Chuyên đề thực tập
2.1.Nông nghiệp đối với sự phát triển của xã hội loài người
Nông nghiệp là ngành sản xuất có đầu tiên và trải qua một thời kỳ dài là cơ sở
kinh tế - xã hội cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Từ khi nổ ra cuộc
cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỹ XVIII, rồi cách mạng khoa học kỹ thuật vào
giữa thế kỹ XX, đã tạo ra sự phát triển mới hết sức lớn lao của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội, theo đó nhiều ngành sản xuất mới đã ra đời và phát triển
lớn mạnh: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ… Mặc dù
vậy, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất có vai trò rất quan trọng ở nhiều quốc gia và
trên cả hành tinh của chúng ta. Nông nghiệp có vai trò quan trọng đó vì những lẽ sau
đây:
Nông nghiệp sản xuất và cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho đời sống
của con người,như: lương thực, thực phẩm và những sản phẩm tiêu dùng khác có gốc
nguyên liệu từ nông sản. Không có những sản phẩm thiết yếu đó con người không thể
tồn tại và phát triển được, vì như Ăng ghen đã khẳng định “trước hết con người cần
phải có ăn, uống và ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, tôn giáo…Xã hội
càng phát triển với quy mô dân số và chất lượng cuộc sống cao hơn, nhu cầu về
những sản phẩm thiết yếu đó càng lớn cả về số lượng, chủng loại đa dạng và chất
lượng cao”.
Nông nghiệp gắn với các vấn đề xã hội và môi trường – cái không thể thiếu
được cho một xã hội văn minh và sự trường tồn của hành tinh chúng ta.
Nông nghiệp đóng góp một khối lượng đáng kể vào tổng giá trị sản phẩm của
nhiều quốc gia (GDP) với nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế trong thương mại quốc tế.
Điều này càng trở nên quan trọng trong xu thế hội nhập quốc tế về kinh tế.
Xã hội nông thôn vốn rất rộng lớn và là một bộ phận hợp thành rất quan trọng
của thị trường hàng công nghệ và dịch vụ.
2.2. Nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, đang phát triển theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì thế nông nghiệp càng có vai trò quan trọng.Nông nghiệp
cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hoá xuất
Chuyên đề thực tập
khẩu. Giá trị sản phẩm nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng giá
trị sản phẩm trong nước (GDP) . Theo số liệu thống kê năm 1999 bộ phận cấu thành
này là 25,4%.Giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất
khẩu với 9 trong 15 mặt hàng xuất chủ yếu của toàn bộ nền kinh tế (gạo, cà phê, cao
su, trà, đậu phộng, hạt điều, rau quả và hải sản).
Nông nghiệp tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận lớn lao động và dân
cư cả nước.Trong đó chủ yếu và trực tiếp là lao động nông thôn với một quy mô dân
số còn rất lớn -khoảng trên 58 triệu người, bằng 76,5% so với cả nước (tính tại thời
điểm 1/14/1999).Giải quyết tình trạng thiếu việc làm và nghèo đói ở nông thôn hiện
nay rõ ràng là một trọng trách của việc phát triển nông nghiệp.
Nông nghiệp là nguồn cung cấp sức lao động cho nhiều mặt hoạt động kinh tế
- xã hội và an ninh quốc phòng.
Nông nghiệp nông thôn là thị trường rộng lớn của hàng hoá công nghiệp, dịch
vụ và hàng nông sản của bản thân nông nghiệp. Nông nghiệp phát triển vững mạnh sẽ
thúc đẩy thương mại phát triển, góp phần kích cầu để ngăn chặn tình trạng giảm phát
của nền kinh tế.
Nông nghiệp gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, với bảo vệ và tôn tạo
cảnh quan, môi trường tự nhiên - cái không thể thiếu trong việc xây dựng một nông
thôn văn minh, một đội ngũ nông dân có trí thức. Với vai trò quan trọng như vậy, nên
trong đường lối cách mạng Việt Nam, Đảng và Bác Hồ luôn khẳng định tầm quan
trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp đã đi đầu trong đổi
mới và đã góp phần to lớn vào sự thành công của đổi mới. Nông nghiệp đã và sẽ là
một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Mục tiêu của nghành nông nghiệp Việt Nam.
3.1 Mục tiêu tổng quát
Chuyên đề thực tập
Tiếp tục xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa có năng suất,chất
lượng và sức cạnh tranh cao, phát triển với tốc độ cao, bền vững trên cơ sở ứng dụng
các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến. Xây dựng nông thôn XHCN có cơ cấu
kinh tế hợp lý, có quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát
triển, đời sống nông dân được nâng cao cả về vật chất và văn hóa tinh thần.
3.2 Một số chỉ tiêu cụ thể:
(1) Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng nông- lâm nghiệp 3% năm (trong đó
nông nghiệp 2,9 - 3%, lâm nghiệp trên 1%); giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp 4,5 -
4,8%/năm.
(2) Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Trồng trọt 68%, chăn nuôi 26%, ngành nghề
và dịch vụ khác 6%.
(3) Cơ cấu kinh tế nông thôn: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 55%; công
nghiệp, ngành nghề và dịch vụ 45%.
(4) Kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản 7,4 tỷ USD;
Khối lượng một số mặt hàng chủ yếu: Gạo 4,5 - 5 triệu tấn, cà phê nhân 850
nghìn tấn, cao su mủ khô 820 nghìn tấn, chè búp khô 105 nghìn tấn, hạt tiêu 115
nghìn tấn, hạt điều nhân 105 nghìn tấn, rau quả 350 triệu USD, mặt hàng lâm sản
2,35 tỷ USD.
(5) Khoán bảo vệ rừng phòng hộ và đặc dụng 2 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh
rừng 703 nghìn ha, trồng rừng 200 nghìn ha, trong đó rừng sản xuất 150 nghìn ha và
50 nghìn ha phòng hộ, đặc dụng, trồng cây phân tán 200 triệu cây.
(6) Sản lượng muối 1,2 triệu tấn.
(7) Tỷ lệ dân nông thôn được dùng nước sạch đạt 70%.
Chuyên đề thực tập
(8) Thực hiện chính sách huy động vốn từ các thành phần kinh tế đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển mạnh công nghệ sau thu hoạch, mở mang
ngành nghề, dịch vụ, giải quyết việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, góp phần giảm
tỷ lệ hộ nghèo xuống 17% (theo chuẩn mới).
4. Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
- Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và
điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động,
tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn. Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công
nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và
ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trường thế giới.
Chú trọng điện khí hóa, cơ giới hóa ở nông thôn. Phát triển mạnh công nghiệp
chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia
công và dịch vụ; liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên từng địa bàn và
trong cả nước.
Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Quy hoạch
hợp lý và nâng cao hiệu quả việc sử dụng quỹ đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo
vệ môi trường. Quy hoạch các khu dân cư, phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm văn
hóa ở làng xã; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, xây dựng cuộc sống
dân chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn.
- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng
tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cấp chất lượng. Bảo đảm an ninh lương thực
trong mọi tình huống. Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hóa và ngô làm
thức ăn chăn nuôi; tận dụng điều kiện thích hợp của các địa bàn khác để sản xuất
Chuyên đề thực tập
lương thực có hiệu quả. Nâng cao giá trị và hiệu quả xuất khẩu gạo. Có chính sách
bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực.
Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các vùng cây công
nghiệp như cà-phê, cao-su, chè, điều, hạt tiêu, dừa, dâu tằm, bông, mía, lạc, thuốc
lá , hình thành các vùng rau, hoa, quả có giá trị cao gắn với phát triển cơ sở bảo
quản, chế biến.
Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; mở
rộng phương pháp nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩm; tăng tỷ trọng ngành
chăn nuôi trong nông nghiệp.
Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên
hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh nuôi, trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và
nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi
trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển
đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế
biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước. Mở rộng và nâng
cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông, nước, bảo
đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43%.
Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hóa lâm
nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống được bằng nghề rừng. Kết
hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và có chính sách hỗ trợ để định canh, định cư, ổn
định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi. Ngăn chặn nạn đốt, phá rừng. Đẩy
mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ mỏ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy,
công nghiệp chế biến gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu; nâng cao giá trị sản phẩm
rừng.
- Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp , nhất là
công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin. Chú trọng tạo và sử dụng giống
cây, con có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Đưa nhanh công nghệ mới vào sản
xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Chuyên đề thực tập
ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thực phẩm. Hạn chế
việc sử dụng hóa chất độc hại trong nông nghiệp. Xây dựng một số khu nông nghiệp
công nghệ cao. Tăng cường đội ngũ, nâng cao năng lực và phát huy tác dụng của cán
bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.
- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giữ
ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới, tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nông nghiệp (kể
cả cây công nghiệp, nuôi, trồng thủy sản) và đời sống nông dân. Đối với những khu
vực thường bị bão, lũ, cùng với các giải pháp hạn chế tác hại thiên tai, phải điều
chỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên. Nâng cao
năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng chống thiên tai, hạn chế thiệt
hại.
- Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn . Hình thành các khu
vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với
thị trường trong nước và xuất khẩu. Chuyển một phần doanh nghiệp gia công (may
mặc, da - giày ) và chế biến nông sản ở thành phố về nông thôn. Có chính sách ưu
đãi để thu hút đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn.
Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề
khác, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy
mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn.
Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thủy sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng
năm 4,0-4,5%. Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệu
tấn. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17%; tỷ trọng ngành chăn nuôi
trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25%. Thủy sản đạt sản lượng
3,0-3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1/3 là sản phẩm nuôi, trồng). Bảo vệ 10 triệu ha
rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng 5 triệu ha rừng. Kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thủy sản khoảng 3,5 tỷ USD.
Chuyên đề thực tập
II. Khái quát về điều kiện tự nhiên,xã hội và tình hình phát triển kinh tế
của tỉnh Nghệ An trong những năm qua.
1.Khái quát điều kiện tự nhiên:
1.1. Vị trí địa lý:
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên trục giao lưu kinh tế
– xã hội Bắc – Nam, có bờ biển dài 82 km và có 419 km đường biên giới với
CHDCND Lào. Chiều dài từ Bắc xuống Nam khoảng 152 km, chiều rộng lớn nhất từ
Tây sang đông khoảng 200 km, với tổng diện tích tự nhiên 16.492.255 ha, trong đó
đất nông nghiệp khoảng 198.535 ha (chiếm 12,04%).
Nghệ An có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường
không rất thuận lợi trong giao lưu vận chuyển nông sản hàng hóa ra vào tỉnh.
1.2. Khí hậu thời tiết:
Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu phân làm 2 mùa rõ rệt:
mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Là tỉnh có diện tích rộng, với
đủ các dạng địa hình núi cao, núi thấp, đồng bằng và đồng bằng ven biển, nên khí hậu
ở Nghệ An đa dạng. Sự đa dạng về tiểu khí hậu vùng cùng với sự đa dạng về đất đai
cho phép Nghệ An có thể đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi và hình thành các vùng
nông lâm sản hàng hóa lớn.
1.3. Đất đai:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.648.845 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp
là 249.047 ha, đất lâm nghiệp là 1.194.395 ha; đất phi nông nghiệp là 113.443 ha; đất
chưa sử dụng là 85.090 ha và đất có mặt nước ven biển là 346 ha.
2. Điều kiện xã hội:
2.1. Nguồn nhân lực:
Chuyên đề thực tập
Theo thống kê, đến 31/12/2005 dân số Nghệ An có 3.040.000 người trong đó
khu vực thành thị 317.202 người (10,32%), khu vực nông thôn 2.670.065 người
(89,69%), khả năng tiêu thụ hàng hóa ở Nghệ An khá lớn.
Dân cư phân bổ không đều, các huyện đồng bằng ven biển có mật độ dân số
cao (trên 500 người/km
2
), các huyện miền Tây mật độ dân số rất thấp, như Tương
Dương chỉ có 26 người/km
2
, Kỳ Sơn 30 người/km
2
.
Lao động toàn tỉnh có 1.693.443 người, trong đó lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế 1.374.093 người, chiếm 81,14%, riêng lao động trong lĩnh
vực nông thôn có 1.065.696 người, chiếm 77,56% lực lượng lao động đang làm
việc. Lực lượng lao động chủ yếu không qua đào tạo (khoảng 81%), tỷ lệ này ở khu
vực nông thôn cao hơn (khoảng 97%). Đây sẽ là trở ngại lớn trong chuyển giao
công nghệ, điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa của
tỉnh.
2.2. Thu nhập và đời sống nhân dân:
Theo thống kê, thu nhập bình quân 1 lao động/tháng là 1.042.400 đồng, chỉ
tiêu này ở khu vực nông thôn chỉ là 758.100 đồng. Đời sống người lao động thấp sẽ
gây khó khăn cho công tác huy động vốn đầu tư cho sản xuất và cũng hạn chế sức thu
mua.
3.Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An.
* Quy mô kinh tế tỉnh còn nhỏ bé, năm 2005 mới chiếm 2% GDP của cả nước
(tính theo giá hiện hành - HH) trong khi dân số của tỉnh chiếm 3,64% dân số cả nước.
Tổng GDP của tỉnh năm 2005 đạt 10.292,2 tỷ đồng tính theo giá so sánh 1994
(16.919,3 tỷ đồng tính theo giá HH), vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ
khoá XV đề ra (10.192 tỷ đồng theo giá SS 1994). GDP bình quân đầu người (theo
giá HH) năm 2005 của tỉnh đạt 5,59 triệu đồng, cao hơn so với mức bình quân của
vùng (5,40 triệu đồng) nhưng mới bằng 55,5% mức bình quân của cả nước (10,08
triệu đồng). Như vậy, tỉnh có điểm xuất phát thuận lợi hơn một số tỉnh trong vùng
nhưng lại không thuận lợi bằng nhiều địa phương khác trong cả nước.
Chuyên đề thực tập
* Nền kinh tế tỉnh tăng trưởng cao hơn nhiều trong 5 năm gần đây, vượt mức
bình quân của cả nước và vùng.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh đạt 8,75% cả thời kỳ
1996-2005, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 7,27% và giai đoạn 2001-2005 tăng
10,25%, đạt mục tiêu Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XV đề ra (từ 9,5% đến 10,5%).
Tốc độ tăng GDP của tỉnh trong giai đoạn 2001-2005 cao hơn mức tăng chung của cả
nước (7,51%), vùng Bắc Trung Bộ (9,51%) và một số tỉnh lân cận (Biểu 3-HT).
Các vùng sản xuất chuyên canh ( mía, chè, dứa ) đã được hình thành và phát triển,
tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho phát triển công nghiệp chế biến. Một số vùng kinh tế
động lực bắt đầu hình thành như vùng Vinh và phụ cận, vùng Hoàng Mai, Phủ Quỳ.
Xét về mức độ đóng góp cho tăng trưởng GDP, trong thời kỳ 1996-2000, khu
vực dịch vụ đóng góp nhiều nhất (36%), tiếp đó là khu vực nông – lâm – ngư
(34,1%), khu vực công nghiệp – xây dựng chỉ đóng góp 29,9%. Trong giai đoạn 5
năm tiếp theo, mức độ đóng góp của các ngành cho tăng trưởng GDP tỉnh đã có sự
thay đổi rõ rệt: khu vực công nghiệp – xây dựng luôn có đóng góp lớn nhất (50,2%),
tiếp đến là khu vực dịch vụ (31,2%) và cuối cùng là khu vực nông – lâm – thủy sản
(18,5%) (Biểu 7-HT). Như vậy, mức đóng góp của khu vực công nghiệp – xây dựng
đã tăng lên rất nhanh (1,64 lần) trong khi mức đóng góp của khu vực nông – lâm –
thuỷ sản giảm rất nhanh (1,84 lần). Điều này thể hiện sự chuyển dịch mạnh trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp, hiện đại.
Mặc dù đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như vậy nhưng do xuất
phát điểm ban đầu thấp nên trong tương lai, nếu chỉ duy trì mức tăng trưởng như hiện
nay thì Nghệ An không thể tăng đáng kể phần đóng góp của tỉnh cho GDP của toàn
vùng, nhất là về công nghiệp và dịch vụ, và khoảng cách phát triển giữa tỉnh với các
địa phương khác trong cả nước sẽ ngày càng tăng lên.
đ Một số ngành, sản phẩm mũi nhọn có sự phát triển tương đối nhanh, vững chắc,
quy mô ngày càng tăng.
Trong cả thời kỳ 10 năm 1996-2005, giá trị tăng thêm (GTTT) ngành công
Chuyên đề thực tập
nghiệp – xây dựng tăng bình quân hàng năm 17,38% (trong đó giai đoạn 2001-2005
tăng nhanh hơn: 21,60%) (Biểu 8-HT). Ngành thương nghiệp tăng tương ứng 8,64%
và 12,08%, cao hơn tốc độ tăng chung của toàn ngành dịch vụ (8,02% và 8,95%);
dịch vụ vận tải kho bãi và thông tin liên lạc (VTKB&TTLL) tăng tương ứng 10,34 và
11,71% (Biểu 10-HT).
Một số sản phẩm chủ lực của tỉnh như thiếc, xi măng, đá xây dựng, cát sỏi,
lạc, mía đường, chè, cao su, cà phê có tốc độ tăng trưởng cao (Biểu 8-HT và 9-HT).
Tuy nhiên, có thể thấy tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ nói chung và phân
ngành du lịch - khách sạn - nhà hàng nói riêng chưa tương xứng với tiềm năng của
tỉnh.
t Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế đã được nâng lên theo thời gian nhưng
mức cải thiện chưa lớn.
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế tính theo GDP giá so sánh 1994 tăng
tương đối nhanh: bình quân cả thời kỳ 1996-2005 tăng 4,74%/năm, mức tăng đều ở
các giai đoạn (Biểu 4-HT). Năng suất lao động trong khu vực công nghiệp tăng
nhanh nhất: bình quân 10,63%/năm thời kỳ 1996-2005 (trong đó giai đoạn 2001-2005
tăng 14,44%/năm). Năng suất lao động trong khu vực dịch vụ tăng không đáng kể
trong 10 năm qua (bình quân 0,74%/năm, riêng trong giai đoạn 2001-2005 tăng khá
hơn - bình quân 3,21%/năm) do số lượng lao động dịch vụ tăng nhanh nhưng không
được đầu tư đồng bộ về mọi mặt nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Năng suất lao
động trong khu vực nông – lâm – thuỷ sản tăng nhẹ ở mức 1,79%/năm trong suốt 10
năm qua nhưng con số tuyệt đối hiện còn rất nhỏ (giai đoạn 2001-2005 giảm
0,31%/năm do năm 2005 bị ảnh hưởng lớn của thiên tai, dịch bệnh). Mức năng suất
lao động chung của toàn nền kinh tế năm 2005 tính theo GDP giá SS 1994 đạt 6,65
triệu đồng (giá HH đạt 10,93 triệu đồng), thấp hơn một chút so với mức trung bình
của vùng Bắc Trung Bộ (tương ứng là 6,77 triệu đồng và 10,99 triệu đồng) nhưng
thấp hơn nhiều so với mức bình quân trong cả nước (tương ứng là 9,20 triệu đồng và
19,62 triệu đồng). Ngành công nghiệp – xây dựng hiện có mức năng suất lao động
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét