giàu có từ các nước phát triển có thể dẫn tới lối sống thượng lưu, sự tích luỹ của
cải riêng, chảy máu chất xám và nhượng vốn… tất cả những điều này làm cản trở
quá trình phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển.
2/ Quan điểm đánh giá hoạt động thương mại:
a.Quan điểm của trường phái bi quan:
Trường phái bi quan cho rằng việc phân phối các yếu tố về con người và công
nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, theo lý thuyết lợi thế so
sánh, các nước đang phát triển chỉ có thể chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu
các nguyên vật liệu, nhiên liệu, khoáng sản và lương thực thực phẩm sang các nước
phát triển. Trong khi đó sẽ nhập khẩu các sản phẩm chế tạo từ các nước phát triển.
Trường phái bi quan cho rằng mô hình chuyên môn hóa và mậu dịch này chuyển
các nước đang phát triển sang vị trí lệ thuộc vào các nước phát triển và làm cho các
nước phát triển thu được các lợi ích từ công nghệ là: lực lượng lao động được đào tạo
nhiều hơn, sáng kiến tăng lên, mang lại giá trị cao và ổn định hơn cho xuất khẩu, thu
nhập của dân chúng tăng lên. Trong khi đó các nước đang phát triển ngày càng rơi vào
tình trạng nghèo khổ, lạc hậu và lệ thuộc. Điều này càng được tăng cường bằng các
quan sát thực tế rằng các nước phát triển lấy kinh tế công nghiệp làm nền tảng, trong
khi các nước đang phát triển lại chủ yếu dựa vào sự phát triển nông nghiệp hoặc khai
thác quặng mỏ.
Rõ ràng cách nhìn nhận của trường phái bi quan là dựa trên lý thuyết truyền thống
về mậu dịch quốc tế được xem xét ở trạng thái tĩnh. Trong khi đó, trên thực tế, cùng
với sự phát triển nhiều mặt, lý thuyết truyền thống về mậu dịch quốc tế cần được xem
xét ở trạng thái động. Có nghĩa là, một khi điều kiện sản xuất đã thay đổi thì cơ cấu
hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển cũng có thể được thay đổi theo.
b. Quan điểm của trường phái lạc quan:
Ngược với quan điểm của trường phái bi quan, trường phái lạc quan cho rằng mậu
dịch quốc tế lại là rất quan trọng đối với các nước đang phát triển và các nước này vẫn
thu lợi từ mậu dịch quốc tế. Cơ sở của quan điểm này là phải nhìn nhận mậu dịch
quốc tế ở trạng thái động. Có nghĩa là lý thuyết mậu dịch truyền thống có thể được
mở rộng để kết hợp với những thay đổi của những nhân tố cung, công nghệ và thị
hiếu con người bằng “kỹ thuật tĩnh tương đối”. Nghĩa là mô hình phát triển của một
quốc gia không chỉ được xác định một lần cho toàn bộ quá trình phát triển mà có thể
tính lại mỗi khi điều kiện cơ bản đã thay đổi. Vì thế các nước đang phát triển không
cần loại bỏ thuyết mậu dịch truyền thống hoặc luôn luôn phủ nhận nó trong vấn đề
xuất khẩu phần lớn các mặt hàng thô sơ và nhập khẩu đa phần các mặt hàng chế tạo.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc mở rộng sản xuất công nghiệp không phải lúc nào
cũng đóng vai tò tối ưu cho các nước đang phát triển khan hiếm tài nguyên. Các nước
NICs trong thời gian đầu phát triển công nghiệp đã chọn sản xuất những mặt hàng còn
5
“trống” trong nhu cầu thị trường quốc tế và dùng lao động để sản xuất các sản phẩm
nhỏ nhoi cần ít vốn đầu tư nhưng khả năng tiêu thụ trên thị trường thế giới là rất lớn.
Họ bắt đầu từ những sản phẩm mà các quốc gia khác lảng tránh như hoa nhựa, đồ
chơi trẻ em, giày dép…, điều này khiến cho các nước thành công vì sản xuất những
cái “nhỏ” mà lại xuất khẩu với khối lượng khổng lồ, không tham cái “lớn” khi nó còn
ngoài tầm tay. Nhất là muốn phát triển những ngành “lớn” này cần phải có nhiều vốn,
trình độ quản lý cao và hiểu biết khoa học kỹ thuật mà NICs lại chưa có. Bằng cách
này chẳng những mau chóng lọt vào thị trường quốc tế mà họ còn có thể giải tỏa tình
trạng thất nghiệp.
Ngược lại với lối đi trên, các nước có nền kinh tế chỉ huy đôi khi chỉ ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng, đầu tư không có tập trung và hiệu quả vào ngành công nghiệp
đòi hỏi nhiều vốn, kỹ thuật cao trong buổi đầu phát triển kinh tế đã dẫn đến kết quả là
kinh tế không phát triển, trì trệ mà một số nước đã mắc phải trong nhiều năm qua.
Vì vậy, trong khi chờ đợi một lý thuyết đông thật sự, các nước đang phát triển
không nên phủ nhận lý thuyết tĩnh tương đối có thể đưa đến sự hợp nhất những thay
đổi chủ đạo của nền kinh tế với lý thuyết mậu dịch truyền thống. Và kết quả là lý
thuyết mậu dịch truyền thống vẫn có khả năng thích hợp với các nước đang phát triển
nhưng phải tính đến quá trình phát triển kinh tế của họ.
Để đánh giá vai trò của mậu dịch quốc tế đối với các nước đang phát triển, có thể
sử dụng những khẳng định của Harbenler:
Mậu dịch có thể đưa đến việc sử dụng hết các nguồn lao động trong nước. Nếu
không có thương mại sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng không hết nguồn nhân
công trong nước. Đó là vì nhờ thương mại một nước đang phát triển có thể trở
thành một điểm sản xuất không có hiệu quả bên trong giới hạn sản xuất của
mình sang một điểm trên đường giới hạn sản xuất khi có thương mại.
Như vậy, đối với một quốc gia, thương mại tương ứng với một lối thoát cho
thặng dư hoặc là một lối thoát cho thặng dư tiềm năng của các mặt hàng nguyên
liệu và nông sản. Điều này thực tế đã xảy ra ở nhiều nước đang phát triển đặc biệt
là vùng Đông Nam Á và Tây Châu Phi.
Hơn nữa, nhờ việc mở rộng quy mô thị trường, mậu dịch đã tạo ra sự phân
công lao động hợp lý và tính kinh tế nhờ quy mô. Đây là điểm quan trọng, đặc
biệt trong sản xuất sản phẩm công nghiệp nhẹ thuộc các đơn vị kinh tế nhỏ ở
Hồng Kông, Đài Loan và Singapore.
Mậu dịch quốc tế là động cơ chuyển động các tư tưởng mới, công nghệ mới,
quản lý sản xuất mới và những chuyên môn khác.
Mậu dịch cũng khuyến khích và tạo điều kiện dễ dàng cho nguồn tư bản quốc
tế từ nước phát triển chảy vào các nước đang phát triển. Trong trường hợp đầu
tư trực tiếp của nước ngoài vào một quốc gia nào đó thì quốc gia này, các công
ty nước ngoài sẽ đầu hành việc đầu tư và luồng tư bản nước ngoài đổ vào
thường kèm theo các chuyên viên điều hành trực tiếp.
6
Ở các nước đang phát triển có diện tích lớn, đông dân như Ấn Độ, Brasil việc
nhập khẩu các sản phẩm mới, kỹ thuật cao từ các nươc phát triển đã kích thích
sản xuất và nhu cầu tiêu thụ nội địa ở các nước này.
Sau cùng, thương mại là vũ khí chống độc quyền rất tốt vì nó khuyến khích các
nhà sản xuất trong nước có nhiều khả năng tốt hơn để đối phó cạnh tranh với
nước ngoài, nhằm giữ chi phí thấp, hiệu quả cao.
3/ Liên hệ Việt Nam:
Nhìn lại bức tranh thương mại của Việt Nam từ năm 1986 đến 2005, mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu vẫn là những sản phẩm khai khoáng, thâm dụng lao động, sử dụng
lao động nhân công giá rẻ và những mặt hàng có nguồn gốc từ ngành nông nghiệp.
Bên cạnh đó, chúng ta lại nhập khẩu chủ yếu những hàng hóa phục vụ cho sản xuất
trong nước như máy móc, nguyên nhiên vật liệu.
Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu (%)
Hàng hóa 1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2005
1.Hàng CN nặng và khoáng sản 16.0 30.4 31.4 31.1
2.Hàng CN nhẹ và tiểu thủ CN 29.8 21.4 34.8 40.4
3.Hàng nông sản và NS chế biến 35.7 31.5 22.7 15.3
4.Hàng lâm sản 6.0 4.0 1.8 1.1
5.Hàng thủy sản 12.2 12.8 9.2 10.1
Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu (%)
Hàng hóa 1986-1990 1991-1995 1996-2000 2001-2005
1.Tư liệu sản xuất 87.3 85.0 91.1 93.6
-Máy móc thiết bị 33.3 25.4 29.8 28.5
-Nguyên nhiên vật liệu 51.1 59.6 61.3 64.9
2.Vật phẩm tiêu dùng 12.7 15.0 8.9 6.4
7
Xem xét cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam qua các năm có thể nhận thấy
định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta: trong tổng trị giá xuất khẩu
sản phẩm nông lâm nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất vào giai đoạn đầu 1986-1990 là
35.7% sau đó giảm lien tục và dừng ở mức 15.3% thời kì 2000-2005, công nghiệp
khai thác tăng 16.0% ở giai đoạn 1986-1990 đến 33.1% ở 2000-2005, công nghiệp
chế biến giai đoạn cuối là 40.4% tăng 1,5 lần thời kì đầu. Điều đáng chú ý là tốc độ
tăng trung bình hàng năm từ 1986-2005 đứng đầu là nhóm công nghiệp khai thác
(29.4%), tiếp đến là sản xuất nông nghiệp chế biến (22,2%), hàng thủy sản (19.1%) và
hàng nông sản (15.1%) cuối cùng là hàng lâm sản (11.9%). Theo dự báo của các
chuyên gia, giai đoạn 2006-2010, nhóm sản phẩm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ
dự kiến sẽ là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất với trung bình 36,3%/năm,
chiếm 50,6% tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả giai đoạn. Năm 2006 tỷ trọng của
nhóm này là 45,9% và dự báo tăng lên 54,1% vào năm 2010 với kim ngạch trên 39 tỷ
USD.
Nhận thấy tầm quan trọng của xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam
hiện nay đã đưa ra nhiều biện pháp để giải quyết 4 vấn đề lớn nhằm chuyển dịch cơ
cấu mặt hàng xuất nhập khẩu. Đó là về cơ cấu hàng xuất khẩu, chính sách xuất khẩu,
xúc tiến thương mại và chính sách tỷ giá. Cụ thể:
Thứ nhất, Việt Nam cần phải tập trung định hướng các hoạt động xuất nhập
khẩu phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.
Về mặt xuất khẩu, cần hạn chế khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên
cũng như các hoạt động chế biến gây tác hại nặng lên môi trường. Bên cạnh đó, cần
khuyến khích và tạo điều kiện cho các mặt hàng xuất khẩu thân thiện với môi trường.
Ví dụ, dựa trên thế mạnh nông nghiệp truyền thống, có thể định hướng/hỗ trợ cho các
hoạt động sản xuất thực phẩm hữu cơ (organic foods) để xuất khẩu vào các thị trường
đầy tiềm năng như Nhật Bản. Sản xuất thực phẩm hữu cơ vừa thân thiện với môi
trường vừa có giá trị xuất khẩu cao hơn.
Về mặt nhập khẩu, cần phải tránh các công nghệ cũ đang bị các nước khác loại
bỏ và tìm cách bán tháo. Bên cạnh đó, cần khuyến khích nhập khẩu các công nghệ
phục vụ cho quá trình phát triển các ngành công nghiệp phù hợp với phát triển bền
vững, chẳng hạn như điện gió và năng lượng mặt trời.
Thứ hai, cần tìm cách mở ra những thị trường mới để tránh tình trạng quá phụ
thuộc vào Mỹ, EU, Nhật Bản. Thị trường châu Phi, Trung Đông, châu Đại Dương và
ngay cả thị trường châu Á đều được đánh giá là sẽ phục hồi rất nhanh và trong các nỗ
lực mở rộng giao thương thông qua con đường ký kết các hiệp định thương mại tự do
song phương, Việt Nam cần chú tâm (a) chọn lựa những đối tác vừa có thể đưa lại lợi
ích thương mại và vừa phục vụ mục tiêu chiến lược ngoại giao như Mỹ, Ấn Độ,
Nga… (b) đòi hỏi đối tác xóa bỏ những rào cản đối với các mặt hàng mà mình đang
có lợi thế so sánh và để đáp lại thì có thể nhượng bộ mạnh tay hơn đối với các mặt
8
hàng đã bị hàng nhập khẩu các nước khác chiếm lĩnh. Ví dụ, đối với một số mặt hàng
đang bị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm lĩnh thị phần thì có thể linh hoạt dành những
ưu đãi thuế quan đối với các mặt hàng này trong lúc thương lượng một hiệp định với
Ấn Độ. Nếu được như vậy thì nhập khẩu từ Ấn Độ sẽ cạnh tranh với nhập khẩu Trung
Quốc trên thị trường Việt Nam thay vì cạnh tranh với các mặt hàng nội địa khác mà
Việt Nam đang cố gắng phát triển.
Thứ ba, Việt Nam cần sử dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, và
chống bán trợ giá để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước khi
tình thế đòi hỏi phải như thế. Theo đó, Chính phủ cần tạo điều kiện thông tin tốt về ba
biện pháp này để các nhà sản xuất trong nước nắm rõ luật lệ nhằm tạo ra những áp lực
cần thiết khi họ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của nhập khẩu ồ ạt.
Không nên sợ sẽ bị trả đũa, miễn là áp dụng các biện pháp này phù hợp với
luật lệ. Thực tế cho thấy là các nước đang phát triển ngày càng mạnh dạn hơn trong
việc sử dụng chúng. Dùng luật lệ để bảo vệ quyền lợi của mình là một việc cần phải
làm nếu như muốn trở nên vững vàng hơn trong các quan hệ thương mại quốc tế.
9
II. Các chỉ tiêu kinh tế đánh giá hoạt động mậu dịch :
1/ Tỷ lệ mậu dịch:
- Tỷ lệ mậu dịch (The terms of trade) của một quốc gia là tỷ số giữa giá cả hàng xuất
khẩu và giá cả hàng nhập khẩu.
- Trong thế giới hai quốc gia, xuất khẩu của quốc gia này sẽ là nhập khẩu của quốc gia
kia, tỷ lệ mậu dịch của quốc gia thứ hai sẽ bằng số nghịch đảo tỷ lệ mậu dịch của quốc
gia thứ nhất.
- Trong một thế giới có rất nhiều sản phẩm trao đổi ( hơn hai sản phẩm trở lên), tỷ lệ mậu
dịch của một quốc gia được đo bằng tỷ lệ của chỉ số giá cả hàng xuất khẩu P
X
và chỉ số
giá cả hàng nhập khẩu P
M
. Chỉ số giá cả hàng hóa xuất khẩu và chỉ số giá cả hàng nhâp
khẩu được xác định như sau :
+ Chỉ số giá cả hàng xuất khẩu:
X i i
P XP
=
∑
Với, P
x
là chỉ số giá cả hàng xuất khẩu.
X
i
là tỷ lệ của sản phẩm thứ i trong tổng giá trị xuất khẩu.
Pi là giá cả sản phẩm thứ i.
+Chỉ số giá cả hàng nhập khẩu:
M i
i
P MP=
∑
Với, P
x
là chỉ số giá cả hàng xuất khẩu.
M
i
là tỷ lệ của sản phẩm thứ i trong tổng giá trị nhập khẩu.
Pi là giá cả sản phẩm thứ i.
- Tỷ lệ mậu dịch thường được tính bằng phần trăm.
- Các loại tỷ lệ mậu dịch:
a) Tỷ lệ mậu dịch hàng hóa (N) : tỷ số giữa giá cả xuất khẩu P
x
với chỉ số giá cả
nhập khẩu P
M
của một nước :
X
M
N 100
P
P
= ×
Ví dụ, nếu ta chọn năm 1960 là năm cơ sở (base year) có N=100% và thấy rằng đến
cuối năm 1993, P
x
của một quốc gia giảm còn 90% trong khi P
M
tăng lên 5% (thành
105%).Như vậy, tỷ lệ mậu dịch của nước này là :
90
N 100 85,71%
105
= × =
10
Điều này có nghĩa là từ năm 1960 đến năm 1993 chỉ số giá cả xuất khẩu của nước
đó giảm hơn 14% so với chỉ số giá cả xuất khẩu.
b) Tỷ lệ mậu dịch thu nhập I :
X
X
M
I .
P
Q
P
=
÷
÷
Với, Q
X
là chỉ số khối lượng xuất khẩu. Vì vậy tỷ lệ mậu dịch nhập khẩu I đo khả
năng nhập khẩu dựa vào xuất khẩu.
Trong ví dụ trên, nếu Q
X
tăng từ 100 vào năm 1960 lên 130 vào năm 1993 thì điều
kiện thu nhập thương mại tăng đến :
90
I .130 111,42
109
= =
÷
Điều đó có nghĩa là từ năm 1960 đến năm 1993, khả năng nhập khẩu quốc gia
(dựa vào doanh thu xuất khẩu) tăng 11,42% (mặc dù P
x
/P
M
giảm).
Sự thay đổi về tỷ lệ mậu dịch thu nhập rất quan trọng với các nước đang phát triển vì
họ tin vào việc mở rộng hàng hóa tư bản nhập khẩu để phát triển quốc gia.
c) Tỷ lệ mậu dịch yếu tố đơn S:
S
X
x
M
.
P
Z
P
=
÷
÷
Ở đây, Z
X
là chỉ số năng suất của khu vực xuất khẩu quốc gia.Do đó, S đo tổng số
nhập khẩu quốc gia kiếm được trên mỗi đơn vị yếu tố sản xuất trong nước biểu hiện
trong xuất khẩu.
Ví dụ, nếu sản xuất trong phần xuất khẩu của quốc gia tăng từ 100 vào năm 1960 lên
125 vào năm 1993 thì điều kiện thương mại yếu tố đơn tăng đến :
90
S .125 107,14
105
= =
÷
Nghĩa là trong năm 1993, quốc gia đó nhận được 7,14% nhập khẩu trên mỗi đơn vị
của yếu tố trong nước biểu hiện của xuất khẩu hơn là năm 1960. Dù cho quốc gia có
chia một tỷ lệ vào phần năng suất tăng thêm trong khu vực xuất khẩu với nước khác.
Vậy, trong năm 1993 quốc gia thuận lợi hơn 1960 ( vì nó biểu hiện sự gia tăng I nhiều
hơn dù cho N giảm xuống).
11
d) Tỷ lệ mậu dịch yếu tố kép D : là khái niệm được mở rộng từ khái niệm tỷ lệ yếu tố
đơn. Tỷ lệ mậu dịch yếu tố kép được tính như sau:
X X
M M
D 100
P Z
P Z
= ×
÷ ÷
÷ ÷
Trong đó, Z
M
là chỉ số năng suất nhập khẩu. Vì vậy, D cho ta biết có bao nhiêu đơn vị
yếu tố trong nước biểu hiện trong xuất khẩucủa quốc gia được trao đổi trên mổi đơn
vị của yếu tố nước ngoài biểu hiện trong nhập khẩu.
Ví dụ, nếu Z
M
tăng từ 100 lên 102 từ năm 1960 đến năm 1993 thì D tăng lên :
90 125
D 105,04
105 102
= =
÷ ÷
- Trong 4 loại tỷ lệ mậu dịch trên thì I, N, S là quan trọng
nhất , còn D không quan trọng lắm đối với các nước đang phát triển và ít khi được tính.
- Tuy tỷ lệ mậu dịch quan trọng nhất của các nước đang phát
triển là I và S nhưng vì N dễ đo nhất nên hầu hết các bàn luận trong các tài lệu kinh tế là
tỷ lệ mậu dịch N.
- Trong các ví dụ trên ta thấy: I và S có thể tăng khi N giảm.
(Nói chung, điều này có thể được coi là một thuận lợi cho các nước đang phát triển.T
- ình huống thuận lợi nhất là tất cả I, N, S đều tăng và tình
huống xấu cho một nước đang phát triển là cả 3 tỷ lệ mậu dịch I, N, S đều giảm.
2/ Cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của
một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch
này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính
phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản
thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một
quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú
trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi
sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi
vào bên tài sản có.
a/ Các thành phần của cán cân thanh toán
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993, cán cân
thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
_Tài khoản vãng lai :
Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản.
12
_Tài khoản vốn :
Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính.
_Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước :
Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ nên gần như tăng giảm của
cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên.
_Mục sai số :
Do khó có thể ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi
chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong cán
cân thanh toán như là mục sai số.
b/ Các bộ phận của cán cân thanh toán
_Cán cân thường xuyên (current account)
_Cán cân luồng vốn (capital account)
_Cán cân tài trợ chính thức (official reserve account)
3/ Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc
gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất
khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng.
BOT = X - M
(Balance Of Trade) (Export) (Import)
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán
cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương.
Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị
âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận
thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc
tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ.
13
a/Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
_Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn.
Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên
(MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ví
dụ, MPZ bằng 0,2 nghĩa là cứ 1 đồng GDP có thêm thì người dân có xu hướng
dùng 0,2 đồng cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối
giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả
trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên
và ngược lại. Ví dụ: nếu giá xa đạp sản xuất tại Việt Nam tăng tương đối so với
giá xe đạp Nhật Bản thì người dân có xu hướng tiêu thụ nhiều xe đạp Nhật Bản
hơn dẫn đến nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng.
Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác
vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó chủ yếu
phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế
trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường
quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa
nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn
đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho
xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm.
Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi
nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên.
4/ Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu
a/ Lý thuyết thương mại nội thành :
Khi nói về thương mại quốc tế truyền thống, chúng ta thường nghĩ đến hoạt động xuất
khẩu các mặt hàng mà một nước có lợi thế so sánh và nhập khẩu các mặt hàng mà nước
đó không có lợi thế so sánh.Đó là thương mại liên ngành (inter-industry trade – INT).
Thương mại nội bộ ngành (intra-industry trade – IIT hay thương mại nội bộ ngành) được
hiểu là thương mại hai chiều – khi quốc gia xuât khẩu và nhập khẩu cùng một loại mặt
hàng. Thương mại nội ngành được chia thành thương mại nội ngành theo chiều ngang
liên quan đến sản phẩm tương tự xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời tại cùng một giai
đoạn của quá trình sản xuất,và chủ yếu là do sự khác biệt về mặt sản phẩm; và theo chiều
dọc, thương mại nội ngành theo chiều dọc liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa
đồng thời trong cùng một ngành,nhưng tại các giai đoạn sản xuất khác nhau và chủ yếu
là do sự chuyên sâu về nhân tố trong một ngành.
Những người khởi xướng về lý thuyết thương mại nội ngành là Balassa (1966), Grubel
và Lloyd (1975).Chỉ số cổ điển để đo lường thương mại nội ngành là chỉ số Grubel-Lloyd
( 1975). Chỉ số này được diễn tả như sau :
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét