Vùng trồng lúa kém hiệu quả ở xã Sông Khoai (Yên Hưng) đã
được quy hoạch thành vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung.
Trong quá trình triển khai quy hoạch cụ thể ở cấp xã, tỉnh đã có chỉ đạo cơ bản tôn trọng hiện trạng,
chủ yếu là chỉnh trang lại. Người dân phải được trực tiếp tham gia vào quy hoạch và chấp nhận, tuân
thủ những quy định ấy, các nhà tư vấn chỉ giúp đỡ về mặt kỹ thuật là chính. Mặt khác, để có được
những sự hoạch định tốt, phải khảo sát, đánh giá nắm bắt hiện trạng về nông thôn của địa phương,
so với 19 tiêu chí nông thôn mới. Việc quy hoạch ở cấp xã phải do UBND cấp xã chủ trì, UBND cấp
huyện phê duyệt. Ngân sách Nhà nước sẽ đầu tư 100% để làm các quy hoạch chung, vùng sản xuất
tập trung, khu trung tâm xã, dân cư, còn lại các quy hoạch khác huy động vốn từ các đơn vị chuyên
ngành. Để triển khai công tác lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới, ngành Xây dựng,
NN&PTNT, Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp với các Viện, Học viện tiến hành mở
các lớp tập huấn cho lãnh đạo UBND các địa phương; lãnh đạo và cán bộ địa chính xây dựng của
125 xã, phường và các đơn vị tư vấn tham gia làm công tác quy hoạch về quy hoạch xây dựng, sản
xuất và sử dụng đất trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Các địa phương đã phối hợp với
các ngành, đơn vị tư vấn thực hiện các bước lập quy hoạch trên địa bàn. Đến hết tháng 4 toàn bộ 125
xã đã phê duyệt xong nhiệm vụ quy hoạch. Trong quá trình thực hiện một số địa phương thuê các
đơn vị tư vấn thực hiện khoanh vùng, phân loại theo cụm có những điểm chung về mặt kinh tế - văn
hoá - xã hội để đẩy nhanh tiến độ. Điển hình như huyện Đông Triều đã uỷ quyền cho Phòng Kinh tế-
Hạ tầng ký hợp đồng với 4 đơn vị tư vấn thực hiện lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở 3 khu
vực khác nhau. Cụ thể Công ty CP Vương Long lập quy hoạch cho 5 xã An Sinh, Bình Dương,
Nguyễn Huệ, Thuỷ An, Việt Dân; Công ty CP Tư vấn quy hoạch xây dựng nhà ở Quảng Ninh lập
quy hoạch cho 5 xã Tràng Lương, Bình Khê, Yên Thọ, Hoàng Quế, Yên Đức; Công ty CP Đầu tư tư
vấn Đông Dương Quảng Ninh lập quy hoạch cho 7 xã Hồng Phong, Đức Chính, Hưng Đạo, Xuân
Sơn, Kim Sơn, Tràng An, Tân Việt; Công ty CP Tư vấn quy hoạch xây dựng miền Bắc lập quy
hoạch cho 2 xã Hồng Thái Đông và Hồng Thái Tây. Sau khi được phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch,
các đơn vị tư vấn đang xây dựng đồ án quy hoạch cho các xã và huyện đặt mục tiêu phấn đấu sẽ
hoàn thành trước 1 tháng so với tiến độ chung của cả tỉnh. Mặc dù tất cả các địa phương đều đã hoàn
thành phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch tuy nhiên qua kiểm tra của cơ quan chuyên môn thấy xuất hiện
nhiều vấn đề cần sớm có sự điều chỉnh. Đó là, có xã lồng ghép quy hoạch sản xuất vào quy hoạch
xây dựng; số điểm mạng dân cư lập quy hoạch chi tiết cũng chưa thống nhất về nguyên tắc triển
khai. Lẽ ra công tác lập quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới phải thực hiện trên cơ sở đánh giá
thực trạng, nhu cầu, nguyện vọng của người dân tại chỗ, từ đó các đơn vị tư vấn giúp xã hoàn chỉnh
thành đồ án quy hoạch chung và dựa trên thực tế để lập quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng
nhưng do các xã chưa xác định rõ trách nhiệm của mình, nội dung yêu cầu lập quy hoạch mà trông
chờ, ỷ lại vào đơn vị tư vấn. Ở cấp huyện khi thẩm định nhiệm vụ quy hoạch còn nhiều hạn chế, do
đó dẫn đến dự toán lập quy hoạch của các xã rất khác nhau, có xã trên 100 triệu đồng nhưng có xã
lên tới trên 2 tỷ đồng. UBND tỉnh đã có quyết định quy định cụ thể về phương thức triển khai lập
quy hoạch nông thôn mới cấp xã, đó là giao cho UBND xã làm chủ đầu tư đồ án quy hoạch. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện mỗi địa phương làm một kiểu. Các địa phương Uông Bí, Đông
Triều, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Bồ, Bình Liêu thì giao cho UBND cấp xã làm chủ đầu tư nhưng
các địa phương như Yên Hưng, Vân Đồn, Ba Chẽ, Hải Hà, Đầm Hà, Cẩm Phả, Cô Tô lại giao cho
cơ quan chuyên môn làm chủ đầu tư mà theo lý giải của các địa phương này là do đây là nhiệm vụ
hoàn toàn mới, trình độ của cán bộ cấp xã chưa đáp ứng nếu để các xã thực hiện có thể sẽ làm chậm
tiến độ của quá trình thực hiện.
Theo kế hoạch đến hết tháng 6/2011 toàn tỉnh phải hoàn thành việc lập quy hoạch xây dựng nông
thôn mới cấp xã, hiện nay các địa phương đang tập trung vào lập đồ án quy hoạch vì vậy cán bộ xã,
thôn, bản, làng cần chủ động phối hợp với đơn vị tư vấn tổ chức thực hiện. Đồng thời huy động sự
vào cuộc của nhân dân để đẩy nhanh công tác lập quy hoạch chung, làm căn cứ từng bước lập quy
hoạch chi tiết, xây dựng từng khu chức năng như khu trung tâm xã, các điểm dân cư, các công trình
hạ tầng (chợ, giao thông, thuỷ lợi…) khu sản xuất cũng như triển khai hiệu quả chương trình xây
dựng nông thôn mới ở mỗi địa phương.
Nguồn Báo Quảng Ninh
CẦN CHÚ TRỌNG HƠN CÔNG TÁC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
NÔNG – LÂM - THUỶ SẢN
Quảng Ninh là tỉnh có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn, phong trào chăn nuôi, trồng trọt phát triển
nên nhu cầu về giống và các loại thức ăn, hoá chất phục vụ chăn nuôi nói chung, thuỷ hải sản nói
riêng, là rất lớn. Từ đó, với đặc điểm địa hình đồi núi, đường biên giới dài, khó kiểm soát, việc thẩm
lậu các loại giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc, hoá chất phục vụ chăn nuôi v.v. từ nước ngoài vào là
rất phổ biến. Vì vậy, trong những năm qua, các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã đẩy mạnh
công tác tuyên truyền; đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo tốt công tác vệ sinh an
toàn thực phẩm (VSATTP) nông, lâm, thuỷ sản. Công tác tuyên truyền cho người dân về vệ sinh an
toàn thực phẩm nông, lâm, thuỷ sản ngày càng được chú trọng với nhiều hình thức đa dạng, phong
phú. Nội dung tuyên truyền tập trung sâu vào tác hại của dư lượng kháng sinh và tạp chất trong sản
phẩm thuỷ sản, kiểm dịch con giống và phòng tránh dịch bệnh đối với thuỷ sản nuôi, tác hại dư
lượng thuốc, hoá chất trong rau, củ, quả đối với sức khoẻ con người, sự phát triển của giống nòi v.v.
Nhờ đó người dân đã chú trọng hơn đến trồng rau an toàn, phát triển chăn nuôi theo quy mô trạng
trại… Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh còn tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt Dự án
đảm bảo VSATTP trong sản xuất, chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2010-2015 và
Dự án quy hoạch vùng trồng rau an toàn đến năm 2015 và 2020… để tăng nguồn thực phẩm cung
ứng trên địa bàn, tạo thuận lợi cho việc kiểm soát thực phẩm từ gốc.
Điểm bán hoa quả tại chợ trung tâm thị trấn
Cái Rồng (Vân Đồn) được bố trí ngay sát điểm bán gia
cầm sống.
Bên cạnh công tác tuyên truyền; việc kiểm tra, kiểm soát VSATTP nông, lâm, thuỷ sản cũng được
chú trọng. Để tạo thuận lợi cho các đơn vị, địa phương trong quá trình kiểm tra; năm 2010, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức tập huấn công tác quản lý chất lượng ATTP; những thông
tư, quy định về các biện pháp ngăn chặn hành vi đưa hoá chất sử dụng trong sản xuất nông, lâm
nghiệp; hướng dẫn quy trình phát hiện hoá chất độc hại trong nuôi trồng… đến các phòng, ban của
sở, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các địa phương, một số đơn vị trên địa bàn tỉnh. Từ
năm 2010 đến nay, tỉnh đã tổ chức 3 đợt kiểm tra liên ngành về công tác vật tư nông nghiệp tại 14
huyện, thị trên địa bàn; đồng thời kiểm tra hơn 270 lượt cơ sở về hoá chất bảo vệ thực vật; kiểm tra
hơn 140 cơ sở kinh doanh, sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trên địa bàn. Trong quá trình kiểm tra, các
đoàn tăng cường nhắc nhở, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt công tác VSATTP. Mặc dù, hầu hết các
địa phương chưa có các lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, song việc kiểm soát vệ sinh thú y,
phòng chống dịch bệnh lây qua đường thực phẩm trong chăn nuôi vẫn được tăng cường. Riêng năm
2010, cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra gần 1.750 con gia súc, cấp giấy chứng nhận kiểm
dịch cho 52.900 con lợn và một số sản phẩm khác. Các cơ quan chức năng đã tiến hành lấy 681 mẫu
nông, lâm, thuỷ sản để xét nghiệm, phân tích các chỉ số về VSATTP. Chi cục Quản lý chất lượng
nông lâm sản và thuỷ sản (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng tiến hành lấy 300 mẫu thịt
gia cầm nhập lậu kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn cúm và dư lượng kháng sinh… Từ đó kịp thời cảnh
báo đến cơ quan chức năng và người tiêu dùng. Với việc tăng cường tuyên truyền, kiểm tra, kiểm
soát chất lượng nông, lâm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, người dân đã có ý thức hơn trong quá trình
chăn nuôi, trồng trọt; đảm bảo tốt hơn VSATTP trong sản xuất, chế biến, đóng gói thực phẩm từ
nông, lâm, thuỷ sản.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song công tác VSATTP trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến nông, lâm,
thuỷ sản vẫn còn những mặt hạn chế. Nguyên nhân là do tỉnh có đường biên giới dài, vùng biển rộng
nên việc kiểm soát chất lượng giống thuỷ sản, các loại thức ăn, hoá chất trong chăn nuôi, trồng trọt
nhập lậu vào địa bàn khó khăn. Nhiều người dân do chạy theo lợi nhuận vẫn sử dụng hoá chất độc
hại trong sản xuất, chế biến, bảo quản rau, quả, thuỷ sản… Việc trồng rau, củ, quả an toàn đòi hỏi
công sức, kinh phí đầu tư, song việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn vì chưa có điểm bán rau, quả sạch,
chưa có cơ chế khuyến khích người nuôi, trồng… Đặc biệt hiện nay trên địa bàn tỉnh, hầu hết chưa
có các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, khiến cho việc kiểm soát các dịch bệnh gia súc, gia
cầm trước khi giết mổ trở thành thực phẩm còn hạn chế… Bởi vậy, để công tác VSATTP trong
nông, lâm, thuỷ sản có chuyển biến tích cực hơn nữa, thời gian tới, việc tuyên truyền cần tiếp tục
được tăng cường và sâu sát tới người dân hơn nữa; đồng thời cần xây dựng các điểm giết mổ gia
súc, gia cầm tập trung; quy hoạch các điểm bán thực phẩm sạch ngay tại các chợ tạo điều kiện cho
sản phẩm rau, quả sạch đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện nhất.
Nguồn Báo Quảng Ninh
TRỒNG DƯA CHUỘT NHẬT, LÃI GẤP 3 DƯA THƯỜNG
Mấy năm gần đây, xã Nguyễn Uý (huyện Kim Bảng, Hà Nam) đã mạnh dạn phối hợp với Cty
TNHH Hoàng Hương (là DN thành viên chuyên SX dưa chuột nguyên liệu cho Cty TNHH Pacific,
có trụ sở tại xã Yên Phú, Yên Mỹ, Hưng Yên) chuyển đổi nhiều diện tích đất lúa 2 vụ sang trồng các
giống dưa chuột của Nhật Bản phục vụ XK. Ông Dương Văn Hiển (xóm 1, xã Nguyễn Uý) cho biết,
đây là năm thứ 3 gia đình ông cũng như các hộ trong xã ký hợp đồng với HTX trồng dưa chuột Nhật
Bản cung cấp cho Cty Hoàng Hương. Theo đó, Cty sẽ ký hợp đồng với HTX, sau đó HTX ký hợp
đồng triển khai SX tới các hộ dân.
Phía Cty sẽ chịu trách nhiệm cung cấp hạt giống; cung ứng thuốc trừ sâu, cọc làm giàn leo; hướng
dẫn và giám sát kỹ thuật, đồng thời mua sản phẩm sau khi thu hoạch. Cty TNHH Pacific là Cty liên
doanh với Nhật Bản, vì vậy toàn bộ hạt giống dưa chuột đều do Pacific đưa từ Nhật Bản sang và
cung cấp cho nông dân dựa trên hợp đồng SX nguyên liệu. Vì vấn đề an ninh hạt giống, giống dưa
được nhân viên kỹ thuật của Cty này trực tiếp quản lí và phân phối tới tay nông dân rất nghiêm ngặt.
Đến vụ thu hoạch, nông dân tuyệt đối không được bán sản phẩm ra bên ngoài mà phải cung cấp cho
Cty. Sau đó, dưa được chuyển về NM chế biến đóng tại TP Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) để chế biến
đóng hộp và trực tiếp chuyển sang tiêu thụ tại thị trường Nhật Bản. Ông Dương Văn Hiển cho hay,
hầu hết các giống dưa chuột Nhật Bản như Kizawa, Choka do Cty Pacific cung cấp đều có ưu
điểm là thời gian cho quả rất ngắn và thời gian thu quả kéo dài. Chỉ 30 ngày sau khi trồng là dưa đã
bắt đầu ra quả và thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ 1,5 đến 2 tháng sau đó. Các giống dưa đều
Nông nghiệp
cho quả rất dài (từ 35 đến 50cm), ruột đặc và gần như không có hạt nên trọng lượng mỗi quả có thể
tới hơn 300g. Với khoảng 1.500 gốc dưa chuột giống Kizawa, chỉ trồng 2 tháng gia đình ông Hiển
dự kiến sẽ thu gần 5 tấn quả. Hiện tại, Cty Hoàng Hương đang thu mua dưa nguyên liệu với giá
2.000đ/kg. Với giá này, trừ chi phí đầu tư gia đình ông dự kiến lãi không dưới 10 triệu đồng. Mặc dù
vậy, chủ trương của Cty là không mở rộng vùng nguyên liệu ồ ạt, mà mở rộng tới đâu chắc chắn và
hiệu quả tới đó. Để các giống dưa thích nghi với điều kiện của Việt Nam, hàng năm các kỹ thuật
viên về giống của Cty TNHH Pacific từ Nhật Bản sang sẽ trực tiếp giám sát các nhược điểm của
giống trên đồng ruộng, sau đó lấy mẫu về Nhật để hoàn thiện giống. Vì vậy, dưa thường rất ít sâu
bệnh. Để giảm giá thành đầu tư và an toàn cho nông dân trồng nguyên liệu, Cty đã trực tiếp lựa chọn
và chỉ cung ứng cho nông dân các loại thuốc trừ sâu ít độc hại. Đối với đầu tư mua cọc leo cho dưa
khoảng 1,5 triệu đồng/sào, Cty cũng đã trực tiếp thu mua cây dóc từ Quảng Ninh, có độ bền sử dụng
từ 5-8 năm để cung ứng cho nông dân.
Hiện nay Cty TNHH Hoàng Hương sẵn sàng hợp tác với các đơn vị, cá nhân có đủ điều kiện phát
triển vùng dưa chuột nguyên liệu trên cơ sở bền vững, uy tín. Cá nhân, tập thể nào có nhu cầu, xin
liên hệ với Cty theo địa chỉ: ông Hoàng Hữu Mạnh, GĐ Cty TNHH Hoàng Hương theo số ĐT: 0904
133108.
Nguồn Báo nông nghiệp
CÁCH CHỌN GIỐNG ĐU ĐỦ CHO NHIỀU QUẢ
Cây đu đủ vốn có tính di truyền phức tạp, phấn của hoa đực và hoa lưỡng tính lại rất khác nhau, tính
mẫn cảm của phấn hoa đực cao gấp nhiều lần của hạt phấn hoa lưỡng tính, do đó đu đủ rất dễ bị lai
tạp, khó giữ được giống tốt thuần chủng nếu không thụ phấn bắt buộc Việc thụ phấn bắt buộc trước
hết phải chọn cây giống khoẻ, ít sâu bệnh, cần phải chọn đúng giống, chọn những nụ hoa ra ở lứa
quả đầu tiên, khi cây còn đang rất sung sức, nếu vào đúng lúc thời tiết đầu mùa hè thì càng tốt, sau
này số hạt sẽ cho nhiều hơn. Dùng kim châm cho các nụ hoa nhỏ ở trong chùm hoa nhiều vết, mấy
hôm sau hoa tự rụng đi, chỉ để lại một nụ hoa ở giữa to nhất, khi đầu cánh của nụ hoa bắt đầu có
màu trắng thì dùng túi nilon trong, châm thật nhiều lỗ cho dễ thoát hơi nước và không khí, sau đó
bao nụ hoa lại theo dõi tới khi hoa nở. Các buổi sáng tháo túi nilon ra, ngắt bao phấn thoa lên đầu
nhụy hoa cái. Nếu cây giống là cây lưỡng tính, có hoa lưỡng tính thì lấy bao phấn của hạt hoa lưỡng
tính. Nếu là giống chỉ có hoa cái và hoa đực riêng rẽ trên từng cây thì lấy phấn hoa đực và sau đó sẽ
có 50% là hạt sẽ cho cây đực. Thụ phấn xong, bao hoa lại để tránh hoa bị thụ phấn của giống khác
ngoài ý muốn. Chờ 2-3 ngày sau hoa rụng đi thì tháo túi nilon ra cho quả phát triển tự nhiên. Muốn
đu đủ cho sai quả và có quả to cần chọn đất ẩm và thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ, không bị cây
khác che khuất. Khi mới trồng nên đào hố sâu, rộng, bón lót từ 20-30kg phân hữu cơ mục và thêm
0,1-0,2kg lân, sang tháng thứ 2-3 thì bón thúc mỗi gốc khoảng 25-30 gam đạm và 40 gam DAP hoà
tan trong nước, tưới vào dưới tán cây, cách xa gốc 20-30 cm. Các tháng sau, cây to ra, hoa quả
nhiều, cần tăng dần lượng phân cho tới lúc quả chín, hạn chế ở mức độ 120-150 gam urê và 140-160
gam DAP cho tới khi cây hết khả năng cho quả thương phẩm. Chú ý vào mùa lạnh cần tưới ẩm
thường xuyên, kết hợp phun oxyclorua đồng. ở ấn Độ người ta còn tưới cả dung dịch này vào gốc
cây, giúp cây có thêm vi lượng đồng, chống rét và bạc lá. Chú ý phòng trừ rệp hại cây.
Nguồn Báo nông nghiệp
Giữ mãi màu xanh cho đất
Quảng Ninh đã xác định và đưa nghề rừng trở thành ngành sản xuất chính trong lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn. Qua đó đã khai thác được tiềm năng, thế mạnh của tỉnh miền núi,
biên giới hải đảo vừa giữ được màu xanh của đất vừa tạo được thế cân bằng trong việc bảo
môi trường do tác động của các hoạt động khác gây ra
Chuyên gia Nhật Bản hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thuộc dự án trồng rừng Việt - Đức cho người
dân huyện Ba Chẽ.
Ảnh: Hữu Việt
Từ năm 1998 đến năm 2010, toàn tỉnh đã trồng mới được 128.891 ha, trong đó có trên 122.628 ha
phát triển tốt, tăng 17% kế hoạch, vượt 44% so với mục tiêu đề ra của Chương trình trồng mới 5
triệu ha rừng. Theo kết quả điều tra của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ, năm 1992
độ che phủ rừng Quảng Ninh chỉ mới đạt 11,9% đến năm 1998 độ che phủ rừng Quảng Ninh đã tăng
lên 38%, năm 2010 độ che phủ rừng Quảng Ninh là 50,2%, bình quân mỗi năm Quảng Ninh trồng
mới được 9.900 ha. Để có được kết quả này, tỉnh đã có nhiều giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả
như đẩy nhanh công tác giao đất, giao rừng để mỗi loại rừng đều có chủ quản lý bảo vệ và phát
triển. Đối với rừng đặc dụng thành lập các Ban Quản lý trực tiếp quản lý và tổ chức bảo vệ như Ban
Quản lý: Rừng đặc dụng Yên Tử; khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng; vườn Quốc gia
Bái tử Long Rừng phòng hộ được quy hoạch để bảo vệ và phục vụ cho các ngành sản xuất công -
nông nghiệp trước khi quy hoạch đã tiến hành di dân ra khỏi vùng, phần lớn diện tích giao cho các
Công ty Lâm nghiệp, Ban Quản lý, vì vậy giảm được tình trạng vi phạm về lâm luật. Các doanh
nghiệp tham gia thực hiện các dự án trồng rừng đều đã được giao, cho thuê đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, hộ dân tham gia trồng rừng đang được thực hiện việc cấp giấy chứng nhận.
Tính đến cuối tháng 4, toàn tỉnh đã giao được trên 100.000 ha rừng và đất rừng cho gần 25.000 hộ
gia đình, trung bình mỗi hộ được nhận từ 1-5 ha rừng. Các Công ty Lâm nghiệp được giao quản lý
Lâm nghiệp
gần 48.000 ha rừng và đất rừng thuộc đối tượng rừng sản xuất. Cùng với nguồn hỗ trợ của Trung
ương, hàng năm ngân sách tỉnh đều dành một phần đáng kể đầu tư cho công tác trồng rừng, với 18
dự án đầu tư trồng rừng được phê duyệt từ nguồn ngân sách Nhà nước và 8 dự án đầu tư từ các
nguồn khác. Trong 13 năm, tổng nguồn vốn đầu tư cho công tác trồng rừng trên toàn tỉnh trên 1.000
tỷ đồng. Một số huyện, thị xã, thành phố đã huy động thêm ngân sách địa phương bằng các nguồn
thu từ rừng để tăng xuất đầu tư cho dự án như: Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Đầm Hà, Hải Hà Để
đảm bảo mục tiêu khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và bảo vệ diện tích rừng hiện có, tỉnh thường xuyên
chỉ đạo các ngành chức năng, chính quyền địa phương kiện toàn bộ máy quản lý bảo vệ rừng từ tỉnh
đến cơ sở; giao cho Chi cục Kiểm lâm là cơ quan thường trực việc phòng chống cháy và bảo vệ
rừng. Hàng năm Nhà nước đã đầu tư xây dựng gần 2.100 km đường băng cản lửa, các trạm quản lý
bảo vệ rừng ở các điểm xung yếu, xây dựng các chòi gác, biển báo Ngoài ra trong thời gian qua
bằng nguồn ngân sách địa phương, chỉ riêng công tác trồng chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng tỉnh
cũng đầu tư nguồn kinh phí khoảng 36,5 tỷ đồng, chưa kể nguồn kinh phí đầu tư cho công tác phòng
chống cháy rừng, kiểm kê diễn biến tài nguyên rừng hàng năm. Tỉnh sẽ tiếp tục đầu tư phát triển
rừng theo chiều sâu, đảm bảo đến năm 2015 diện tích rừng của Quảng Ninh là 335.500 ha, trong đó
có trên 325.500 ha rừng đủ tiêu chí tính độ che phủ, hoàn thành chỉ tiêu độ che phủ rừng Quảng
Ninh lên 53,5%. Cải tạo lại những diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt (là rừng sản xuất) kém hiệu
quả thay thế bằng việc trồng lại rừng năng suất cao; chủ động đầu tư trồng rừng thâm canh năng suất
cao bằng việc lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp để trồng lại những diện tích rừng trồng do cây
rừng sinh trưởng kém, mật độ cây chưa đảm bảo.
Nguồn Báo QN
LÀM GIÀU TỪ ĐẤT RỪNG
Rời trung tâm thị xã Bắc Kạn vào thôn Khuổi Rẹt (Thanh Mai, Chợ Mới) nhận đất trồng rừng từ
năm 1991, khi đó ông Nguyên Văn Yên chỉ suy nghĩ là trồng thật nhiều rừng để nhận nhiều gạo về
ăn. Nhưng cũng chính từ đất rừng Khuổi Rẹt, sau 20 năm ông Yên đã tạo dựng lên một trang trại với
mức thu nhập hàng năm lên đến hơn 300 triệu đồng.
Mô hình kinh tế trang trại đồi rừng của gia đình ông Nguyễn
Văn Yên, ở Khuổi rẹt, Thanh Mai, Chợ Mới.
Đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, là thời điểm khó khăn và thiếu đói về lương thực. Dự án trồng
rừng PAM với chính sách cấp gạo cho người dân tham gia trồng rừng đã tạo ra phong trào trồng
rừng rộng khắp trên các tỉnh miền núi phía Bắc. Tham gia trồng rừng theo dự án PAM, ban đầu gia
đình ông Nguyễn Văn Yên cũng chỉ suy nghĩ là giải quyết thiếu đói về lương thực. Những năm đầu
cả gia đình miệt mài với trồng rừng, đồng thời khai phá những khe đồi làm ao thả cá, những vạt đồi
thấp để trồng cây ăn quả. Năm 1994, dự án trồng cây ăn quả của tỉnh đã hỗ trợ gia đình ông Yên xây
dựng mô hình trồng quýt. Qua thực hiện mô hình, ông Yên thấy chất đất mầu mỡ lại rất phù hợp với
giống quýt Quang Thuận. Vậy là, ông đã mạnh dạn huy động vốn để vào đầu tư phát triển kinh tế
trang trại với tổng vốn ban đầu là 15 cây vàng. Vừa trồng rừng, mỗi năm ông Yên trồng thêm vài
trăm gốc quýt, mơ và kết hợp chăn gà, thả cá. Những cây vàng làm vốn lần lượt ra đi và thay vào đó
là hàng trăm gốc quýt, gốc mơ mỗi năm một lên xanh. Đến năm 2000, ông Yên đã gây dựng được
39 héc ta rừng với các loại cây như: mơ, trám, quế và hơn 2000 gốc quýt, 600 gốc mơ. Từ năm2000
đến nay, ông Yên chỉ tập trung thu hoạch và cải tạo trang trại kinh tế đồi rừng. Ông Yên chia sẻ: với
diện tích rừng mỡ, trước đây ông đã xin Lâm trường Bạch Thông khai thác tỉa thưa một vài lần để
bán lấy tiền tái đầu tư. Gần chục năm nay nguồn thu chủ yếu từ trang trại là cây quýt và cây mơ.
Trong năm 2010, riêng từ 2200 gốc quýt gia đình ông đã thu 40 tấn cho thu nhập 320 triệu đồng và
600 gốc mơ cho thu nhập gần 50 triệu đồng. Bình quân mỗi năm gia đình ông trích lại ít nhất 10%
thu nhập của trang trại để tái đầu tư, mua phân bón, thuê nhân công làm cỏ và chăm sóc cây ăn quả.
Phát triển kinh tế trang trại đồi rừng không chỉ giúp gia đình ông có cuộc sống ổng định, giàu có, mà
hằng năm còn tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương. Tại trang trại của gia đình ông
Yên hiện nay thường xuyên có 7 lao động làm việc theo mùa vụ với mức lương 1,5 triệu đồng/tháng,
vào thời điểm thu hoạch quýt, mơ gia đình ông thường thuê ít nhất là 40 lao động với mức 70 nghìn
đồng/ngày. Hai mươi năm gắn bó với vùng đất rừng Khuổi Rẹt, những thành quả mà ông đạt được
như hôm nay đã thấm đẫm bao mồ hôi, công sức của cả gia đình. Giờ đây việc trông nom, quản lý
trang trại, ông Yên đã giao cho con trai, bản thân ông đã chuyển ra tổ 4, phường Đức Xuân, thị xã
Bắc Kạn sinh sống. Tuy nhiên, chưa hài lòng với mức thu nhập hơn 300 triệu đồng/năm, và còn rất
nặng lòng với vùng đất Khuổi Rẹt màu mỡ, ông Yên rất mong muốn được đi tham quan, học tập
cách làm mới của những nơi khác để nâng cao giá trị của mô hình kinh tế trang trại đồi rừng. Hy
vọng trong thời gian tới mô hình kinh tế trang trại của ông sẽ trở thành một điển hình trong chương
trình xây dựng nông thôn mới để nhân dân học tập, góp phần khai thác tốt tiềm năng đồi rừng và xoá
đói giảm nghèo ở địa phương./.
Nguồn Báo khoa học phát triển
KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHÉP
Ngư Nghiệp
Sản xuất giống và nuôi cá chép chọn giống V1
Cá chép chọn giống V1 (cá chép lai 3 máu) là kết quả lai ghép 3 dòng (cá chép trắng VN, cá chép
vẩy Hungari với cá chép vàng Indonesia), vừa được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Bộ
Thủy sản) chọn tạo thành công. Cá chép giống V1 nuôi mau lớn, cho năng suất cao, thịt thơm ngon,
bán được giá trên thị trường.
- Ao nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ: Ao nuôi cá cái có diện tích 500 - 2.000m2, mức nước sâu 1,2 -
1,5m, đáy có lớp bùn dày 0,15 - 0,2m, bờ cao, không bị rò rỉ, độ pH từ 6,5 - 8. Ao nuôi cá đực chỉ
cần rộng 400 - 1.000m2 và cũng có những điều kiện như trên, phải tẩy vôi cho ao với lượng 7- 10kg
vôi/100m2. Tuổi cá bố mẹ thích hợp là 2 - 6 tuổi; cỡ nhỏ nhất cá cái: 1kg/con, cá đực: 0,7kg/con.
Mật độ nuôi cá cái 10kg/100m2, cá đực 15kg/100m2. Hàng tuần bón 30 - 40kg phân lợn và 30 -
40kg phân xanh/100m2 ao. Từ tháng 10 - 12 dùng thức ăn hỗn hợp có lượng đạm trên 25% (gồm
cám gạo, bột ngô, đỗ tương, bột cá) cho ăn hàng ngày. Lượng thức ăn bằng 3 - 5% khối lượng cá có
trong ao. Từ tháng 1 - 2 mỗi ngày cho cá ăn thêm 50 gam thóc mầm.
- Cho cá chép đẻ tự nhiên: Chuyển cá bố mẹ vào ao nước sạch. Làm các khung thả bèo lục bình,
rong hoặc các loại sợi khác để làm giá thể cho trứng bám sau khi cá đẻ. Vớt các giá thể có trứng bám
chuyển sang bể ấp hoặc xếp vào sàn ấp, thường xuyên tưới nước giữ ẩm.
- Cho cá đẻ theo phương pháp nhân tạo: Tiêm kích dục tố cho cá cái 2 lần (1 lần vào lúc 5 - 6 giờ
chiều, cứ 1 - 2kg cá tiêm 1 não chép; lần 2 vào lúc 1 - 2 giờ sáng, 1kg cá tiêm 3 não chép). Ở nhiệt
độ nước 20 - 250C, từ 6 - 8 giờ sau khi tiêm lần 2 trứng sẽ rụng. Khi đó phải bắt cá nhẹ nhàng, tay
bịt lỗ sinh dục, bọc cá trong vải mềm, dùng vải màn thấm khô bụng cá, vuốt nhẹ theo lườn bụng cá
xuôi từ phía đầu xuống đuôi. Trứng được hứng vào các bát men lớn hoặc chậu nhựa, bắt ít nhất 2 - 3
con cá đực vuốt nhẹ vào bát hoặc chậu trứng. Dùng lông cánh gà khuấy trộn đều trứng, sau đó đổ
nước ngập trứng và tiếp tục khuấy đều trong 5 - 10 phút để trứng thụ tinh. Dùng giá thể để cho trứng
bám và đưa vào bể hay sàn ấp Cá bột sẽ nở hết sau 3 - 5 ngày ở nhiệt độ 24 - 28oC. Tẩy dọn kỹ
ao ương cá bột và bón phân chuồng, phân xanh. Mật độ ương trung bình 100 con/m2. Trong 3 tuần
ương, mỗi tuần bón 10 - 15kg phân chuồng, 10- 15kg phân xanh/100m2 ao; dùng phân đạm và lân
để bón điều chỉnh màu nước. Cho cá ăn bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá nhạt trộn lẫn, sao cho đạt
lượng đạm 25 - 30%. Trong 10 ngày đầu, thức ăn phải nấu chín thành cháo, pha vào nước rồi rải đều
quanh ao. Những ngày sau, cho cá ăn thức ăn dạng bột, mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và
chiều mát: cứ 1 vạn cá trong tuần thứ nhất cho ăn 0,2 - 0,4 kg thức ăn tinh; tuần 2 từ 0,4 - 0,5kg;
tuần thứ 3 từ 0,5 - 1kg; sau 21 - 25 ngày ương tỉ lệ sống của cá đạt 40 - 70%, cỡ cá 0,6 - 1g/con.
- Bón phân và cho cá ăn khi ương cá bột thành cá hương: Điều khác là mật độ ương thưa hơn
(10 - 15 con/m2) và phải cho cá ăn nhiều hơn. Cứ 1 vạn cá trong tuần 1 - 2 cho ăn 1 - 4kg; tuần 3 -
4: 4 - 6kg, tuần 5 - 6: 6-8,5kg, tuần 7: 8,5 - 10kg. Cứ 100m2 ao mỗi tuần bón 25 - 30kg phân
chuồng, 20 - 25kg phân xanh. Sau 45 - 50 ngày ương, tỉ lệ cá sống bình quân đạt 50 - 70%, cỡ 15 -
20g/con. Khi nuôi ghép nhiều loài cá trong ao cá thịt chỉ nên thả cá chép với tỉ lệ 5 - 10%, 1 con cá
chép cần từ 10 - 20m2 đáy ao. Khi nuôi cá chép ở ruộng trũng có thể tăng tỉ lệ thả cá chép tới 60%.
Khi nuôi đơn cá chép muốn có cá thịt cỡ 0,3 - 0,4 kg/con sau 6 - 8 tháng nuôi thì cần thả giống với
mật độ 1 con/1,5 - 2 m2; cỡ 0,7 - 0,8 kg/con thả mật độ 1 con/4 - 5m2. Để tạo ra sự phát triển động
vật đáy làm thức ăn cho cá cần bón thêm phân chuồng và phân xanh mỗi loại 4 - 6 tấn/ha ao. Dùng
cám gạo, bột đậu tương, khô dầu, bột cá nhạt trộn đều với nước rồi nắm lại thành từng nắm nhỏ để
cho cá ăn. Theo cách nuôi này, cá chép đạt tỉ lệ sống 80 - 90%; sau 8 tháng nuôi cỡ cá trung bình đạt
0,5 - 0,7 kg/con, năng suất bình quân đạt 2 tấn/ha.
Nguồn Bao Nong Nghiep
NUÔI CÁ GHÉP
Nhận thấy nuôi ghép giữa cá rô phi đơn tính, chép và mè mang lại
hiệu quả cao, phù hợp với địa thế của một huyện có nhiều kênh rạch
và sông ngòi như Nhà Bè, TP HCM nên từ cách đây vài năm, Trạm
Khuyến nông Nhà Bè-Quận 7 đã mạnh dạn hướng dẫn kỹ thuật và
cung cấp vốn, giống, thức ăn để nông dân địa phương nuôi cá theo
mô hình này. Theo ông Vương Thành Nguyên, cán bộ kỹ thuật của
Trạm Khuyến nông Nhà Bè-Quận 7, ban đầu trạm có mở các lớp tập
huấn kỹ thuật, phương pháp nuôi, chế độ ăn uống về nuôi cá ghép cho
bà con nông dân. Sau đó là việc chuẩn bị ao nuôi, quy trình thả cá,
mật độ và đặc biệt là tỷ lệ phần trăm các loại cá trong ao đều được
thực hiện theo đúng kế hoạch. Nhờ những bước chuẩn bị chu đáo và có khoa học mà nhiều hộ nông
dân đã thực hiện thành công mô hình. Ông Nguyễn Văn Nhơn, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè cho
biết, gia đình ông bắt đầu thực hiện nuôi cá ghép từ đầu năm 2010 với việc thả nuôi 7.000 con cá rô
phi, 4.000 con cá chép và 5.000 con cá mè trên cùng một ao nuôi có diện tích 5.000 m2. Sau gần 1
năm chăm sóc theo đúng quy trình hướng dẫn của cán bộ khuyến nông, cá nuôi nhà ông có tỷ lệ
sống là 70%. Ông Nhơn hồ hởi nói: “Năm ngoái, Khuyến nông hỗ trợ cho gia đình 40% tiền giống
cùng 20% tiền vật tư để đào ao, mua lưới, và một ít thức ăn lúc cá còn nhỏ. Đến cuối năm vừa rồi,
bán cả ao được lãi hơn 80 triệu đồng. Thấy mọi việc thuận lợi nên năm nay gia đình tôi tiếp tục thả
cá theo mô hình nuôi ghép”. Tính ra, trên địa bàn huyện Nhà Bè có khoảng 120 ha diện tích ao nuôi
với rất nhiều hộ nuôi cá ghép theo mô hình trên và đều thu lợi nhuận cao. Như hộ anh Bùi Văn
Được, xã Nhơn Đức, cũng nuôi ghép cá mè, cá trê lai và cá chép trên cùng một ao nuôi. Năm đầu
tiên gia đình đã thu về hơn 50 triệu đồng. Năm nay, anh mạnh dạn mở rộng diện tích ao nuôi gấp đôi
vì đã quen với cách làm này. Nuôi cá ghép có ưu điểm là nếu biết tận dụng thì phân của cá này có
thể làm thức ăn cho cá khác. Như cá trê và cá chép thường sống ở tầng đáy và giữa, cá mè sống ở
tầng mặt nên chất thải của chúng đồng thời làm thức ăn cho 2 loại kia. Vừa tiết kiệm lại vừa sạch
môi trường ao”. Hiện nay, mô hình nuôi ghép 3 loại cá với nhau đang nở rộ ở địa bàn huyện Nhà Bè
vì nó mang lại lợi ích cao và ít bấp bênh hơn nuôi tôm. Năm 2011 này Trạm khuyến nông Nhà Bè-
Quận 7 dự tính sẽ hỗ trợ 100% giống cùng 50% vật tư để khuyến khích bà con nông dân làm giàu từ
cách làm này.
Nguồn Bao Nong Nghiep
HOA GẠO CHỮA SƯNG NGỰC SAU KHI SINH
Cây hoa gạo còn được gọi là mộc miên, cổ bối, ban chi hoa, anh hùng thụ… Cây cao tới 15m hoặc
hơn; cành mọc ngang với những gai hình nón; lá kép chân vịt, 5 - 8 lá chét hình mác hay hình trứng,
dài 9 - 15cm, rộng 4 - 5cm. Vào mùa xuân, khi lá gạo rụng hết cũng là lúc hoa gạo bắt đầu nở; hoa
màu đỏ tươi. Vỏ thân có chứa nhiều chất nhầy; hoa chứa 85,66% nước, 1,38% chất đạm, 11,95%
chất đường, 1,09% chất khoáng; hạt chứa 25% tinh dầu. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy:
nước sắc hoa gạo có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ mạnh hơn so với Chloromycetine và Berberine.
Y TẾ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét