Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Quản lý dự án đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

tranh của thị trường Việt Nam, giúp các xí nghiệp trong nước nỗ lực với môi
trường công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
FDI đã cung cấp cho thị trường trong nước nhiều sản phẩm, mặt hàng
và dịch vụ có chất lượng tốt, góp phần giảm áp lực tiêu dùng, ổn định giá cả.
FDI cung cấp nhiều việc làm cho nền kinh tế, góp phần đào tạo một đội
ngũ các nhà doanh nghiệp và công nhân có trình độ và sự say mê nghề
nghiệp.
FDI tạo dựng được những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho hoạt động
thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong tình hình mới, góp phần làm cân bằng
bên trong về nhu cầu vốn đầu tư, việc làm cho người lao động, cán cân thanh
toán.
FDI đã góp phần vào sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế , tham
gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp
và dịch vụ , tạo thêm năng lực mới về sản xuất và xuất khẩu trong một số
ngành quan trọng, đóng góp vào ngân sách, giải quyết một phần công ăn, việc
làm cho người lao động, khơi dậy nguồn vốn trong nước, phục hồi một số
ngành nghề và doanh nghiệp đã từng đứng trước nguy cơ phá sản hoặc mai
một do biến động của thị trường trong và ngoài nước
Tuy vậy, những mặt trái vốn có của FDI cũng đã bộc lộ trong nhiều
khía cạnh: Sở hữu, chuyển giao công nghệ lạc hậu, cơ cấu khoong phù
hợp, Sự không hoàn hảo của thị trường đòi hỏi phải có sự điều tiết và quản
lý của Nhà nước, giúp FDI phục vụ tốt hơn cho công cuộc phát triển của nền
kinh tế nước nhà.
3. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông
qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 đến nay, tình hình đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam đã phát triển rất nhanh. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thu hút đầu tư cả về số
lượng và chất lượng cũng như về mặt du nhập công nghệ và phương pháp
quản lý.
Theo thống kê của vụ quản lý dự án. Đến hết tháng 6 năm 2002 đã có
4283 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký khoảng gần 49
tỷ USD , vốn thực hiện hơn 19 tỷ USD.
Trong số các dự án nói trên, có 827 dự án bị rút giấy phép hoặc giải
thể trước thời hạn (chiếm 19,3 %) tổng số dự án với số vốn đầu tư 8,286 tỷ
USD (chiếm 13,9% tổng vốn đầu tư) do vậy tính đến nay còn 3456 dự án có
giấy phép đầu tư với gần 41 tỷ USD. Các dự án quy mô nhỏ (dưới 5 triệu
USD) tuy chiếm tỷ lệ lớn về số dự án (77%) nhưng lại chiếm tỷ lệ nhỏ về vốn
đầu tư (14%). Bên cạnh việc xây dựng một số công trình quy mô lớn, ý nghĩa
then chốt đối với nền kinh tế quốc dân, việc phát triển hàng loạt các xí nghiệp
có quy mô vừa và nhỏ trong một số lĩnh vực là hướng đi thích hợp, vừa tận
dụng hiệu quả các cơ sở sản xuất hiện có, sử dụng nhiều lao động , vừa phù
hợp với năng lực quản lý, dễ đổi mới thiết bị và phương án sản phẩm, dễ thích
hợp với những thay đổi của thị trường.
Cơ cấu ngành nghề đã được điều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý,
Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư
vào các lĩnh vực: Thực hiện các chương trình kinh tế lớn sản xuất hàng hoá
xuất khẩu và hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu, sử dụng kỹ thuật, công nghệ
cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các
khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế, hiện có; sử dụng nhiều
lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam; xây dựng
các công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ thu tiền nước ngoài như dịch vụ du lịch,
sửa chữa tàu, dịch vụ sân bay, cảng khẩu và các dịch vụ khác. Trên thực tế,
đầu tư nước ngoài đã đi sâu vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân.
Qua các năm, cơ cấu đầu tư ngày càng phù hợp với yêu cầu dịch
chuyển kinh tế, tỷ trọng các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất ngày càng tăng
trong những năm đầu, vốn đầu tư tập trung chủ yếu trong các ngành dầu khí
(32,2%) khách sạn (20,6 %) thì từ năm 1991 trở đi vốn đầu tư vào ngành công
nghiệp tăng đáng kể. Khoảng 64,6 % số vốn đầu tư là thuộc các ngành sản
xuất vật chất, hơn 60 % số dự án thuộc loại đầu tư theo chiều sâu nhằm khai
thác và nâng cấp những năng lực sản xuất hiện có.
Cơ cấu lãnh thổ ngày càng cân đối hơn. Trừ thăm dò khai thác dầu khí
ở thềm lục địa. Các dự án còn lại có tới 84 % tổng số vốn tập trung ở 3 vùng
kinh tế trọng điểm. Nừu những năm đầu, đầu tư ở các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm
25 % số dự án với 20 % số vốn đầu tư thì tính đến tháng 6/2002 các tỉnh phía
bắc đã thu hút được 31% số dự án với 36% vốn đầu tư. Đến nay đã có 59 tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương đã có dự án đầu tư nước ngoài. Điều này
được giải thích là mỗi địa phương đều có những thế mạnh và tiềm năng
riêng, nhưng quan trọng là do Nhà nước đã có những điều chỉnh kịp thời về
chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư vào các vùng cần khuyến khích
đầu tư và do công tác vận động đầu tư ngày càng chủ động hơn. Tuy vậy, đầu
tư nước ngoài vẫn chủ yếu tập trung vào một số địa phương như TP. HCM,
Hà Nội, Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rỵa Vũng Tàu Đây là những địa phương
thuộc các vùng trọng điểm kinh tế của cả nước, có nhiều cơ sở sản xuất hiện
có, có cơ sở hạ tầng tốt hơn so với những địa phương khác
Luật đầu tư nước ngoài quy định 3 hình thức đầu tư chủ yếu là: Doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài và hợp tác kinh
doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ngoài ra còn có quy định hình
thức xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và hình thức BOT (xây
dựng - kinh doanh - chuyển giao). Tính đến nay, dự án thực hiện theo hình
thức liên doanh chiếm 64,6 % dự án và 65,3 % số vốn, theo hình thức 1000
vốn nước ngoài , chiếm 27,1 % số dự án và 17,8 % vốn đầu tư và theo hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 8,3 % số dự án và 16,9 % số vốn
đầu tư. Trong số các dự án được cấp phép mới chỉ có một số dự án được
thực hiện theo hình thức BOT.
Việc đa số các dự án được thực hiện theo hình thức liên doanh trong
thời gian qua là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế cũng như chủ trương
của nhà nước ta. Một mặt các công ty nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam
cũng muốn chia sẻ bớt rủi ro có thể xảy ra, nhưng mặt khác cũng muốn gắn
trách nhiệm bên Việt Nam vào sự thành công của dự án, dậ vào bên Việt Nam
trong quan hệ cũng như giải quyết các thủ tục cần thiết với cơ quan quản lý
nhà nước và các tổ chức kinh tế. Trong khi đó dựa vào khả năng tài chính,
khả năng về công nghệ, kinh nghiệm quản lý và khả năng tìm kiếm thị trường
của phía nước ngoài, phía Việt Nam lại mong muốn tận dụng mọi khả năng
có thể góp vốn, tạo cơ hội tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nhgiệm
quản lý và chia sẻ lợi nhuận có thể tạo ra. Tuy nhiên những năm gần đây, các
nhà đầu tư nước ngoài đã có xu hướng giảm dần sự quan tâm đến hình thức
xí nghiệp liên doanh, số dự án 100% số vốn nước ngoài tăng lên đặc biệt là
trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Đồng Nai trong một số lĩnh vực nhữ hàng
hoá cơ bản, may mặc, dày dép. Xu hướng hình thành và phát triển do một số
nguyên nhân nhưng chủ yếu do thực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp trong
việc quản lý, điều hành xí nghiệp, một phần do sự yếu kém về trình độ của
phía Việt Nam. Bên nước ngoài thường góp nhiều vốn hơn nhưng không
quyết định được những vấn đề chủ chốt của xí nghiệp liên quan đến xây dựng
và sản xuất kinh doanh vì nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng quản trị theo
quy định của Luật đầu tư.
Trong hợp đồng hợp tác kinh doanh và trong các doanh nghiệp liên
daonh đang hoạt động, doanh nghiệp nhà nước tham gia 90 % số dự án và 99
% tổng số vốn đầu tư. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia 71 dự án với
tổng số vốn đầu tư gần 150 triệu USD, chiếm tỷ trọng không đáng kể trong
tổng số vốn đầu tư, đó là bào gồm cả một số công ty TNHH thuộc các tổ chức
chính trị, xã hội mà trong đó có phần góp vốn của doanh nghiệp nhà nước .
Việc phần lớn các đối tác tham gia vào hợp tác đầu tư với nước ngoài
là các doanh nghiệp nhà nước cho thấy đây là một hướng đi đúng, đảm bảo
phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. Tuy nhiên với cơ chế hiện nay, sẽ
dẫn đến tình trạng, ai có quyền sử dụng đất thì có quyền mang vào góp vốn và
theo đó trở thành chủ dầu tư bên Việt Nam, bất chấp lĩnh vực hợp tác có phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ của họ hay không (Ví dụ doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực thể thao lại đi hợp tác với nước ngoài xây dựng khách sạn, có doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực thuỷ sản lại hợp tác trong lĩnh vực thể thao ).
Việc này sẽ không tránh khỏi những khó khăn nảy sinh trong quá trình
triển khai dự án và hoạt động kinh doanh sau này, đồng thời không đủ khả
năng để đại diện cho quyền lợi bên Việt Nam hay nhà nước Việt Nam.
Tính đến nay , việc tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài của các đối
tác Việt Nam là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là rất khiêm tốn cả về số
lượng cũng như vốn đầu tư , lĩnh vực hợp tác còn hẹp, địa bàn chủ yếu tập
trung ở một số thành phố lớn nhưng cho thấy xu hướng phát triển của khu vực
tư nhân ddang vươn lên để tiếp cận với công nghệ mới nhằm tạo ra những
năng lực sản xuất mới hoặc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm
Điều đó cũng phù hợp với chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế của
Đảng và Nhà nước ta.
Đến nay, có hơn 700 công ty thuộc 60 nước và vùng lãnh thổ có dự án
đầu tư tại nước ta, trong đó có nhiều tập đoàn lớn, có năng lực về vốn, công
nghệ và quản lý. Trong khi các nước Tây Âu sớm vào Việt Nam với trọng
tâm là lĩnh vực dầu khí thì các nước châu Á , đặc biệt là Nhật Bản và Hàn
Quốc và gần đây là Mỹ, tuy có sự xuất hiện muộn hơn nhưng tốc độ ngày
càng tăng nhanh, quy mô sản xuất ngày càng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, từ
khai thác dầu khí, sản xuất xi măng, sắt thép, điện tử, xây dựng cơ sở hạ tầng
khu công nghiệp, xây dựng khách sạn đến sản xuất hàng hoá tiêu dùng, chế
biến thực phẩm và bắt đầu xuất hiện các dự án công nghệ cao (các bộ phận
mánh tính, quang học, viễn thông ). Với xu hướng này, đã đánh dấu kết quả
tích cực của phương châm đa dạng hoá quan hệ hợp tác đầu tư , tranh thủ vốn
và công nghệ của các tập đoàn, công ty lớn của các nước công nghiệp phát
triển.
Từ năm 1998 đến hết tháng 6/2002, vốn đầu tư thực hiện khoảng 19 tỷ
USD ( Trong số này, vốn góp của phía Việt Nam khoảng 2,5 tỷ USD chiếm
13 % chủ yếu bằng quyền sử dụng đất, phần góp vốn của bên nước ngoài
chiếm khoảng 9,1 tỷ USD, chiếm 48 %, phần vốn vay doanh nghiệp khoảng
trên 7,4 tỷ USD chiếm 39 % tổng vốn thực hiện (theo số liệu thống kê của vụ
quản lý dự án).
Tính đến nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo vcv
làm cho trên 180.000 lao động trực tiếp người Việt Nam. Ngoài ra đầu tư
nước ngoài còn tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục vạn lao động gián
tiếp khác bao gồm công nhân xây dựng, các lao động liên quan đến cung cấp
vật liệu xây dựng và các dịch vụ khác. Trong số lao động trực tiếp nói trên,
phần lớn đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ hoặc ngoại ngữ, có khả
năng nắm bắt kỹ thuật, hoàn thành các công việc được giao. Điều đó đã tạo
cho lao động Việt Nam một tác phong công nghiệp trong lao động, một ý thức
kỷ luật và một ý thức trách nhiệm cao hơn đối với công việc.
Trong quá trình hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam
đã tiếp nhận được phương thức quản lý tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu
trong tổ chức sản xuất và kinh doanh, tiếp cận được cung cachs làm ăn của
nước ngoài trong nền kinh tế thị trường
Quá trình thực tiễn cũng cho thấy những mặt hạn chế trong lĩnh vực
hoạt động đầu tư nước ngoài, nguyên nhân chính của việc đổ vỡ các dự án:
- Phần lớn do bên nước ngoài không có khả năng về tài chính , không
có khả năng về chuyên môn, không co thiện chí làm ăn nghiêm túc tại Việt
Nam.
- Một số dự án ngay từ khi xin giấy phép đầu tư đã tỏ ra không có tính
khả thi.
- Một số dự án do tranh chấp giữa các bên liên doanh, thiếu thiẹn chí
và sự hợp tác trong việc giải quyết các bất đồng.
Một số cán bộ Việt Nam không có chuyên môn, ngoại ngữ, không nắm
được các quy định về pháp luật, không thấu hiểu và theo kịp cung cách làm
ăn của quố tế theo cơ chế thị trường, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thoái hoá,
biến chất, chỉ mưu cầu lợi ích cá nhân trước mắt mà không nghĩ đến lợi ích
tổng thể của đất nước hay của đơn vị mà mình được cử ra làm đại diện, có
khi còn chỉ đường mách lối cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện không đúng
với quy định của pháp luật Việt Nam.
Không tính toán kỹ, nghiên cứu thị trường, chi phí đền bù, giải phóng
mặt bằng nên thua lỗ kéo dài, buộc phải giải thể trước thời hạn.
- Một số nhà đầu tư nước ngoài đã bị phá sản ở nơ khác nên đã ảnh
hưởng tới dự án ở Việt Nam.
Khi một dự án trực tiếp bị rút giấy phép trước thời hạn, bị giải thể sẽ
dẫn đến thiệt hạ cho cả hai phía, phía Việt Nam và phía nước ngoài. Để hạn
chế điều này cũng như tăng cường tính hiệu quả của dự án đang thực hiện,
triển khai, quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài đóng một vai trò rất
quan trọng trong đó Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói chung và vụ quản lý dự án
nói riêng là những cơ quan giúp việc của Chính phủ trực tiếp quản lý các dự
án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
II. GIỚI THIỆU VỀ BỘ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ VÀ VỤ QUẢN LÝ DỰ ÁN
1. Bộ Kế hoạch Đầu tư
Bộ Kế hoạch Đầu tư được thành lập theo nghị định 75 /CP của Chính
phủ ngày 1/11/1995 trên cơ sở sáp nhập giữa UB Nhà nước về hợp tác đầu
tư và UB Kế hoạch Nhà nước
a. Chức năng
Đây là một cơ quan của Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp
và xây dựng chiếnlược, sách lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước; về cơ chế chính sách quản lý kinh tế; quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu
tư trong và ngoài nước, giúp Chính phủ điều hành phối hợp thực hiện các mục
tiêu và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.
Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm
quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ quy định tại chương IV luật tổ
chức Chính phủ và tại nghị định 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ. Bộ có
các quyền hạn và nghĩa vụ sau đây:
1 - Tổ chức nghiên cứu, xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội của cả nước và quy hoạch phát triển kinh tế theo
ngành, vùng, lãnh thổ. Xác định phương hướng và cơ cấu gọi vốn đầu tư của
nước ngoài vào Việt Nam, đảm bảo sự cân đối giữa đầu tư trong và ngoài
nước để trình Chính phủ quyết định.
2- Trình Chính phủ các dự án luật, Pháp lệnh, văn bản pháp quy cso
liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong
và ngaòi nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Nghiên cứu và xây dựng các quy chế về phương pháp kế hoạch hoá,
hướng dẫn các bên nước ngoài và Việt Nam trong việc đầu tư vào Việt Nam
và từ Việt Nam ra nước ngoài.
3- Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể cả các nguồn lực từ nước
ngoài để xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
về phát triển kinh tế xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh
tế quốc dân; giữa tích luỹ và tiêu dùng, tài chính, tiền tệ, hàng hoá vật tư chủ
yếu của nền kinh tế , xuất nhập khẩu, vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Phối hợp
với bộ tài chính trong việc phân bổ kế hoạch thu chi ngân sách nàh nước cho
các Bộ, ngành và địa phương để trình Chính phủ.
4 - Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
uỷ ban nhân dân thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, xây dựng và
cân đối tổng hợp kế hoạch, kể cả các kế hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước, ngành kinh tế
và vùng lãnh thổ đã được phê duyệt.
5 - Hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ , UBND các tỉnhm thành phố trực thuộc trung ương trong việc
thực hiện kế hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, các chương trình,
chính sách của nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt
Nam và của Việt Nam ra nước ngoài.
6 - Làm chủ tịch các hội đồng cấp nhà nước, xét duyệt định mức kinh
tế - kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp.
7- Trình thủ tướng Chính phủ thẩm định việc sử dụng quỹ dự trữ nhà
nước
8- Tổ chức nghiên cứu dự thảo, thu thập xử lý thông tin về phát triển
kinh tế xã hội trong và ngoài nước phục vụ cho việc xây dựng và điều hành kế
hoạch.
9 - Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội
ngũ công chức, viên chức thuộc bộ quản lý.
10 - Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển,
chính sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội , hỗ
trợ phát triển và hợp tác đầu tư.
b. Cơ cấu tổ chức
Bộ kế hoạch và đầu tư có 22 cơ quan giúp bộ trưởng thực hiện chức
năng quản lý nhà nước và 6 tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ
* Các cơ quan giúp bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước :
1- Vụ pháp luật đầu tư nước ngoài
2- Vụ quản lý dự án đầu tư nước ngoài
3 - Vụ quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp
4 - Vụ đầu tư nước ngoài
5- Vụ tổng hợp kinh tế quốc dân
6- Vụ kinh tế đối ngoại
7- Vụ kinh tế địa phương và lãnh thổ
8 - Vụ doanh nghiệp
9- Vụ tài chính - tiền tệ
10 - Vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
11- Vụ công nghiệp
12 - Vụ thương mại và dịch vụ
13 - Vụ cơ sở hạ tầng
14 - Vụ lao động và văn hoá xã hội
15 - Vụ khoa học và giáo dục môi trường
16 - Vụ quan hệ Lào và Campuchia
17 - Vụ quốc phòng an ninh
18 - Vụ tổ chức cán bộ
19 - Văn phòng thẩm định dự án đầu tư
20- Cơ quan đại diện phía nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét