nguyên nước và các nghị định, quy định kèm theo
- Phù hợp quy hoạch tổng thể và quy hoạch chuyên ngành của khu vực
- Tương ứng với trình độ khoa học - công nghệ trong xây dựng và quản lý
kinh tế
- Có giải pháp xử lý hậu quả các ảnh hưởng tới xã hội và môi trường
- Các tài liệu điều tra tính toán phải theo tiêu chuẩn hiện hành, đủ tin cậy
1.Các văn bản pháp lý cần thiết :
Để xem xét phê duyệt, những hồ sơ sau là cần thiết:
- Tờ trình của UBND địa phương xin đầu tư dụ án
- Trích lược các quy hoạch, nghiên cứu đã được duyệt
- Các văn bản có liên quan đến dự án của các ngành
2.Các báo cáo nghiên cứu khả thi:
Bao gồm :
+ Báo cáo tổng hợp chi tiết có đủ biểu đồ, bản vẽ minh hoạ
+ Báo cáo tóm lược các biểu đồ, bản vẽ chủ yếu kèm theo
3.Các chuyên đề, bảng biểu trong phụ lục:
+ Báo cáo thuỷ văn
+ Báo cáo địa hình
+ Báo cáo địa chất, địa chất thuỷ văn thổ nhưỡng
+ Nhiệm vụ dự án: thuỷ điện thuỷ nông, phục vụ các ngành khác …
+Thiết kế sơ bộ
+ Thiết kế thi công và dự toán
+ Thiết kế tổ chức và quản lý khai thác
+ Đền bù, di dân tái định cư ,bảo vệ môi trường
+ Đánh giá hiêu quả kinh tế dự án
+ Đánh giá tác động của môi trường của dự án và biện pháp xử lý
5. Sự cần thiết phải tăng cường việc quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN cho
ngành thuỷ lợi.
Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì yêu cầu về quản lý
chi cho đầu tư XDCB cũng có sự thay đổi nhằm phù hợp với nền kinh tế mới. Hiện
nay ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới thì yêu cầu về quản lý tài chính nói chung và
yêu cầu về việc quản lý một cách chặt chẽ các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản
đối với ngành thuỷ lợi nói riêng phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch, đúng
định mức, tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả là hết sức quan
trọng.Tuy nhiên việc quản lý các khoản chi không bị thất thoát là một vấn đề hết sức
nan giải bởi vì trong thực tế hiện tượng tham ô, tham nhũng thì vẫn không thể loại
bỏ được hết .Vì vậy mà việc tăng cường công tác quản lý chi đầu tư XDCB từ
NSNN cho ngành thuỷ lợi ở nước ta hiện nay xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất: Xuất phát từ thực trạng của công tác quản lý vốn đầu tư XDCB:
Hiện nay cơ chế quản lý tài chính ở nước ta có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng
với yêu cầu thực tiễn của nước ta hiện nay khi mà đất nước đang trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị truờng .Tuy nhiên cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB
trước đây trở nên kém hiệu quả và không còn phù hợp với tình hình mới do vậy mà
ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng kinh phí của ngân sách nhà nước. Vì vậy mà nhà
nước đã ban hành nghị định số 52 của Chính phủ nay bổ xung nghị định số 12 của
Chính phủ về việc ban hành Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng nhằm quản lý một
cách chặt chẽ hơn các khoản chi của Nhà nước cho đầu tư và xây dựng
Mặt khác do cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính chồng chéo nhiều khi
hiệu quả quản lý không cao. Ngoài ra các cơ chế chính sách nhiều khi không chặt
chẽ cũng tạo ra các kẽ hở trong quản lý vốn đầu tư, trong khi đó nguồn vốn dùng
cho chi đầu tư XDCB nhiều khi là nguồn vốn đi vay, có thể là vay trong nước hoặc
vay nước ngoài vì đất nước ta còn nghèo mà khả năng thu thì không thể đáp ứng cho
nhu cầu chi vì vậy mà yêu cầu sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả là rất cần
thiết
Đối với các đơn vị sử NSNN cho đầu tư XDCB thì thiếu chủ động trong việc
sử dụng kinh phí được cấp do chưa nắm sát được thực tế nhu cầu chi tiêu, nhiều đơn
vị đã dùng mọi cách để sử dụng hết kinh phí được cấp và họ không quan tâm đến
việc chi đúng định mức, đơn giá, được duyệt…
Thứ hai: xuất phát từ vai trò của công tác quản lý vốn đầu tư XDCB đối với
ngành thuỷ lợi
Thực hiện tốt công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và đối với ngành
thuỷ lợi nói riêng thì có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm. Để từ đó
tập chung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, ổn định và lành mạnh nền
kinh tế quốc gia, chống các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, góp phần ổn định tiền tệ
và kiềm chế lạm phát
Ngoài ra thực hiện công tác này còn đảm bảo cho các công trình thuỷ lợi của
nhà nước được đáp ứng đầy đủ nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu
quả để hoàn thành tiến độ thi công công trình theo đúng kế hoạch, nâng cao trách
nhiệm của các cơ quan tài chính, cơ quan cấp phát cũng như các chủ đầu tư trong
quá trình đầu tư xây dựng
Thông qua công tác quản lý một cách chặt chẽ thì cũng hạn chế được những
tiêu cực trong quá trình thi công công trình. Từ đó cũng thấy được những mặt còn
yếu kém trong công tác quản lý để từ đó có những biện pháp hoặc những chính sách
để bổ xung kịp thời nhằm làm hoàn thiện hơn công tác quản lý .
Thứ ba : Xuất phát từ đặc điểm của các công trình ngành thuỷ lợi: Nhằm
đảm bảo cho chất lượng của công trình thuỷ lợi thì cần phải tăng cưòng công tác
quản lý bởi vì ngành thuỷ lợi có ý nghĩa rất quan trọng cho sản xuất như tưới tiêu,
hệ thống thoát nước, thoát lũ…Đặc biệt là đối với các công trình đê điều. Nếu công
trình đê điều không làm tốt, làm theo đúng kế hoạch được duyệt …thì khi có lũ có
thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.Vì vậy mà cần phải tăng cường công tác quản lý
vốn đầu tư XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi, việc tăng cường công tác quản
lý này vừa nhằm đảm bảo đồng vốn được sử dụng đúng mục đích lại vừa đảm bảo
được chất lượng công trình như thiết kế đã được duyệt.
Xuất phát từ những lý do trên mà việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý
NSNN nói chung và việc tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
cho ngành thuỷ lợi nói riêng là hết sức cần thiết. Mặt khác việc quản lý vốn đầu tư
XDCB từ NSNN đối với ngành thuỷ lợi một cách có hiệu quả thì sẽ nâng cao được
trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các cấp các ngành các đơn vị có
liên quan đến công tác quản lý, sử dụng NSNN và vốn vay của nhà nước, từ đó góp
phần lập lại kỷ cương tài chính của đất nước
6. Nguyên tắc quản lý cấp phát vốn đầu tư XDCB :
6.1. Điều kiện cấp phát vốn đầu tư XDCB :
Để đảm bảo cho công tác XDCB tiến hành đúng trình tự, đảm bảo các
nguyên tắc cấp phát vốn đầu tư XDCB, các dự án đầu tư thuộc đối tượng cấp phát
của Ngân sách nhà nước muốn được cấp phát vốn đầu tư XDCB phải có đủ các điều
kiện sau :
Thứ nhất : phải có đầy đủ thủ tục đầu tư và xây dựng .
Thủ tục đầu tư và xây dựng là những quyết định văn bản của cấp có thẩm
quyền cho phép được đầu tư dự án theo chương trình phát triển kinh tế xã hội của
đất nước. Nó là kết quả của các bước chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng. Chỉ khi
nào hoàn tất các thủ tục đầu tư và xây dựng như quyết định của cấp có thẩm quyền
cho phép tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư, báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết
định đầu tư của cấp có thẩm quyền, thiết kế dự toán được duyệt …thì dự án mới
được phép ghi vào kế đầu tư XDCB và mới được phép cấp phát vốn theo kế hoạch,
thiết kế dự toán được duyệt
Thứ hai : Công trình đầu tư phải được ghi vào kế hoạch vốn đầu tư XDCB
năm .
Khi công trình được ghi vào kế hoạch đầu tư nghĩa là dự án đã được tính
toán về hiệu quả kinh tế mang lại cho nền kinh tế quốc dân, tính toán về phương án
đầu tư về nguồn vốn đầu tư và đã cân đối được khả năng cung cấp nguyên vật liệu,
khả năng thi công dự án. Chỉ khi nào dự án được ghi trong kế hoạch đầu tư XDCB
mới đảm bảo về mặt thủ tục đầu tư, xây dựng và mới có nguồn vốn của NSNN đảm
bảo cho việc cấp phát vốn đầu tư XDCB được thực hiện
Thứ ba : phải có ban quản lý công trình được thành lập theo quyết định của
cấp có thẩm quyền
Các công trình đầu tư cần thiết phải có bộ phận quản lý dự án để thực hiện
các thủ tục đầu tư và xây dựng; để quản lý sử dụng và quyết toán vốn đầu tư của dự
án, để kiểm tra giám sát quá trình đầu tư xây dựng dự án, đảm bảo sử dụng vốn
đúng kế hoạch và có hiệu quả. Vì vậy chỉ khi có ban quản lý dự án được thành lập
thì các quan hệ về phân cấp thanh toán mới được thực hiện, nên đảm bảo đúng chế
độ Nhà nước quy định
Thứ tư : Đã tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn mua sắm vật tư thiết bị, xây
lắp theo quy định của chế độ đấu thầu (trừ những dự án được phép chỉ định thầu)
Để thực hiện dự án đầu tư, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư phải tuyển chọn
thầu để thực hiện thi công xây lắp, mua sắm vật tư thiết bị theo yêu cầu đầu tư của
dự án. Trong cơ chế thị trường việc đấu thầu để tuyển chọn thầu là hết sức cần thiết.
Mục đích của việc tổ chức đấu thầu là để chọn được những đơn vị thi công xây lắp
có trình độ quản lý tốt, tổ chức thi công nhanh hợp lý đảm bảo chất lượng và giá
thành hợp lý. Sau khi đã chọn thầu các đơn vị chủ đầu tư phải kí kết hợp đồng thi
công về mua sắm máy móc thiết bị; các chủ đầu tư theo dõi quản lý và tổ chức thanh
toán cho các đơn vị nhận thầu theo những điều đã kí kết trong hợp đồng. Vì vậy nếu
không có đấu thầu để chọn thầu thi công thì việc xây dựng dự án không thể được
thực hiện và việc cấp vốn đầu tư không thể có
Thứ năm: Các công trình đầu tư chỉ được cấp phát khi có khối lượng cơ bản
hoàn thành đủ điều kiện được cấp vốn thanh toán hoặc đủ điều kiện được cấp vốn
tạm ứng
Sản phẩm XDCB do các đơn vị thi công xây lắp (đơn vị trúng thầu hoặc chỉ
định thầu) thực hiện thông qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây
lắp theo hợp đồng đặt hàng của các chủ đầu tư (chủ công trình). Chính vì vậy khi
nào có khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành (sản phẩm XDCB hoàn thành - Bộ
phận công trình, hạng mục công trình, công trình hoàn thành của đơn vị xây lắp bàn
giao theo đúng những điều đã ghi trong hợp đồng (đã được nghiệm thu - có trong kế
hoạch thiết kế, dự toán) thì chủ đầu tư mới được thanh toán cho khối lượng hoàn
thành đó .
Đối với việc mua sắm máy móc thiết bị và đối với phần thi công xây lắp đấu
thầu, để đảm bảo nhu cầu vốn cho việc mua sắm thiết bị, dự trữ vật tư thì các đơn
vị mua sắm thi công được tạm ứng trước (cấp phát tạm ứng) nhưng phải đảm bảo
các điều kiện của tạm ứng đã quy định để đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và
có hiệu quả
6.2. Nguyên tắc quản lý cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Để đảm bảo tính kế hoạch và hiệu quả kinh tế cao của vốn đầu tư, đồng thời
đảm bảo phù hợp với sự vận động của vốn đầu tư thì việc cấp vốn đầu tư xây dựng
cơ bản phải đảm bảo những nguyên tắc sau :
Thứ nhất:
Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự
đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các các tài liệu thiết kế, dự toán
Trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3 giai đoạn :
+ Chuẩn bị đầu tư
+ Thực hiên đầu tư
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét