- Lưu kí chứng khoán là hoạt động lưu giữ, bảo quản, chuyển giao CK cho KH và
giúp KH thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu CK: quyền nhận cổ tức, ghi
chép theo dõi những thay đổi về tình hình đăng kí, lưu kí CK…
Thông thường để tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch và tạo lợi thế cho
KH(thời gian và chi phí), các CTCK đều tư vấn cho KH mở tài khoản lưu kí. Để
mở TKLK KH phải ký hợp đồng lưu kí CK và CTCK sẽ mở TKLK cho KH. Mọi tác
nghiệp do CTCK tự đảm nhiệm.
Yêu cầu đối với việc cung cấp dịch vụ LKCK:
- Thực hiện đầy đủ các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật.
- Đảm bảo tính an toàn, chính xác và cẩn thận trong suốt quá trình thực
hiện .
- Không tiết lộ thong tin về tài khoản giao dịch của KH.
- Phải quản lý tách biệt CK của mỗi KH và tài khoản của KH với CK của
công ty.
Quy trình triển khai dịch vụ lưu kí
Tiếp nhận hồ sơ LKCK
Tái lưu ký tại trung tâm LKCK
Thực hiện quyền sở hữu CKLK
Thu phí dịch vụ LKCK
3. Thực hiện các giao dịch mua bán CK cho KH:
Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại song hành 3 phương thức giao dịch đó là:
- Phương thức giao dịch trực tiếp trên SGDCK
- Phương thức giao dịch không sàn
- Phương thức giao dịch qua CTCK
- Đối với phương thức giao dịch trực tiếp(không qua CTCK)
5
Lập báo cáo khi có yêu cầu
Nhà đầu tư
Nhập lệnh vào hệ thống SGDCK, TTGDCK
Thông báo kết quả giao dịch
In kết quả giao dịch trong phiên giao dịch
Nhập lệnh vào hệ thống SGDCK, TTGDCK
Đối với phương thức giao dịch này CTCK cung cấp cho KH mã số đường
truyền mà CTCK quản lý.Nhà đầu từ có thể đặt lệnh mua, bán CK một
cách trực tiếp vào hệ thống nhận lệnh của SGDCK hay TTGDCK mà không
phải thông qua bước kiểm lệnh được thực hiện bởi nhà môi giới tại
CTCK.
Đối với phương thức giao dịch không sàn:
Nhà đầu tư đặt lệnh qua CTCK, CTCK nhập ngay lệnh mua bán CK của khách
hàng vào hệ thống khớp lệnh của SGDCK hay TTGDCK mà không cần phải có
đại diện môi giới của công ty tại sàn
Đối với phương thức giao dịch qua CTCK: Qua các bước sau:
o Chuẩn bị trước khi giao dịch
Trước phiên giao dịch đầu tiên trong ngày, nhân viên môi giới phải chuẩn bị
các công cụ và tài liệu cần thiết cho hoạt động giao dịch
- Phiếu lệnh: lệnh mua, lệnh bán, lệnh hủy, tránh để xảy ra tình trạng thiếu
phiếu lệnh cho KH
- Chứng từ ký sẵn đối với những giao dịch qua điện thoại
- Sổ lệnh
- Bảng mã các CK
- Bảng giá tham chiếu, giá sàn, giá trần
- Nhân viên môi giới và IT kiểm tra lại đường truyền hệ thống, máy vi tính, máy
chiếu, điện thoại; chuẩn bị máy phát điện, nguyên vật liệu chạy máy phát đề
phòng trường hợp mất điện. Lường trước những khả năng bất thường có thể
xảy ra để chủ động xử lý.
o Quy trình giao dịch:
6
4. Quy trình thực hiện giao dịch của môi giới tại sàn giao dịch.
Bước 1:Nhận lệnh của phòng môi giới
Nhân viên môi giới tại sàn nhận lệnh theo các hình thức:
- Nhận lệnh qua Fax: đối chiếu lệnh, chữ kí nhân viên hiển thị trên bản
Fax phiếu lệnh với chữ kí mẫu của nhân viên môi giới.
- Nhận lệnh qua điện thoại: số gọi đến được hiển thị phải đúng số của
công ty và người gọi là nhân viên môi giới, nhắc lại lệnh để kiểm tra.
- Lệnh được truyền đến công ty qua mạng máy tính.
Bước 2: Nhập lệnh vào hệ thống SGD, TTGDCK
- Nhập lệnh vào hệ thống theo quy trình (nhập lệnh theo đúng thứ tự
lệnh đến trước thì nhập trước, lệnh đến sau nhập sau) khi có lệnh đến phải lập
tức nhâp lệnh vào hệ thống đảm bảo yêu cầu nhanh chòng, đầy đủ và chính
xác.
- Thông báo ngay cho SGD, TTGDCK nếu có sai sót, hoặc nhận được lệnh
sửa đồng thời thông báo cho phòng môi giới của công ty làm công văn xác
nhận sai sót và xin phép sủa lệnh. Nếu được chấp nhận, đại diện giao dịch tiến
hành hủy lệnh có sai sót và nhập thông tin trên phiếu gốc của khách hàng.
- Khi xử lý lệnh hủy, lệnh sửa đổi:
+ Căn cứ vào số hiệu lệnh, tìm chứng từ lệnh gốc,
+ Căn cứ số thứ tự lệnh nhập đã đánh dấu trên phiếu lệnh( bản Fax) tìm lại
lệnh đã nhập vào hệ thống,
+ Hủy/ sửa lệnh gốc theo phiếu lệnh mới. Đối với lệnh không hủy được thì
thông báo cho khách hàng. Đối với lệnh đã hủy: nhập số liệu lệnh gốc của lệnh
hủy vào hệ thống để hủy và thông báo cho khách hàng.
Bước 3: In kết quả giao dịch trong phiên .
Bước 4: Thông báo kêt quả giao dịch về nơi khớp lệnh .
7
Nhân viên môi giới tài sản sau khi kiểm tra tính hơp lệ và xử lý các thông tin
từ hệ thống SGD, TTGDCK khi hệ thống khớp lệnh , sẽ chuyển thông tin về đạt
lệnh và xủ lý thông tin về phòng môi giới.
5. Các giao dịch đặc biệt.
- Giao dịch lô lẻ.
Khối lượng cổ phiếu giao dịch < 10 CP chỉ được thực hiện theo hình thức giao
dịch thỏa thuận giữa khách hàng và CTCK quá trình mua bán nay công ty
không thu phí môi giới của khách hàng và thanh toán bù trừ cho khách hàng.
Quy trình giao dịch:
+ Bước 1: Tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng muốn giao dich lô lẻ
+Bước 2: Thương lượng giá cả với khách hàng
+Bước 3: Thực hiện việc mua bán bằng hợp đồng giao dịch lô lẻ có sự kí kết
giữa hai bên
+Bước 4: Thực hiện chuyển nhượng hợp đòng chứng khoán sau khi hợp đồng
đã được kí kết từ tài khoản của khách hàng sang tài khoản rự doanh của công
ty
+Bước 5: Thông báo kết quả giao dịch đã thực hiện cho khách hàng
- Giao dịch lô lớn.
Khối lượng cổ phiếu hoặc chứng chỉ QĐT giao dịch tối thiểu 10.000(tại sàn
HCM), 5000 cổ phiếu và 100 triệu đồng mệnh giá trái phiếu( tại san Hà Nội)
Quy trình giao dịch :
+Bước 1: Nhận phiếu lệnh giao dịch thỏa thuận từ khách hàng
+Bước 2: Kiểm tra đối chiếu thông tin trên phiếu lệnh với các thông tin về số
dư, mức ký quỹ…
+Bước 3: Trình trưởng phòng môi giới kiểm tra, kí duyệt
+Bước 4: Nhận lại phiếu lệnh từ trưởng phòng và truyền vào cho đại diện sàn
+Bước 5: Đại diện sàn nhập các thông tin ( mã CK, khối lượng , giá chào
mua/bán, thông tin về khách hàng)vào hệ thồng
+Bước 6: Thông báo các lệnh chào mua, chào bán của khách hàng trên màn
hình máy tính của sàn về trụ sở chính và chi nhánh để thông báo cho khách
hàng.
6. Quy trình thanh toán .
Cuối ngày giao dịch , trung tâm điện toán của sở giao dịch thực hiện việc
tổng hợp các giao dịch của từng thành viên môi giới thành bản danh mục các
giao dịch trong ngày .Bảng danh mục này gồm các nội dung chính sau:
- Tên , mã hiệu thành viên môi giới
- Tên công ty chứng khoán và mã công ty
- Chứng khoán được giao dịch : chủng loại chứng khoán , mã chứng
khoán mua, mã chứng khoán bán , số lượng giao dịch , tổng giá trị giao dịch,
phí giao dịch.
Ngày T (hay T+0)
8
Nhân viên môi giới nhận được kết quả khớp lệnh từ SGD , TTGDCK và
chuyển cho nhân viên kế toán lưu kí. Nhân viên kế toán lưu kí tiến hành kiểm
tra với toàn bộ phiếu lệnh , kiểm tra tính chính xác của việc nhận và truyền
lệnh của nhân viên môi giới và nhân viên tại sàn . Sau đó NVLTLK chuyển các
chứng khoán đã khớp lệnh, tiền của khách hàng từ tài khoản chứng khoán,
tiền giao dịch sang tài khoản chứng khoán , tiền chờ giao dịch. Nếu có sai sót
phải làm rõ nguyên nhân do nhân viên giao dịch tại sàn hay nhân viên môi
giới tại công ty để có biện pháp xử lý.
Sau khi kiểm tra và điều chỉnh sai sót nếu có, Trung tâm điện toán chuyển bản
danh mục giao dịch trong ngày tới các thành viên môi giới. Bản danh mục
giao dịch trong ngày là một phần cấu thành quan trọng trong nhật ký giao
dịch của CTCK và là cơ sở pháp lý xác nhận các giao dịch đã được thực hiện
ngày ( T+ 0)
Sao kê giao dịch .
Để phục vụ việc quyết toán giao dịch , bên cạnh danh mục giao dịch trong
ngày , trung tâm điện toán của sở giao dịch lập bản sao kê giao dịch , bản sao
kê là bản tổng hợp phân loại các giao dịch theo loại giao dịch mua và bán. Bản
sao kê giao dịch được lập thành hai liên và chuyển cho nhân viên môi giới của
CTCK ngày ( T+0)
Danh mục các giao dịch không được thực hiện và các giao dịch chưa hoàn tất.
Ngoài các bản giao dịch trong ngày , cuối ngày giao dịch trung tâm điện
toán của SGD sẽ chuyển tới thành viên môi giới bản danh mục các giao dịch
không được thưc hiện, đó là các giao dịch do thành viên môi giới đăng ký
nhưng chưa co giao dịch đối ứng ( do ấn định giá hay khối lượng) hoặc các
giao dịch không chấp hành cac quy định giao dịch của SGD đồng thời thông
báo cho bộ phận giám sát thị trường để theo dõi. Danh mục các giao dịch
chưa hoàn tất bao gồm các giao dịch mà tổ chức lập giá chưa công bố đối tac
giao dịch trong trường hợp đối tác đã thực hiện giao dịch vượt quá hạn mức
giá trị được cấp.
Ngày T+1
Tại ngày làm việc sau ngày giao dịch , CTCK phải chuyển bản sao kê danh
mục bán và mua( có xác nhận của công ty) tới trung tâm thanh toán bù trừ và
LKCK nơi CTCK là thành viên . Trên cơ sở bản sao kê này , TTTTBT và LKCK
thực hiện việc bút toán đối lưu . Trên tài khoản của tổ chức bán : ghi nợ tài
khoản chứng khoán , ghi có tài khoản tiền . trên TK của tổ chức mua: ghi nợ
tài khoản tiền , ghi có TK chứng khoán. Cuối ngày các chủ tài khoản đều nhận
được bản trích phụ lục tài khoản tiền và chứng khoán.
Ngày T+ 2
Sau khi nhận được báo cáo bù trừ và thanh toán tiền từ TTLK và TTBT
nhân viên kế toán kiểm tra số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch tại SGD ,
TTGDCK để chuẩn bị thanh toán vào ngày T+3 . Nếu tài khoản của công ty
không còn đủ tiền thì CTCK phải nhanh chóng huy động tiền vào tài khoản
trước thời gian quy định ( ở Việt Nam hiện nay là trước 11h ngày T+3 ) ,Nếu
công ty không huy động được đủ tiền thì phải làm thủ tục để được sử dụng
Quỹ hỗ trợ thanh toán của TTLKCK. Nếu trong tài khoản của công ty không đủ
9
chứng khoán để thanh toán thì công ty phải chuyển chứng khoán từ tài khoản
tự doanh hoặc thương lượng với khách hàng,
Ngày T+3
Thanh toán quyết toán với khách hàng
Thanh quyết toán với khách hàng là việc thanh toán giá trị giao dịch
chứng khoán là giá mua ( bán) chứng khoán được xác định theo giá giao dịch
chính thức khi khớp lệnh. Việc thanh toán được thực hiện theo phương thức
chuyển khoản đối với giao dịch mua CTCK thực hiện thu tiền bằng các phiếu
ủy nhiệm chi trích từ tài khoản của khách hàng sang tai khoản của CTCK. Đối
với giao dịch bán : CTCK phải thực hiện việc thu tiền cho khách hàng bằng
cách chuyển tiền từ tài khoản CTCK sang tài khoản thanh toán của khách
hàng.
Ngoài giá trị giao dịch , khách hàng có trách nhiệm trả lệ phí , phí giao dịch
và phụ phí cho CTCK. Lệ phí là những chi phí được quy định cố định cho một
giao dịch.
Phí giao dịch bao gồm :
- Phí môi giới : Do CTCK thỏa thuận với khách hàng trong khung phí do pháp
luật quy định theo từng loại chứng khoán. Phí này bao gồm: chi phí thanh
toán chuyển khoản tiền và chứng khoán lưu ký.
Phí môi giới = Giá trị giao dịch x Tỷ lệ phí
+ Chuyển giao và chuyển nhượng quyền cơ sở .
Về bản chất hoạt động mua bán chứng khoán đươc thực hiện theo phương
thức phi chứng từ , việc luân chuyển chứng khoán giao dịch được thực hiện
thuần túy bằng các bút toán bù trừ trên các tài khoản lưu ký. Quyền sở hữu
chứng khoán có hiệu lực khi chứng khoán được hoạch toán vào tài khoản lưu
ký và hết hiệu lực khi bị tách khỏi tài khoản này.Do vậy ngay sau khi thực hiện
các bút toán chuyển khoản lưu ký , các trung tâm lưu ký có trách nhiệm
chuyển giao ngay cho công ty lưu ký bản trích lục lưu ký chứng khoán khi có
sự thay đổi trạng thái tài khoản.
Ngày T+3 nhân viên kế toán lưu ký thực hiện chuyển tiền từ tài khoản
tiền gửi của công ty và tiền gửi giao dịch của khách hàng vào tài khoản tiền
gửi thanh toán bù trừ của công ty tại ngân hàng chỉ định thanh toán : đồng
thời hạch toán chuyển số chứng khoán phải thanh toán từ tài khoản tự doanh
của công ty và tài khoản chứng khoán giao dịch của khách hàng vào tài khoản
thanh toán bù trừ của thành viên lưu ký mở tại TTLKCK.
II. Hoạt động môi giới trên thị trường phi tập trung ( OTC )
Quy trình nghiệp vụ môi giới trên thị trường OTC:
Bước 1: Tìm kiếm khách hàng và thu thập thông tin .
+ Tìm kiếm khách hàng : là khâu quan trọng nhất trong hoạt động môi giới
trên thị trương OTC và đươc thực hiện bởi bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ
phận marketing . Việc tìm kiếm khách hàng có thể được triển khai bằng nhiều
cách khác nhau . Thực tế để việc tìm kiếm khách hàng mạng lại hiệu quả nhân
viên OTC phải đi thực tế nhiều , tiếp cận nhanh chóng nguồn thông tin và nắm
bắt nhanh các nguồn thông tin được tiếp cận.
10
+ Thu thập thông tin : Nhân viên môi giới OTC phải thường xuyên cập nhật
các thông tin về giá các chứng khoán OTC hàng ngày để nhập vào hệ thống
mạng máy tính của công ty cho khách hàng của công ty tham khảo , liên tục cập
nhật thông tin về tình hình hoạt động , tình hình tài chính của các tổ chức phát
hàng chứng khoán trên thị trương OTC để lắm rõ các chứng khoán nhằm phục
vụ khách hàng đồng thời tránh được rủi ro do thiếu thông tin gây ra.
Bước 2: ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng.
Sau quá trình tìm hiểu về khách hàng có nhu cầu mua bán chứng khoán,
nhân viên chứng khoán sẽ ký kết với khách hàng hợp đồng mua bán chứng
khoán OTC , hướng dẫn khách hàng đặt cọc tiền mua bán chứng khoán và thực
hiện hợp đồng.
Bước 3: Thương lượng để so khớp các lệnh mua bán.
Sau khi ký hợp đồng , nếu chứng khoán khách hàng muốn mua hoặc bán mà
công ty không có , công ty phải tìm kiếm nguồn tương đương trong thời hạn hợp
đồng . Dù lệnh giao dịch của khách hàng là lệnh thị trường hay giới hạn … CTCK
có trách nhiệm nghiên cứu để thực hiện lệnh các mức giá tốt nhất , bằng cách
liên lạc với các CTCK có nắm giữ loại chứng khoán này thông qua hệ thống giao
dịch của thị trường OTC để tìm ra cac giá yết phù hợp , sau đó thông báo cho
khách hàng về việc thực hiện lệnh giao dịch . Nếu không tìm được nguồn hàng
phải thông báo với khách hàng vào ngày hết thời hạn của hợp đồng.
Bước 4: Chuyển nhượng chứng khoán .
Sau khi khớp lệnh mua và bán nhân viên môi giới yêu cầu bên bán chứng
khoán chuyển giao các giấy tờ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán , yêu
cầu bên mua thanh toán đầy đủ các khoản tiền kí kết theo điều khoản của hợp
đồng.
Bước 5: Thanh toán các khoản phí môi giới và dịch vụ hoàn trả tiền đặt cọc
nếu vi phạm hợp đồng nếu vi phạm .
Sau khi hoàn tất các quá trình chuyển nhượng , nhân viên môi giới sẽ tính
toán các khoản phí phát sinh liên quan, nhưng thiệt hại xảy ra đối với khách
hàng do công ty làm sai các quy định của hợp đồng . Phí giao dịch phụ thuộc
vào việc công ty chứng khoán là người đại lý thực hiện lệnh cho khách hàng
hay nhà tao lập thị trường . Phí hoa hồng do CTCK quy định và phải công bố
công khai cho khách hàng. Đối với người bán chứng khoán : các khoản phí sẽ
được khấu trừ vào tiền bán chứng khoán, đối với bên mua se yêu cầu khách
hàng thành toán phần còn thiếu vao tài khoản tiền đặt cọc. Hoàn trả tiền đặt
cọc, cho khách hàng nếu không thực hiện được hơp đồng.
Bước 6: Lưu trữ hồ sơ và các giấy tờ liên quan để giải quyết tranh chấp
phát sinh nếu có.
11
Phần 2: Thực trạng hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty cổ
phần chứng khoán Sao Việt.
I. Khái quát về công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt.
1. Quá trình hình thành.
Công ty Cổ phần Chứng khoán Sao Việt (VSSC) chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 09/04/2007 theo Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005730 do
Sở KH & ĐT TP Hồ Chí Minh cấp ngày 18/12/2006 và Giấy phép hoạt động
kinh doanh chứng khoán số 33/UBCK-GPHĐKD do Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước cấp ngày 25/12/2006 với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. Trước nhu
cầu mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, VSSC đã thực hiện tăng vốn
điều lệ 2 lần vào quý 2 và tháng 12 năm 2007. Hiện nay, VSSC hoạt động với
vốn điều lệ là 135 tỷ đồng trên các lĩnh vực: Môi giới chứng khoán, Tự doanh
chứng khoán, Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, Lưu ký chứng khoán.
VSSC được công nhận là:
Thành viên Giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
từ ngày 06/04/2007.
Thành viên Giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội từ ngày
03/05/2007.
Thành viên Lưu ký của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam từ ngày
14/03/2007.
Thành viên hệ thống đăng ký giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
từ ngày 19/06/2009.
2. Cơ cấu tổ chức
12
3. Các hoạt động chính của công ty và tầm nhìn sứ mạng.
- Môi giới Chứng khoán.
- Tự doanh Chứng khoán.
- Tư vấn Tài chính và Đầu tư Chứng khoán.
- Lưu ký Chứng khoán
• VSSC đặt mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam, cam kết
cung cấp cho khách hàng các dịch vụ hoàn hảo, sản phẩm chất lượng đa
dạng và chuyên biệt, có độ tin cậy cao dựa trên một nền tảng đội ngũ
chuyên viên giàu kinh nghiệm và am hiểu về tài chính.
• Phát triển đồng đều và đầy đủ các dịch vụ tài chính, đầu tư: Môi giới chứng
khoán, Tư vấn đầu tư, Tư vấn tài chính, Quản lý quỹ, Bảo lãnh phát hành.
• Trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp trong nước và khu vực Châu Á.
• Trở thành điểm đến của các chuyên gia tài chính hàng đầu Việt Nam và
Quốc tế.
• Mang công nghệ tối ưu đến với khách hàng.
• Trở thành công ty đại chúng góp phần thúc đẩy phát triển thị trường cũng
như cuộc sống xã hội.
II. Thực trạng môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán Sao Việt
1. Thực trạng môi giới tại Việt Nam hiện nay.
Cho đến cuối năm 2004 đã có hơn 21.200 tài khoản của khách hàng được mở
tại các thành viên, tăng hơn 29% so với cuối năm 2003, trong đó số lượng nhà
đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán đạt
203 tài khoản tăng 147 tài khoản so với cuối năm 2003. Tính cuối năm 2004,
Công ty chứng khoán Bảo Việt có số tài khoản cao nhất đạt 4.254 tài khoản
chiếm 19,68% toàn thị trường. Hoạt động môi giới trong năm 2004 có nhiều
khởi sắc hơn năm 2003, với tổng khối lượng giao dịch môi giới mua và bán cổ
phiếu qua 13 thành viên đạt 136.728.216 cổ phiếu, tăng hơn 82 triệu cổ phiếu
so với năm 2003, và tổng giá trị giao dịch đạt 3.695 tỷ đồng. Bốn thành viên
BVSC, BSC, SSI và ACBS chia nhau nắm giữ 70% thị phần hoạt động môi giới.
Kể từ tháng 8.2004, TTGDCK TP.HCM chuyển toàn bộ giao dịch trái phiếu
sang hình thức thoả thuận. Sự thay đổi này đã tạo điều kiện cho các công ty
đẩy mạnh mảng môi giới trái phiếu , nâng tổng khối lượng giao dịch mua và
bán đạt 149.311.356 trái phiếu , tăng hơn 125 triệu trái phiếu so với năm
2003, đứng đầu nghiệp vụ này là VCBS, ACBS và Agriseco .
Tháng 11.2004, lần đầu tiên chứng chỉ quỹ đầu tư được niêm yết trên TTCK
VN .Với 30 triệu chứng chỉ quỹ VFMVF1 đang lưu hành đã làm tăng sự đa
dạng về hàng hoá niêm yết, tạo cho các nhà đầu tư có thêm sự lựa chọn mới.
Điều này đã được thể hiện qua tình hình giao dịch của chứng chỉ quỹ VFMVF1,
chỉ trong 2 tháng niêm yết đã có hơn 6,6 triệu chứng chỉ quỹ được chuyển
nhượng, chiếm tỷ trọng 22,05% trên tổng số chứng chỉ quỹ đang lưu hành.
Tính đến hết ngày 30/6/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán tại các
CtyCK đạt 255.185 tài khoản (tăng 169.001 tài khoản, tương đương 196% so
13
với thời điểm ngày 31/12/2006). Trong đó, đối với những CtyCK đã có bề dày
hoạt động, đều chiếm tỷ trọng cao về số lượng nhà đầu tư mở tài khoản giao
dịch như: VCBS có 34.490 tài khoản, chiếm 16,52% tổng số tài khoản toàn thị
trường; BVSC có 34.395 tài khoản, chiếm 13,48%; CtyCK Sài Gòn (SSI) có
26.746 tài khoản, chiếm 10,48%; CtyCK Ngân hàng Đầu tư (BSC) có 24.525 tài
khoản, chiếm 9,61%. Bên cạnh đó, một số CtyCK tuy mới triển khai hoạt động
nhưng đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư, như SBS đạt 7.720 tài khoản,
chiếm 3,03% thị phần, ABS đạt 6.104 tài khoản, chiếm 2.39% thị phần, CtyCK
Vndirect đạt 5.195 tài khoản, chiếm 2.04% thị phần
Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong tháng 6/2007 qua
các CtyCK đạt 25.196 tỷ đồng.Những CtyCK có doanh số môi giới giao dịch lớn
đa số là những công ty đã có nhiều năm hoạt động, có nhiều nhà đầu tư mở
tài khoản (xem bảng dưới đây).
Công ty
chứng
khoán
Doanh số giao dịch
tháng 6/2007
Thị phần giao dịch
tháng 6/2007
VCBS 6.362,5 25,25%
ACBS 3.361 13,34%
SSI 3.253 12,91%
BVSC 2.182 8,66%
BSC 1.313 5,21%
Đơn vị: tỷ đồng
2. Thuận lợi và khó khăn đối với công ty.
Mặc dù có sự gia tăng tuyệt đối về số lượng tài khoản của người đầu tư
nhưng hiện mới chỉ có 0,025% dân số VN đầu tư chứng khoán (hơn 21.000 tài
khoản giao dịch chứng khoán so với 95 triệu dân) là một con số rất thấp. Số
lượng tài khoản giao dịch thường xuyên không cao.
Việc tăng số lượng tài khoản của nhà đầu tư không nhanh như mong đợi, số
lượng tài khoản được mở mới tại công ty đa phần là các cổ đông ban đầu của
các công ty được niêm yết. Ngoài ra, có hiện tượng một nhà đầu tư mở tài
khoản tại nhiều công ty chứng khoán để giao dịch.
Do số lượng tài khoản thấp nên giá trị giao dịch chứng khoán cũng chưa
nhiều. Mặt khác các giao dịch cũng chưa thực sự phản ánh đúng tình trạng
cung cầu của thị trường.Hình thức khớp lệnh như hiện nay chưa tiên tiến nên
dễ dẫn đến tình trạng đầu cơ và không phản ảnh thực giá trị thật của cổ
phiếu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét