Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình Công ty mẹ - Công ty con tại Tổng CT BT

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Lý do chọn đề tài
Bột mì là ngành lương thực quan trọng, sản phẩm bột mì được sử dụng để
chế biến các loại thực phẩm ăn nhanh như mì ăn liền, bánh mì, bánh ngọt; các
loại thực phẩm cao cấp như bánh hộp, bánh snack, bông lan; Trong những năm
gần đây, do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
hình thành tác phong làm việc công nghiệp đã làm tăng nhu cầu về thức ăn
nhanh, bên cạnh đó mức sống xã hội được nâng cao làm cho nhu cầu về quà
bánh trong các dòp lễ hội, tiệc tùng cũng tăng theo. Sự phát triển của ngành nuôi
trồng thủy hải sản đã mở ta một hướng nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới- bột
mì dùng làm nguyên liệu sản xuất thức ăn nuôi tôm- một thò trường đầy tiềm
năng cho ngành sản xuất bột mì.
Từ năm 1997 đến nay, với chủ trương mở cửa nền kinh tế, đầu tư nước
ngoài vào nước ta tăng nhanh bên cạnh việc khuyến khích đầu tư trong nước,
hàng loạt các nhà máy bột mì ra đời với nhiều hình thức đầu tư như 100% vốn
nước ngoài, liên doanh, tư nhân đã tạo ra một môi trường kinh doanh mới năng
động hơn. Việc cấp giấp phép sản xuất bột mì không theo qui hoạch của một số
cơ quan chức năng của Nhà nước ta đã làm cho tốc độ tăng cung về bột mì vượt
quá xa tốc độ tăng của cầu về bột mì, chính vì thế cuộc chiến cạnh tranh giành
giật thò phần của gần 30 nhà máy sản xuất bột mì lớn nhỏ trên cả nước nói
chung, và của 3 nhà máy trong TCT Lương thực Miền Nam nói riêng ngày càng
diễn ra gay gắt hơn, khốc liệt hơn, làm ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận cũng
như hiệu quả kinh tế của toàn ngành.
Trước đây TCT Lương thực Miền Nam đã từng là nhà sản xuất và cung
ứng gần như độc quyền sản phẩm bột mì trên phạm vi toàn quốc nhưng từ khi có
cạnh tranh, thò trường bột mì của TCT Lương thực Miền nam đã và đang bò đang
mất dần, các đối thủ cạnh tranh ngày càng chiếm ưu thế. Để tồn tại và phát triển

-5-
trong một môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy, cần phải đánh giá lại mình tìm
ra điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh, phải phân tích thò trường để
tìm ra cơ hội hay mối đe dọa để từ đó có thể đưa ra các đối sách nhắm củng cố
hay mở rộng thò trường tiêu thụ bột mì của mình, nếu không ngành sản xuất bột
mì của TCT Lương thực Miền Nam sẽ bò các đối thủ cạnh tranh đánh bật ra khỏi
cuộc chiến.
Thế nhưng, hiện nay TCT Lương thực Miền Nam chưa thấy được nguy cơ
bò đào thải ấy, chưa có một đối sách dài hạn nào nhằm củng cố và mở rộng thò
trường bột mì của mình. Trước thực trạng đó, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp
nhằm củng cố và mở rộng thò trường bột mì của TCT Lương thực Miền
Nam” trên cơ sở phân tích các lợi thế cạnh tranh riêng có của 3 nhà máy bột mì
trong TCT Lương thực Miền Nam về vốn, qui mô sản xuất, kinh nghiệm, khả
năng kỹ thuật, công nghệ, thương hiệu để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm
góp phần củng cố và mở rộng thò trường bột bì cũng như góp phần giữ vững vò
thế đầu ngành và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bột mì của TCT Lương
thực Miền Nam.
2/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Giúp cho TCT Lương thực Miền Nam
• Đánh giá rõ hơn về nội lực của mình.
• Đánh giá rõ hơn về đối thủ cạnh tranh.
• Thấy được những cơ hội cũng như những đe dọa từ môi trường bên ngoài
công ty
Trên cơ sở phân tích để đề ra một số giải pháp nhằm củng cố và mở rộng
thò trường bột mì của TCT Lương thực Miền Nam trong khoảng thời gian từ nay
đến năm 2010
3/ Đối tượng và giới hạn của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhà máy sản xuất bột mì của TCT
Lương thực Miền Nam. Đây là một lónh vực khá rộng và liên quan đến nhiều

-6-
vấn đề khác nhau, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến thò trường bột mì mà cụ thể là đi sâu phân tích, đánh
giá các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động sản xuất kinh doanh bột mì
trên toàn quốc.
4/ Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích và làm rõ những nội dung của đề tài, luận văn đã sử dụng
nhiều phương pháp tổng hợp như thống kê- toán, phương pháp logic và lòch sử,
phương pháp hệ thống, so sánh, đối chiếu.
5/ Nội dung kết cấu của luận án
Luận án gồm 60 trang, 16 bảng biểu, 2 sơ đồ, 11 phụ lục & đồ thò. Ngoài
Phần Mở Đầu, Phần Kết Luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung kết
cấu của luận án bao gồm 3 Chương.
Chương 1: Tổng quan về thò trường và thò trường bột mì Việt Nam
Chương 2: Thực trạng phát triển thò trường bột mì của TCT Lương thực Miền
Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm củng cố & mở rộng thò trường bột mì của TCT
Lương thực Miền Nam
Nguồn số liệu được sử dụng trong luận án : qua số liệu thống kê ngành, qua điều
tra thực tế tại một số doanh nghiệp sản xuất & kinh doanh bột mì, các báo cáo,
tổng hợp của các Nhà máy, TCT Lương thực Miền Nam.









-7-

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG & THỊ TRƯỜNG
BỘT MÌ VIỆT NAM
1.1/ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG
1.1.1/ Một số khái niệm căn bản:
1.1.1.1 Khái niệm về thò trường : Khái niệm thò trường có nhiều nghóa
khác nhau tùy theo cách tiếp cận.
Theo quan điểm các nhà kinh tế thì “Thò trường là một sự sắp xếp qua đó
người mua và người bán một loại sản phẩm tương tác với nhau để quyết đònh giá
cả và sản lượng”.
Theo quan điểm của các nhà Markting thì “Thò trường bao gồm các cá
nhân hay tổ chức, thích thú và mong muốn mua một sản phẩm cụ thể nào đó có
thể nhận được những lợi ích thỏa mãn một nhu cầu, ước muốn cụ thể và có khả
năng để tham gia trao đổi này”.
Như vậy có thể hiểu, thò trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể
hiện các quyết đònh của người tiêu dùng về sản phẩm và dòch vụ cũng như các
quyết đònh của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, mẫu mã, bao bì của
sản phẩm, đó là những mối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu, với cơ cấu
cung cầu của từng loại sản phẩm cụ thể.
1.1.1.2 Khái niệm về mở rộng thò trường: Là việc khai thác tối đa khả
năng tiêu thụ sản phẩm của các đối tượng khách hàng trong từng thời kỳ, nhằm
luôn chiếm được thi phần lớn nhất trên các phân khúc thò trường mục tiêu.

1.1.2/ Cơ sở các giải pháp để mở rộng thò trường
Những giải pháp để mở rộng thò trường được thiết kế căn bản dựa trên ba
quan điểm cạnh tranh chính của Michael E. Porter là: chi phí thấp, khác biệt hóa
sản phẩm/ dòch vụ và tập trung trọng điểm.

-8-
Phương cách dẫn đầu chi phí thấp : Công ty đề ra mục tiêu trở thành nhà
sản xuất có chi phí thấp trong ngành đang kinh doanh, một nhà sản xuất có chi
phí thấp phải tìm kiếm và khai thác tất cả mọi nguồn lực có thuận lợi về chi phí.
Nếu một doanh nghiệp có thể đạt được và duy trì một mức chi phí thâùp nói
chung, khi đó nó sẽ trở thành một doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh trên
trung bình với điều kiện là doanh nghiệp có thể khống chế giá cả ở mức trung
bình hoặc gần với mức trung bình ngành. Phương cách chi phí thấp có những
điểm thuận lợi sau:
Thứ nhất: Vì công ty sản xuất ra sản phẩm và dòch vụ với chi phí thấp,
công ty có thể đònh giá bán thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh mà vẫn có thể
có được mức lợi nhuận ngang bằng với các công ty khác. Tất nhiên, khi các đối
thủ hạ giá bán bằng với mức giá mà công ty đặt ra, thì với lợi thế mức giá thành
thấp, công ty sẽ có mức lợi nhuận cao hơn.
Thứ hai: Nếu cuộc chiến tranh giácả xảy ra (thường xảy ra ở giai đoạn
bảo hoà trong chu kỳ sống của sản phẩm). Công ty hoạt động với chi phí thấp sẽ
có lợi thế là cầm cự tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Phương cách khác biệt hóa sản phẩm hoặc dòch vụ: Nếu tạo được lợi thế
cạnh tranh khác biệt hơn hẳn đối thủ, Doanh nghiệp có thể đònh giá sản phẩm
cao hơn giá thông thường, gia tăng doanh số nhờ thu hút được khách hàng thích
nhãn hiệu có đặc trưng nổi bật, xây dựng lực lượng khách hàng trung thành với
nhãn hiệu, có thể gia tăng lợi nhuận khi mức chênh lệch giá cả sản phẩm lớn
hơn mức tăng chi phí để tạo sự khác biệt.
Tuy nhiên, việc thực thi phương cách này sẽ bò thất bại khi khách hàng
không coi trọng tính khác biệt của nhãn hiệu so với nhãn cạnh tranh khác hoặc
sự khác biệt quá đơn giản, dễ bò đối thủ cạnh tranh bắt chước. Chính vì thế
Doanh nghiệp cần xem xét kỹ các chủ đề để tạo sự khác biệt có tính bền vững
so với các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở dựa vào những ưu thế riêng có của mình
như chất lượng, thương hiệu, tính năng, dòch vụ.

-9-
Phương cách chi phí thấp hợp lý kết hợp với tạo sự khác biệt các yếu tố
đầu ra: Theo quan điểm này, Doanh nghiệp sẽ cung cấp cho khách hàng những
giá trò vượt trội so với gía cả sản phẩm bằng cách đáp ứng tốt nhất các mong
muốn của khách hàng với các thuộc tính của sản phẩm như chất lượng cao, dòch
vụ tốt, các đặc trưng nổi bật với mức giá cả hợp lý nhất.
Phương cách trọng tâm hóa: Doanh nghiệp có thể tập trung sự chú ý của
mình vào một phân khúc hẹp như khu vực đòa lý, sản phẩm hay đối tượng khách
hàng, nơi mà đối thủ cạnh tranh chưa có hay chưa đáp ứng tốt nhu cầu và mong
muốn của khách hàng với mục tiêu là dựa vào lợi thế về chi phí hoặc lợi thế về
khác biệt hóa sản phẩm/ dòch vụ cao hoặc cả hai để phục vụ khách khàng tốt
hơn đối thủ cạnh tranh trên những phân khúc thò trường này.
Muốn lựa chọn các giải pháp mở rộng thò trường thích hợp, Doanh nghiệp
cần phải căn cứ vào mục tiêu và các nguồn lực cụ thể của mình để chọn lựa
phương thức thích hợp trong các phương cách chung nói trên nhằm tạo lợi thế
cạnh tranh trên thò trường mục tiêu. Mối liên hệ giữa sự lựa chọn phương cách
mở rộng thò trường và hai yếu tố lợi thế cạnh tranh và phạm vi cạnh tranh như
sau:
Bảng 1.1 : Ba loại chiến lược chung


LI THẾ CẠNH TRANH
CHI PHÍ THẤP

KHÁC BIỆT HÓA

TẬP TRUNG

Thò trường Rộng
Phạm vi cạnh tranh
Thò trường Hẹp
Nguồn: Chiến lược cạnh tranh- Michael E. Porter trang
80
1.1.3/ Vai trò của việc mở rộng thò trường trong hoạt động của Doanh
nghiệp
Việc mở rộng thò trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp mang lại những ưu thế sau:

-10-
Đối với sản xuất: Việc mở rộng thò trường tạo nên ưu thế về qui mô như:
Có nhiều khả năng gia tăng thò phần , thò phần càng lớn thì càng có nhiều khả
năng thu hồi vốn đầu tư, thò phần đem đến thuận lợi giảm chi phí theo qui mô và
dễ phát triển sự trung thành của người tiêu dùng với nhãn hiệu sản phẩm.
Đối với doanh số, lợi nhuận: Việc giảm chi phí theo qui mô đã giúp cho
Doanh nghiệp có thể bán với giá ngang bằng giá của các đối thủ cạnh tranh mà
vẫn có lợi nhuận nhiều hơn, hoặc có thể đònh giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh để
gia tăng doanh số làm cho lợi nhuận trên từng đơn vò sản phẩm có thể bằng
nhưng tổng lợi nhuận lại tăng hơn.
Đối với việc cải tổ doanh nghiệp: Việc mở rộng thò trường đã thúc ép
doanh nghiệp phải tự cải tổ, đổi mới, tái lập lại cấu trúc doanh nhiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu tăng qui mô sản xuất, mở rộng thò trường, đồng thời cũng là điều
kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường luôn biến
động của thời đại ngày nay.
Đối với cạnh tranh: Việc mở rộng thò trường đã tạo nên áp lực cho các
đối thủ cạnh tranh hiện tại, và làm cho các đối thủ tiềm ẩn phải cân nhắc khi
thâm nhập thò trường.
1.2/ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BỘT MÌ VIỆTNAM
1.2.1/
Khái quát về sản phẩm bột mì
Sản phẩm bột mì tại thò trường Việt Nam chủ yếu được chia ra làm các
dạng như sau:
- Bột mì làm nguyên liệu cho sản xuất bánh mì.
- Bột mì làm nguyên liệu cho sản xuất các loại bánh kẹo.
- Bột mì làm nguyên liệu sản xuất thức ăn nhanh dạng sợi như mì ăn
liền, mì sợi, nui…
Nhìn chung, với nguyên liệu sản xuất là bột mì, người ta có thể sản xuất
ra các dạng thực phẩm ăn nhanh, ưu điểm là tỷ lệ đạm cao, dễ nấu nướng, giá cả

-11-
chấp nhận được và thời gian bỏ ra cho bữa ăn rất ít, phù hợp với môi trường làm
việc, học tập trong xã hội hiện nay.
Sản phẩm bột mì được sản xuất theo một qui trình công nghệ xay xát, từ
lúa mì, người ta phải “gia ẩm” cho hạt lúa đạt được độ ẩm nhất đònh, sau đó
được đưa qua một hệ thống nghiền, sàng và ly tâm phức tạp để tách vỏ, phôi lúa
mì thành cám, còn nhân lúa mì thành bột mì. Đặc tính của từng loại bột mì phụ
thuộc vào đặc tính của lúa mì đưa vào quá trình xay xát, và người ta có thể phân
biệt các loại bột mì theo đặc tính kỹ thuật như độ đạm (protein) hoặc độ kết dính
(gluten) của nó.
Ở Việt Nam ta không trồng được lúa mì, nên 100% nguyên liệu lúa để
sản xuất bột mì đều phải nhập khẩu, nguồn nhập khẩu chính từ các nước Úc, Mỹ
(để sản xuất bột bánh mì, bánh ngọt, bánh bao), n Độ, Trung Quốc (để sản
xuất bột làm mì ăn liền, bánh xốp); Vì vậy, chất lượng, giá cả bột mì sản xuất
trong nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn lúa nguyên liệu, ngoài ra các khoản
chi phí xăng dầu, tình hình chiến tranh tại các khu vực trên thế giới cũng làm
ảnh hưởng đến giá cả nguồn nguyên liệu bột mì của Việt Nam.
Bảng 1.2: Sản lượng lúa mì nhập khẩu bình quân hàng năm trong giai đoạn
(2000-2003)
Stt Nguồn lúa mì nhập khẩu chủ yếu Số lượng (tấn/năm)
1 Lúa mì c 580,000
2 Lúa mì n Độ 280,000
3 Lúa mì Trung Quốc 215,000
4 Lúa mì Mỹ 32,000
Tổng cộng 1,107,000
Nguồn: Số liệu thống kê ngành sản xuất bột mì- Bộ Nông nghiệp & PTNT
1.2.2/
Cung cầu của thò trường bột mì:
Tổng cung về bột mì: là toàn bộ lượng bột mì do các doanh nghiệp trong
nước sản xuất ra và lượng bột mì được nhập khẩu cung ứng trên thò trường trong
thời gian một năm.

-12-
Sau năm 1975, cả nước chỉ có nhà máy bột mì Bình Đông, công suất
600tấn/ngày (và nâng lên 950 tấn/ngày vào những năm 1990), trong khi đó nhu
cầu tiêu thụ bột mì trong nước tương đối lớn, nên phần lớn là phải nhập khẩu bột
mì. Đầu những năm 2000, chính phủ quyết đònh đầu tư thêm hai nhà máy, một ở
Cái Lân và một ở Đà Nẵng. Đây cũng chính là thời gian mà các đòa phương
trong toàn quốc “đua nhau”, tạo cơ chếù thông thoáng, kêu gọi, thu hút đầu
tư…Chính phủ cũng đồng thời thực hiện việc nâng cấp giấy phép đầu tư cho các
tỉnh, thành, các khu công nghiệp. Chính vì thế mà chỉ trong một thời gian ngắn,
hàng loạt dự án xây dựng nhà máy bột mì được cấp giấy phép, hoạt động. Đến
nay đã có gần 30 nhà máy bột mì trên cả nước. Công suất khoảng 1,5 - 2triệu
tấn/năm. Sản lượng bột mì nhập khẩu cũng vì thế mà giảm dần theo các năm,
hiện nay lượng bột mì nhập khẩu hàng năm rất thấp, chỉ khoảng 36 nghìn
tấn/năm, chiếm tỷ lệ khoảng 4,5% tổng cung bột mì. Có thể nhận thấy, sản xuất
bột mì trong nước đã gần như đáp ứng được hết các nhu cầu sử dụng bột mì trong
nước, chỉ còn một lượng bột mì rất nhỏ được nhập khẩu, chủ yếu để đáp ứng một
số nhu cầu riêng biệt. Theo số liệu thống kê, lượng bột mì được nhập khẩu qua
các năm như sau:
Bảng 1.3: Sản lượng bột mì nhập khẩu
Năm
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Sản lượng(nghìn tấn)
254,2 296 151,6 271 150 86,7 65,6 61.6 51
Nguồn: Niên giám thống kê
Tổng cầu về bột mì : là toàn bộ lượng bột mì mà ngøi mua muốn mua
trong một năm. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ bột mì nước ta khoảng 800.000 đến
1.000.000 tấn/năm.
Như vậy, với khả năng sản xuất bột mì trong nước khoảng 1,5 - 2 triệu
tấn/năm, đã vượt quá xa cầu về bột mì. Theo dự báo của các nhà kinh tế thì tốc
độ tăng trưởng bột mì của Việt Nam là 10%/năm. Với tốc độ tăng trưởng như

-13-
vậy thì trong khoảng thời gian 7 đến 10 năm nữa nhu cầu về bột mì mới bằng với
khả năng cung ứng bộät mì của các nhà máy hiện nay.
1.2.2.1/ Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu bột mì
Thò trường sản phẩm bột mì là thò trường sản phẩm công nghiệp, cầu của
sản phẩm công nghiệp là cầu đầu vào phát sinh từ cầu đầu ra, do đó các đặc
trưng của nó là kém co giãn, giao động theo cầu đầu ra của các sản phẩm sử
dụng nguyên liệu bột mì như mì ăn liền, bánh mì, bánh ngọt. Cầu về bột mì chòu
ảnh hưởng của một số nhân tố như:
- Hệ thống luật pháp và chính sách của Nhà nước: Chính sách khuyến
thích, bảo hộ xuất khẩu của Nhà nước ở một số mặt hàng như thủy hải sản, hàng
tiêu dùng như gạo, mì gói,…đã làm cho cung về sản phẩm sau bột mì tăng, kéo
theo cầu về bột mì cũng tăng.
- Tính thời vụ trong tiêu thụ sản phẩm bột mì cũng ảnh hưởng đến cầu,
nhất là và các dòp Lễ, Tết, vụ mùa thu hoạch lúa gạo.
- Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mang lại một phong cách
làm việc mới, một lối sống mới đòi hỏi con người phải tận dụng thời gian để làm
việc, và điều này cũng ảnh hưởng đến cầu bột mì khi các loại thức ăn nhanh
được chế biến từ bột mì ngày càng đa dạng, phong phú hơn, dinh dưỡng và hợp
khẩu vò hơn.
- Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, dẫn đến nhu cầu xã giao tăng
do đó nhu cầu về bánh, kẹo cho quà cáp cũng tăng theo và ảnh hưởng đến cầu
bột mì.
1.2.2.2/ Các nhân tố ảnh hưởng đến cung bột mì
Cung về bột mì là toàn bộ khối lượng bột mì hiện đang có hoặc sẽ được
đưa ra bán trên thò trường trong một khoảng thời gian xác đònh, cung về bột mì
chiïu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau.
Thứ nhất: Là qui mô và số lượng của các doanh nghiệp sản xuất bột mì.

-14-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét