Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tăng cường quản lý nợ xấu tại Sở giao dịch I – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

2.3.3.2. Nhân tố khách quan 58
Chương III. Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu
tại Sở giao dịch I – BIDV 61
3.1. Định hướng đối với vấn đề quản lý nợ xấu của SGD 61
3.1.1. Định hướng phát triển chung 61
3.1.2. Định hướng phát triển với hoạt động quản lý nợ xấu 62
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu 63
3.2.1. Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 63
3.2.2. Xử lý nợ xấu đã phát sinh 65
3.3. Kiến nghị 69
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 69
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. NHTM: Ngân hàng thương mại
2. SGD: Sở giao dịch I – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
3. BIDV: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
4. DPRR: Dự phòng rủi ro
5. TCTD: Tổ chức tín dụng
6. NHNN: Ngân hàng nhà nước
7. CBTD: Cán bộ tín dụng
8. H.O: Hội sở chính
9. CAR: Hệ số an toàn vốn tối thiểu
10. AMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
11. BAMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu
Biểu 2.1. Biểu đồ tổng tài sản của Sở giao dịch qua các năm
Biểu 2.2. Biểu đồ nguồn vốn huy động của Sở giao dịch qua các năm
Biểu 2.3. Biểu đồ dư nợ tín dụng của Sở giao dịch qua các năm
Bảng
Bảng 2.1. Kết quả kinh doanh của SGD
Bảng 2.2. Kết quả huy động vốn 2006 – 2008
Bảng 2.3. Tình hình hoạt động tín dụng của SGD
Bảng 2.4. Tình hình hoạt động dịch vụ của SGD
Bảng 2.5. Tình hình nợ xấu 2007 – 2008
Bảng 2.6. Các doanh nghiệp thuộc nhóm nợ 3,4,5 trong năm 2008
Bảng 2.7. Tỷ trọng nợ xấu 2008 – 2009
Bảng 2.8. Kết quả xử lý nợ xấu của SGD
Bảng 2.9. Số dư quỹ DPRR 2008 -2009
Sơ đồ
Sơ đồ 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của SGD
7
Chương I. Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của
Ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền
kinh tế. Tùy thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, ngân hàng bao gồm ngân hàng
thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân
hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng.
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan
trọng nhất trong nền kinh tế. NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt nam, theo khoản 2 điều 20 Luật các tổ chức tín
dụng do Quốc hội khóa 10 thông qua vào ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 15/6/2004, định nghĩa: NHTM là một
loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động khác có liên quan. Theo khoản 1 điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các
quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng, và khoản 7 điều 20 luật này
định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
NHTM thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy
là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định nền
kinh tế. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vai trò
rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế
được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của nền kinh tế thị
trường còn non kém.
8
1.1.2. Phân loại NHTM
1.1.2.1. Theo hình thức sở hữu
- NHTM quốc doanh: Là NHTM được hình thành bằng 100% vốn của ngân
sách nhà nước.
- NHTM cổ phần: Là NHTM hình thành dưới hình thức công ty cổ phần, trong
đó một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu cổ phần của ngân hàng quá tỷ
lệ do NHNN quy định.
- NHTM nước ngoài: Đúng ra là chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Là ngân
hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, là cơ sở của ngân hàng nước ngoài
tại Việt nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- NHTM liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên ngân
hàng Việt nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt nam, hoạt động theo
pháp luật Việt Nam.
1.1.2.2. Theo tính chất hoạt động
Theo hoạt động chuyên doanh và đa năng:
- NHTM chuyên doanh: Là loại hình NHTM chỉ tập trung cung cấp một số
dịch vụ ngân hàng, ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với nông
nghiệp…
- NHTM đa năng: Là loại hình NHTM cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho
mọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM.
Theo hoạt động bán buôn và bán lẻ:
- NHTM bán buôn: Là loại hình NHTM cung cấp các dịch vụ cho các ngân
hàng, các công ty tài chính, cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn. Thường là
những ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các
khoản tín dụng lớn.
- NHTM bán lẻ: Là loại hình NHTM cung cấp dịch vụ trực tiếp cho doanh
nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ.
1.1.2.3. Theo cơ cấu tổ chức
- NHTM sở hữu công ty: Là ngân hàng nắm giữ phần vốn chi phối của công
ty, cho phép ngân hàng tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty.
9
- NHTM thuộc sở hữu công ty: Các tập đoàn kinh tế thường tổ chức thành lập
ngân hàng nhằm cung ứng dịch vụ tài chính cho các đơn vị thành viên của tập đoàn
và ngoài tập đoàn.
1.1.3. Chức năng của NHTM
- Trung gian tài chính
Các tổ chức như NHTM, công ty tiết kiệm và cho vay, ngân hàng tiết kiệm
tương trợ, liên hiệp tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ tương trợ, quỹ trợ cấp và những
công ty tài chính là những trung gian vay vốn của những người đã tiết kiệm được tiền
rồi ngược lại cho những người khác vay. Ngân hàng, nhất là NHTM là trung gian tài
chính mà một người bình thường thường xuyên giao dịch nhất.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế. Thứ nhất là cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là
chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ
sung vốn. Thứ hai là cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện
tại lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết
kiệm. Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy mô,
thời gian, không gian… tạo điều kiện nảy sinh và phát triển của trung gian tài chính.
Ngân hàng có thể làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm đồng thời giảm phí tổn cho
người đi vay so với quan hệ trực tiếp. Trung gian tài chính đã tập hợp người tiết kiệm
và người đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được
gọi là tình trạng thông tin không cân xứng làm giảm tính hiệu quả của thị trường
nhưng tạo ra một khả năng sinh lời cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh
nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những công cụ với
các yếu tố rủi ro, lợi nhuận hấp dẫn nhất.
- Tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được
hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu. Mặt khác, khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài
10
khoản của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do
đó, bằng việc cho vay( hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh
toán (tham gia tạo M1).
- Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa, dịch
vụ. Để việc thanh toán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa ra cho khác hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, ủy
nhiệm chi, nhờ thu, thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và
cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù
trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng
công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân
hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh
toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa
các ngân hàng trong nước mà còn giữa các ngân hàng trên thế giới. Các trung tâm
thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng,
biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.2. Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của NHTM
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Những khoản nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi
bồi thường từ nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
- Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ
hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài
sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
11
* Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng.
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không
đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn
thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng
phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được
chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ.
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ
nhưng không đền bù được trong thời gian thỏa thuận.
- Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế
chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ
không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ.
- Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi
hoàn ít hơn dư nợ.
1.2.1.2. Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90
ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn
hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc cac khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng
có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Về
cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả
năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế
(IAS) hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới.
1.2.1.3. Theo định nghĩa của Việt Nam
Theo quyết định 493/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ngày
22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng; và quyết định số 18/2007 QĐ –
NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493 thì
Nợ xấu được định nghĩa như sau:
Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn),
nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu theo định nghĩa
12
của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và
(ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại.
Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu
là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như
đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng.
1.2.2. Phân loại
Theo quyết định 493/2005 của Thống đốc ngân hàng nhà nước ngày
22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng; và quyết định số18/2007 QĐ –
NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định 493 thì Nợ xấu được xác
định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi.
a. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoản này.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 điều
này.
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao
nhất. Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của
nhóm.
b. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 điều
này.
13
Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so với
các khoản nợ của nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà ngân
hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc
nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm.
c. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời gian trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 điều
này.
Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỷ lệ trích lập
dự phòng rủi ro tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm.
Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập
dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của TCTD.
1.2.3. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của NHTM
- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ
khoản nợ xấu của ngân hàng. Chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số dư nợ đó, nợ
không có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu. Và
như vậy, nó chưa phản ánh một cách chính xác số nợ cho vay không có khả năng thu
hồi của ngân hàng
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu/ tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản ánh mức
độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho
vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi
hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao thì khả
năng rủi ro càng cao. Nếu như tỷ lệ này lớn hơn 7% thì ngân hàng bị coi là có chất
lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn 5% thì được coi là có chất lượng tín dụng
tốt, các khoản cho vay an toàn. Tuy nhiên các con số được sử dụng để tính chỉ số này
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét