Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, đặc biệt trong xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản
xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu
thụ thành phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình
một hướng đi đúng đắn. Để có được điều đó, một trong những biện pháp là
mỗi doanh nghiệp đều không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng
sản phẩm.
Là một trong những phần hành quan trọng của công tác kế toán, kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với chức năng giám sát và
phản ánh trung thực, kịp thời các thông tin về chi phí sản xuất phát sinh
trong thời gian, tính đúng, đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm sẽ
giúp cho các nhà quản trị đưa ra được các phương án thích hợp giữa sản
xuất kinh doanh, xác định giá bán sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh
có hiệu quả. Vì vậy, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
luôn được xác định là khâu trọng tâm của công tác kế toán trong doanh
nghiệp sản xuất. Việc hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm là công việc thật sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.
Sau bước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số doanh nghiệp nhà nước
không thích ứng kịp thời, không có sự điều chỉnh phù hợp, hiệu quả sản
xuất kinh doanh kém đã dẫn tới giải thể, phá sản. Tuy nhiên, bên cạnh đó,
có rất nhiều doanh nghiệp đã biết vươn lên để khẳng định mình và ngày
càng phát triển. Một trong số đó là Công ty cổ phần Cơ khí chính xác số 1
với các sản phẩm đa dạng, phong phú, giá cả hợp lý đang ngày càng chiếm
lĩnh thị trường, gần gũi hơn với người tiêu dùng.
Được sự rèn luyện và chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo trong trường
em đã được trang bị những kiến thức cơ bản về chuyên ngành kế toán.
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,
trước khi bước vào năm học tới nhà trường đã tạo điều kiện cho em được
đi kiến tập trong một thời gian ngắn, đây là một dịp tốt để em có thể đi sâu
tìm hiểu về chuyên ngành mình đang học và áp dụng vào thực tế công việc
sau này của mình, nắm bắt được cách thức kinh nghiệm tổ chức hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Em đã được tìm hiểu và nghiên cứu kỹ quá
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
5
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
trình tổ chức kế toán, thu thập một số tài liệu tại Công ty cổ phần Cơ khí
chính xác số 1 – Hà Nội.
Báo cáo kiến tập của em được chia làm 3 phần với nội dung khái
quát như sau:
- Chương 1: Tổng quan về Công ty Cổ phần Cơ khí chính xác số 1
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tại Công ty Cổ phần Cơ khí
chính xác số 1
- Chương 3: Đánh giá thực trạng tổ chức kế toán tại Công ty Cổ
phần Cơ khí chính xác số 1.
Sau quá trình kiến tập tại Công ty Cổ phần Cơ khí chính xác số 1,
em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Ban giám
đốc, các anh, chị Phòng kế toán tài chính, các phòng ban nghiệp vụ và cô
giáo Th.S Nguyễn Thị Mai Anh cùng với sự cố gắng của bản thân để hoàn
thành bản báo cáo kiến tập kế toán này. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới các cô, chú cán bộ công nhân viên trong toàn công ty, đặc biệt là các
anh, chị làm việc tại Phòng kế toán và cô giáo Th.S Nguyễn Thị Mai Anh
đã giúp em hoàn thành báo cáo này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
6
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
CHƯƠNG 1
:
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ
CHÍNH XÁC SỐ 1
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN CƠ KHÍ CHÍNH XÁC SỐ 1
Công ty cổ phần cơ khí chính xác số 1 là công ty cổ phần có 51% vốn Nhà
nước. Tiền thân là Công ty cơ khí chính xác số 1, một doanh nghiệp Nhà nước
được thành lập ngày 4/12/1978 theo Quyết định số 1091-CV/CB của Bộ trưởng
Bộ Cơ khí luyện kim trên cơ sở sát nhập Nhà máy Cơ khí Điện ảnh với phân
xưởng Thuỷ lực của Nhà máy chế tạo công cụ số 1.
Giấy phép Đăng ký kinh doanh số 108506 ngày 10 tháng 6 năm 1993 do
trọng tài kinh tế sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp, có tư cách pháp nhân thực hiện
chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, được mở tài khoản tại Ngân hàng, có con
dấu riêng theo Quyết định của Nhà nước. Công ty Cơ khí chính xác số 1 nằm tại
Trung tâm Công nghiệp Thượng Đình, một trung tâm công nghiệp lớn phía Nam
của Hà Nội.
Địa chỉ: Số 275 đường Nguyễn Trãi – Quận Thanh Xuân – Hà Nội.
Ngày 1 tháng 4 năm 2004 Công ty sau một thời gian tiến hành cổ phần hoá
đã thực hiện xong và chính thức mang tên là Công ty cổ phần Cơ khí chính xác số
1 thuộc Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp. Việc chuyển đổi dựa
theo quyết định số 187/2003/QĐ-BCN ngày 14 tháng 11 năm 2003. Giá trị thực
tế của Công ty Cơ khí chính xác tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2002 để cổ
phần hoá (Quyết định số 2076/QĐ-TCKT ngày 26 tháng 8 năm 2003 của Bộ
Công nghiệp) là 33.928.400.792 đồng. Trong đó, giá trị thực tế phần vốn Nhà
nước tại Công ty là 6.172.007.719 đồng. Sau khi chuyển đổi sang hình thức công
ty cổ phần, cơ cấu vốn điều lệ của Công ty như sau:
Vốn điều lệ của Công ty cổ phần là 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng
chẵn).
- Tỷ lệ cổ phần của Nhà nước: 51%
- Tỷ lệ cổ phần bán cho người LĐ trong Công ty: 49%
Trị giá một cổ phần: 100.000 đồng.
Gần 30 năm xây dựng và trưởng thành, mặc dù đã trải qua nhiều bước
thăng trầm, nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ công nhân
viên, Công ty cổ phần Cơ khí chính xác số 1 đã từng bước vững mạnh. Từ chỗ cơ
sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, cán bộ kỹ thuật còn ít, máy móc kỹ thuật chưa
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
7
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
đồng bộ đến nay Công ty đã có được một đội ngũ cán bộ công nhân lành nghề,
cán bộ kỹ thuật giỏi chuyên môn, cơ sở vật chất tương đối hiện đại, từng bước
khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường.
Trong những năm đầu mới thành lập (từ năm 1979 – 1981), từ một xí
nghiệp nhỏ đi lên, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, SX chưa ổn định, chưa
có phương án SX phù hợp với khả năng và nhiệm vụ của Công ty, vì vậy SP SX
ra chưa có giá trị cao, một số danh mục của SX lúc đó dưới dạng đơn chiếc, hiệu
quả SX thấp, tổ chức SX còn nhiều mặt hạn chế, vốn cố định không đáng kể.
Hiệu quả kinh doanh còn thấp, nhu cầu thị trường chưa tập trung, lúc này doanh
thu chỉ đạt từ 1,5 – 2 triệu đồng/sản phẩm/năm. Qua ba năm hoạt động Công ty
đã đưa vào sản xuất 18 loại sản phẩm và cuối cùng bằng sự nỗ lực của Ban lãnh
đạo và tập thể cán bộ công nhân viên, Công ty đã tìm được SP mới phù hợp với
khả năng, nhu cầu của thị trường và lâu dài. Đó là quạt điện Hoa Sen và một số
sản phẩm khác như: biến thế tự ngẫu, máy nổ, động cơ, Panel thuỷ lực, máy
bơm… Sau khi đã định hướng SX, Công ty đã phát triển không ngừng, giá trị
tổng sản lượng cao dần lên, sản phẩm chiếm lĩnh thị trường, có nhiều uy tín trên
toàn quốc. Năm 1986 là năm đánh dấu bước ngoặt trong nền kinh tế Việt Nam, từ
cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Sự
xuất hiện của cơ chế thị trường là một bước thử thách lớn lao đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự hạch toán kinh tế, tự lo công ăn việc làm để thích ứng với thị
trường. Công ty đã gặp không ít khó khăn, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra không
cạnh tranh được với hàng ngoại và các cơ sở tư nhân nên số lượng sản phẩm sản
xuất và tiêu thụ giảm đi kéo theo hiệu quả kinh doanh giảm sút, tài chính cạn kiệt,
nhà xưởng máy móc cũ kỹ lạc hậu, công nhân thiếu việc làm…
Từ năm 1996 đến nay, trước thực trạng khó khăn như vậy, Công ty hiểu
rằng sự tê liệt sẽ kéo doanh nghiệp đi về đâu nếu không có ngọn gió đổi mới.
Cùng với những thử thách mà Công ty gặp phải khi đất nước chuyển sang nền
kinh tế thị trường, cơ chế thị trường cũng tạo ra những điều kiện thuận lợi, những
nhân tố mới tạo điều kiện cho Công ty phát triển. Những chủ trương cải cách đã
thổi vào Công ty một luồng sinh khí mới làm bộc lộ dần khí chất năng động, bản
lĩnh trước khó khăn, khả năng nhạy bén và tiếp cận cái mới, Công ty đã nhanh
chóng tự thay đổi mình để thích ứng với cơ chế mới, đưa Công ty phát triển. Với
chủ trương đa dạng hoá, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy chất
lượng, giá cả làm đầu và giữ uy tín với khách hàng và để thích hợp với thị hiếu
của nhiều người, hợp với khả năng kinh tế của nhiều tầng lớp dân cư ở trong xã
hội, Công ty đã thực hiện một loạt chính sách nhằm củng cố đổi mới Công ty.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
8
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
Một mặt Công ty tiến hành đổi mới hiện đại hoá thiết bị máy móc. Mặt khác, thay
đổi tinh giản bộ máy quản lý một cách hợp lý, sử dụng các biện pháp kinh tế,
khuyến khích lao động, thực hành tiết kiệm, tổ chức lại lực lượng lao động, đào
tạo lại cán bộ quản lý nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, tìm
kiếm khách hàng và mở rộng thị phần. Ngoài quạt điện, Công ty còn sản xuất
nhiều loại sản phẩm khác như: tủ hồ sơ, két bạc, tủ văn phòng, bàn máy photo,
bàn nâng hạ xe máy, giá vận chuyển máy bơm nước, khung xe máy, càng để chân
xe máy, thùng xe ô tô tải… Bằng tất cả những cố gắng trên, Công ty đã từng
bước khẳng định mình và tìm được chỗ đứng trên thị trường, tăng nhanh nguồn
vốn, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
Đến nay, Công ty đã thực hiện xong quá trình cổ phần hoá. Ngày 1/4/2004
Công ty chính thức mang tên là Công ty cổ phần Cơ khí chính xác số 1.
Lĩnh vực kinh doanh của Công ty là lắp ráp các loại quạt như: quạt cây
400, quạt Jiplai, quạt điều khiển từ xa…; ngoài ra Công ty còn sản xuất sản phẩm
khác như: bơm thuỷ lực, càng để xe máy, khung xe máy… Từ năm 1962-1978
Công ty chuyên sản xuất máy chiếu phim và phụ tùng máy chiếu. Từ năm 1979-
1995 Công ty chuyên sản xuất quạt điện. Từ năm 1996 đến nay Công ty chuyên
sản xuất quạt điện, máy bơm thuỷ lực, các phụ tùng xe máy như càng xe, chân
chống, khung xe… Hiện nay các mặt hàng chủ yếu của Công ty là: quạt điện Hoa
Sen các loại, bơm thuỷ lực BRA các loại, khung xe máy, phụ tùng xe máy và các
sản phẩm cơ khí khác. Đặc biệt trong những năm gần đây Công ty còn mở rộng
hơn nữa các khách hàng sản xuất xe máy, sắp xếp chuyên môn hoá một số dây
chuyền nhằm cung cấp ổn định với những khách hàng cũ như: CIRI, TMT, Duy
Thịnh,… đồng thời tiếp thị và cung ứng cho khách hàng mới là: SUPHAT,
VINACIXD,…
Từ lĩnh vực kinh doanh của Công ty là như vậy, chức năng nhiệm vụ của
Công ty cổ phần Cơ khí chính xác là:
- Sản xuất động cơ, phụ tùng cơ khí, quạt điện. Quá trình lắp ráp và sản
xuất do Công ty trực tiếp phụ trách và chịu trách nhiệm về quy cách phẩm chất
của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Sản xuất kinh doanh các sản phẩm quang học, nhựa, cao su và các sản
phẩm cơ khí điện tiêu dùng.
- Cung cấp dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng phương tiện vận tải đường bộ và
kinh doanh xe gắn máy.
- Sản xuất kinh doanh bơm thuỷ lực, bơm nước và phụ kiện lắp đặt ngành
nước.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
9
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY
1.2.1. Đặc điểm kinh doanh
Các sản phẩm chính của Công ty được tiêu thụ trên thị trường là: Quạt điện
các loại, khung xe máy, phụ tùng, phụ kiện xe máy (cọc lái, giàn chân chống, ghi
đông xe máy, càng xe máy Dream-Wave), bơm thuỷ lực, và các sản phẩm cơ khí
khác… Nhìn chung, số lượng sản phẩm tiêu thụ của Công ty chủ yếu là quạt điện,
khung xe máy, phụ tùng phụ kiện xe máy.
Công ty cổ phần kinh doanh các ngành nghề:
- Công nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm cơ khí, bơm thuỷ lực, bơm
nước, dụng cụ khuôn mẫu gá lắp, phụ tùng, phụ kiện xe máy, ô tô; bảo trì bảo
dưỡng, sửa chữa máy móc, phương tiện vận tải đường bộ;
- Sản xuất tủ hồ sơ, thiết bị văn phòng, sản phẩm inox gia dụng;
- Sản xuất quạt điện và các thiết bị cơ điện;
- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng;
- Dịch vụ cho thuê văn phòng, nhà xưởng, nhà kho, lắp đặt thiết bị văn
phòng, kinh doanh nhà ở;
- Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty chỉ là thị trường nội địa và chủ
yếu vẫn là thị trường miền Bắc, còn đối với miền Trung và miền Nam thì những
năm qua Công ty đã bắt đầu nghiên cứu, tiếp cận nhằm mở rộng địa bàn tiêu thụ.
Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến các đối thủ cạnh tranh bởi vì nền kinh tế
nước ta hiện nay đang phát triển theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần, tạo
môi trường cạnh tranh gay gắt cho các công ty. Vì vậy phải đòi hỏi Công ty
không ngừng tìm hiểu thị trường, cung cấp những sản phẩm thoả mãn tối đa nhu
cầu của người tiêu dùng trên thị trường hiện tại và thị trường mục tiêu. Mặt khác,
trong tương lai Công ty cũng nên hướng sản phẩm của mình ra thị trường quốc tế.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
10
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
1.2.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
Quy trình sản xuất của Công ty là quy trình sản xuất kiểu liên tục, khép
kín. Sản phẩm phải qua nhiều khâu sản xuất, ngoài ra một số chi tiết phải đặt
gia công ngoài. Do đó quy trình sản xuất của công ty đòi hỏi các cán bộ sản
xuất phải phối hợp tổ chức thật chặt chẽ và khoa học. Sản phẩm sau khi sản
xuất xong phải có dấu xác nhận đủ tiêu chuẩn của bộ phận KCS mới được
nhập kho.
Đầu tiên nguyên vật liệu đầu vào được mua ngoài đưa vào quy trình tạo
phôi sau đó chuyển sang phân xưởng gia công cơ khí, ở đây các chi tiết sản
phẩm được hình thành nhờ vào hệ thống máy móc và tay nghề của công nhân
ở trong Công ty, sản phẩm ở trong xưởng gia công cơ khí được chuyển sang
phân xưởng sơn mạ điện. Ở phân xưởng sơn mạ này công ty đã có dây chuyền
sơn mạ điện hiện đại với dàn sơn phun được lắp đặt theo công nghệ hiện đại
nhất, đưa lại năng suất cao cho Công ty. Sản phẩm sau khi được sơn mạ
chuyển vào kho bán thành phẩm. Các chi tiết mua ngoài được nhập về kho
bán thành phẩm cùng với bán thành phẩm để thực hiện quấn mô tơ ở phân
xưởng lắp ráp. Đến đây, sản phẩm được đóng gói, chuyển vào kho thành
phẩm và đưa đi tiêu thụ.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
11
Nguyên
vật liệu
Tạo
phôi
Gia công
cơ khí Sơn mạ
Chi tiết
Mua ngoài
Quấn
Mô tơ
Kho bán
Thành phẩm
Lắp ráp
Đóng gói
Kho thành
phẩm
Tiêu thụ
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
1.3. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
12
Phòng
kỹ
thuật
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Ban kiểm soát
Phó GĐ kỹ
thuật - sản xuất
Phó giám đốc
Hành chính
Phòng
kế
hoạch
Phòng
tổ chức
LĐ
Phòng
Tài
chính
Phòng
tổng
hợp KD
Phòng
quản
trị
Phòng
bảo vệ
đời sống
Kho bán
thành
phẩm
Kho
thành
phẩm
PX
Gò
dập
PX
cơ
khí
I
PX
cơ
khí
II
PX
cơ
khí
III
PX
lắp
ráp
PX
sơn
tĩnh
điện
PX
động
cơ
PX
cơ
điện
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Tổ
sản
xuất
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
Mô hình quản lý của công ty dựa trên mô hình trực tuyến - chức năng:
Hội đồng quản trị: do hội đồng cổ đông bầu và lập ra, chịu trách nhiệm trước
hội đồng cổ đông về tình hình công ty. Hội đồng quản trị quyết định những vẫn đề
chung của công ty.
Giám đốc công ty: là người chịu trách nhiệm pháp lý, chịu trách nhiệm toàn bộ
các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm trước
HĐQT, trước Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Giúp
việc cho Giám đốc là 2 Phó giám đốc: Phó giám đốc kỹ thuật - sản xuất và Phó giám
đốc hành chính.
Phó giám đốc kỹ thuật - sản xuất: chỉ đạo công tác kỹ thuật, mặt bằng sản
xuất, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chỉ đạo công tác định mức kinh tế - kỹ thuật, điều
động lao động nội bộ, quản lý kỹ thuật lao động…
Phó giám đốc hành chính: chỉ đạo công tác văn thư hành chính, chỉ đạo công
tác xây dựng cơ bản, công tác quản trị, vệ sinh công nghiệp, công tác y tế, công tác
bảo vệ, tự vệ, phòng chống cháy nổ, công tác kho tàng
Văn phòng giám đốc: có nhiệm vụ tiếp khách, ngoại giao, tiếp nhận công văn,
tổ chức hội nghị. Theo dõi giám sát phần xây dựng cơ bản của công ty. Cửa hàng
giới thiệu sản phẩm và bán lẻ sản phẩm được triển khai dọc theo cổng của Công ty.
Ngoài ra còn có bộ phận quản trị, y tế có nhiệm vụ chăm lo đời sống sức khoẻ cho
cán bộ công nhân viên.
Phòng tổ chức lao động: quản lý và điều hành toàn bộ công tác tổ chức sản
xuất, tổ chức cán bộ, tổ chức lao động và công tác tiền lương. Xây dựng các định
mức lao động, hình thức trả lương và tính lương, lập báo cáo tiền lương theo quy
định
Phòng kỹ thuật: thiết kế sản phẩm, chọn lọc mẫu mã trên thị trường đang
được ưa chuộng. Từ đó xây dựng quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm, áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng định mức kinh
tế, kỹ thuật ban đầu. Đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, tích cực phát huy sáng kiến
đồng thời không ngừng bồi dưỡng cán bộ công nhân viên, nâng cao tay nghề cho
công nhân. Quản lý các kho tàng, khuôn mẫu và gá lắp dụng cụ, kiểm tra chất lượng
sản phẩm đầu vào và đầu ra.
Phòng kế hoạch SX: lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của Công ty. Kế hoạch
sản xuất từng loại trong năm, điều tiết sản xuất theo kế hoạch. Đồng thời khai thác
thị trường, tìm kiếm việc làm, ký kết hợp đồng sản xuất và cung ứng vật tư, lao
động, quản lý kho, bán thành phẩm của công ty.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
13
Báo cáo kiến tập Khoa Kế toán
Phòng kinh doanh (Phòng tổng hợp): tạo thị trường tiêu thụ SP. Giới thiệu và
quảng cáo sản phẩm, lập kế hoạch lưu chuyển hàng hoá tiêu thụ, quản lý kho thành
phẩm, làm công tác văn thư, đóng dấu, thực hiện bán lẻ sản phẩm
Phòng kế toán tài chính: quản lý toàn bộ hoạt động tài chính của công ty
(công tác giám sát đồng tiền) đồng thời quản lý các loại vốn và tài sản của công ty
theo giá thành SP, thực hiện theo chế độ, chính sách kế toán hiện hành và quy định
của Công ty. Lập báo cáo kế toán theo định kỳ và phân tích các hoạt động kinh tế
của Công ty như giá thành, hiệu quả, lợi nhuận đảm bảo chế độ thu nộp ngân sách,
bảo toàn và phát triền vốn.
Phòng bảo vệ: có chức năng bảo vệ SX, phòng chống cháy nổ, phòng chống
tệ nạn xã hội, làm công tác tự vệ, công tác quốc phòng, bảo vệ tài sản của Công ty và
của khách đến quan hệ công tác. Phòng bảo vệ có chức năng duy trì việc mang, mặc
và chấp hành giờ giấc lao động của công nhân.
Tổ chức SX của Công ty có 8 PX sản xuất chính. Mỗi PX có chức năng và
nhiệm vụ khác nhau nhưng lại hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất SP.
PX gò dập: gồm các dây chuyền rèn, dập, hàn nhiệt luyện. Chức năng của PX
là tạo phôi, kết thúc quá trình này được chuyển sang phần gia công cơ khí.
PX cơ khí I: có chức năng gia công, cắt gọt các chi tiết cơ khí, đồng thời có
thể lắp ráp hoàn chỉnh một số SP cơ khí như bơm thuỷ lực, bơm nước
PX cơ khí II: có chức năng SX khuôn mẫu, gá lắp và dao cụ, phối hợp SX chi
tiết đồng bộ và gia công ngoài.
PX cơ khí III: gia công cắt gọt các chi tiết phụ tùng xe máy như để chân xe
máy, xương tay sách
PX lắp ráp: gồm lắp ráp I và lắp ráp II: có nhiệm vụ lắp ráp hoàn chỉnh các chi
tiết, phụ tùng ở các PX như: quạt điều khiển từ xa, quạt treo tưởng, Jiplai các bán
thành phẩm tự chế và mua ngoài được đưa vào PX để lắp ráp thành SP hoàn chỉnh.
Sau khi kiểm tra chất lượng nếu đủ tiêu chuẩn các SP này sẽ được nhập kho thành
phẩm.
PX sơn tĩnh điện: là PX sơn một số bán thành phẩm, khung xe máy
PX động cơ: SX mô tơ quạt, mô tơ máy bơm nước.
PX cơ điện: là PX phụ có chức năng cung cấp điện năng, lắp đặt thiết bị và
bảo dưỡng sản xuất thiết bị, bảo trì sửa chữa MMTB cho các bộ phận và các PX SX.
Ở Công ty, mỗi PX lại tổ chức thành các tổ SX và các kho riêng của từng PX.
Trịnh Phương Mai Kiểm toán 48C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét