Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Quản trị rủi ro đầu tư phương pháp và nội dung

LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động đầu tư là một quá trình diễn ra trong thời kỳ dài, quy mô vốn đầu
tư lớn và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của
hoạt động đầu tư thường cao. Trong bất kì hình thức đầu tư nào cũng luôn luôn tồn
tại sự đánh đổi rủi ro hoặc lợi nhuận. Điều này có nghĩa là sự mạo hiểm càng lớn,
bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro càng cao thì khoản lợi nhuận tiềm năng cũng sẽ cao
hơn nhiều. Đó đơn giản chỉ là phần thưởng xứng đáng cho những người dám đặt
nguồn vốn của mình vào những kết quả không biết trước. Rủi ro đầu tư do nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư quản lý
kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu có nguyên nhân khách quan như giá
nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất
thiết kế. Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư hiệu quả, cần phải thực hiện các
biện pháp quản lý rủi ro.
Trong quản lý dự án đầu tư, sự thành công của các dự án phụ thuộc vào khả
năng dự đoán các sự kiện có thể xảy ra. Khi rủi ro là phần không thể dự đoán của
một dự án thì điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát nó càng nhiều càng tốt và
tạo ra khả năng dễ dự đoán nó. Quản lý rủi ro là dự kiến ngăn ngừa và đề xuất biện
pháp kiểm soát các rủi ro nhằm loại bỏ, giảm nhẹ, hoặc chuyển chúng sang một tác
nhân kinh tế khác, tạo điều kiện sử dụng tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp. Vậy
làm thế nào để nhận diện , phân tích, định lượng và xử lý rủi ro là một vấn đề mà
tất cả các nhà đầu tư quan tâm nhưng chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và cụ
thể. Chính vì tầm quan trọng của vấn đề trên nên tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro
đầu tư: phương pháp và nội dung”
Đề tài được chia làm ba phần chính:
Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro trong đầu tư
Phần 2: Quản trị rủi ro đầu tư
Phần 3: Một số bài học rút ra từ việc nghiên cứu Quản trị rủi ro đầu tư
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO
TRONG ĐẦU TƯ
1. Các quan niệm về rủi ro
1.1. Khái niệm rủi ro
Rủi ro gắn với khả năng xảy ra một biến cố không thể lường trước, biến cố
mà ta hoàn toàn không biết chắc.
Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế hoặc là rủi ro là sự không thể
đoán trước được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với kết quả dự đoán.
1.2. Một số quan niệm về rủi ro
Khi nói đến rủi ro người ta thường có hai quan niệm:
- Rủi ro chỉ liên quan đến các thiệt hại – rủi ro không đối xứng
Với quan niệm này, chúng ta có thể thấy một số khái niệm rủi ro tương ứng
như: rủi ro là toàn bộ biến cố ngẫu nhiên tiêu cực tác động lên quá trình đầu tư làm
thay đổi kết quả theo chiều hướng bất lợi, rủi ro là khả năng xảy ra một sự cố
không may hoặc rủi ro là sự kết hợp của nguy cơ hoặc rủi ro là khả năng xảy ra tổn
thất. Vì vậy, thông thường chúng ta coi rủi ro là sự kiện ngẫu nhiên, là sự cố gây
tổn thất và là sự kiện ngoài mong muốn.
- Rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn – rủi ro đối xứng
Đây là cách nhìn nhận rủi ro một cách khách quan hơn, theo đó các khái
niệm ban đầu về rủi ro của chúng ta đã thể hiện rõ quan niệm này và chúng ta coi
rủi ro là khả năng sai lệch xảy ra giữa giá trị thực tế và kỳ vọng kết quả; sai lệch
lớn, rủi ro càng nhiều.
1.3. Đặc trưng của rủi ro
Rủi ro có hai đặc trưng chính:
- Tần số xảy ra (rủi ro có hay xảy ra hay không?): được thể hiện bằng xác
suất hoặc khả năng xuất hiện của biến cố.
- Biên độ (Mỗi lần xảy ra có lớn hay không? Lớn bao nhiêu?): được thể hiện
bằng giá trị của các biến cố hoặc tác động của các biến cố.
2. Phân loại rủi ro
2.1. Theo các giai đoạn của quyết định đầu tư
- Rủi ro trước khi ra quyết định (rủi ro thông tin): đây là loại rủi ro xảy ra
khi thu thập các thông tin không đầy đủ, không chính xác dẫn đến nhận diện sai về
bản chất của các yếu tố liên quan đến phương án đầu tư, điều này dẫn tới ra các
quyết định đầu tư sai.
- Rủi ro khi ra quyết định (rủi ro cơ hội): rủi ro này xảy ra khi chúng ta lựa
chọn các phương án không tối ưu
- Rủi ro sau quyết định: là loại rủi ro thể hiện ở sự sai lệch giữa dự kiến và
thực tế.
2.2. Theo phạm vi
- Rủi ro theo ngành dọc (rủi ro cá biệt): là rủi ro ảnh hưởng đến từng khâu,
từng bộ phận riêng biệt trong hoạt động đầu tư.
- Rủi ro chung: là rủi ro ảnh hưởng đến tất cả các khâu, các bộ phận trong
hoạt động đầu tư
2.3. Theo tính chất tác động
- Rủi ro theo suy tính (rủi ro mang tính chất đầu cơ): là loại rủi ro phụ thuộc
vào mong muốn chủ quan của nhà đầu tư, nó xảy ra trong trường hợp nhà đầu tư
chủ động lựa chọn phương án cho dù biết rằng có thể có lợi hoặc bị thiệt hại.
- Rủi ro thuần túy: là rủi ro mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí
chủ quan của chủ đầu tư, rủi ro này thường chỉ mang lại những thiệt hại cho các
phương án đầu tư.
2.4. Theo bản chất
- Rủi ro tự nhiên
- Rủi ro về công nghệ và tổ chức
- Rủi ro về kinh tế - tài chính cấp vi mô và vĩ mô
- Rủi ro về chính trị - xã hội
- Rủi ro về thông tin khi ra quyết định đầu tư
2.5. Theo nơi phát sinh
- Rủi ro do bản thân dự án gây ra
- Rủi ro xảy ra bên ngoài (môi trường) và tác động xấu đến dự án
2.6. Theo mức độ khống chế rủi ro
- Rủi ro không thể khống chế được (bất khả kháng)
- Rủi ro có thể khống chế được
2.7. Theo giai đoạn đầu tư
- Rủi ro giai đoạn chuẩn bị đầu tư
- Rủi ro giai đoạn thực hiện đầu tư
- Rủi ro giai đoạn khai thác dự án
3. Mối quan hệ giữa rủi ro với các tình huống khác
- Tình huống xác định: là tình huống khi thông tin đầu vào hoàn toàn xác
định và vì vậy kết quả đầu ra là duy nhất, xác suất xảy ra biến cố là 1. Với tình
huống xác định chúng ta có thể dễ dàng, nhanh chóng ra quyết định. Các chỉ tiêu
làm căn cứ ra quyết định đầu tư như NPV, IRR, thời gian thu hồi vốn
- Tình huống rủi ro: là tình huống khi thông tin đầu vào có nhiều giá trị, có
phân bố xác suất và vì vậy kết quả đầu ra là tập hợp nhiều kết quả có phân bố xác
suât. Với tình huống rủi ro, chúng ta thường áp dụng lý thuyết xác suất để ra quyết
định đầu tư. Lý thuyết xác suất được thể hiện bằng các số đo rủi ro như: giá trị kỳ
vọng, độ lệch chuẩn và khi phân tích có thể áp dụng các phương pháp phân tích
độ nhạy, phân tích theo kịch bản, phân tích mô phỏng Monte Carlo
- Tình huống bất định: là tình huống khi thông tin đầu vào không chắc chắn,
không có phân bố xác suất và vì vậy kết quả đầu ra cũng không xác định, không có
phân bố xác suất. Đây là tình huống khiến chúng ta gặp khó khăn khi ra quyết định
và thường áp dụng lý thuyết trò chơi. Những tiêu chuẩn thường được áp dụng khi
lựa chọn như maximax, maximin, maximin, likehood, minimax regret
PHẦN II: QUẢN TRỊ RỦI RO ĐẦU TƯ
I. Phân loại rủi ro với các dự án đầu tư
1. Rủi ro ở pha lập dự án
Bao gồm rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài
- Rủi ro bên trong:
+ Xác định công việc không chính xác
+ Mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu không phù hợp
+ Rủi ro kỹ thuật (rủi ro nghiên cứu và đưa vào sản xuất không hợp với
nhau), rủi ro công nghiệp hóa (viếc sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường không
đem lại hiệu quả)
- Rủi ro bên ngoài
+ Sự lạc hậu về thương mại (đánh giá sai về nhu cầu thị trường, thị trường
phát triển quá nhanh)
+ Rủi ro pháp chế:
• Văn bản mới ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của dự án
• Chưa rõ ràng các đạo luật
2. Rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực
Nội dung dự báo của dự án bao gồm: Xác định các nguồn lực cần huy động,
khả năng thực tế của các nguồn lực đó.
- Xác định các nguồn lực ban gồm các vấn đề:
+ Sử dụng lao động
+Sử dụng trang thiết bị, bảo hộ lao động, ô nhiễm môi trường
+ Thiếu hiểu biết về các nguồn lực
+Sự không tương hợp giữa các nguồn lực được huy động
- Khả năng thực tế của các nguồn lực:
+ Công suất của máy móc thiết bị
+ Năng suất lao động của công nhân
3. Rủi ro ở pha triển khai dự án
- Phát triển muộn vấn đề
- Nhận thức sai vấn đề
- Đề xuất phương án xử lý không phù hợp
II. Một dự án đầu tư có thể gặp những rủi ro nào
1. Rủi ro chính trị:
Rủi ro này bao gồm bất ổn tài chính và bất ổn chính trị.
Ví dụ:
- Hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài
- Sắc thuế mới gây thiệt hại cho nhà đầu tư
- Quốc hữu hóa
- Những cam kết ưu đãi trước đây đối với các nhà đầu tư bị xóa bỏ
Có thể liệt kê một số rủi ro chính trị chính sau đây:
- Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hằng năm của dự án
bị thay đổi từ đó NPV và IRR của các dự án bị thay đổi theo.
- Hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác: làm giảm sản
lượng hoặc tăng chi phí của các dự án.
- Chính sách tuyển dụng lao động: những thay đổi về quản lý và tuyển dụng
lao động như thay đổi quy định về mức lương tối thiểu, chính sách với lao động
nữ, hạn chế lao động nước ngoài đều ảnh hưởng đến hiệu quả của các dự án.
- Kiểm soát ngoai hối: Hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh hưởng đến
hoạt động cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án cũng nhu quyền lợi của các
nhà đầu tư.
- Lãi suất: Khi chính phủ đưa ra các chính sách lãi suất để kiểm soát lạm
phát có thể làm cho hoạt động đầu tư tăng lên hoặc giảm đi.
- Độc quyền: Sự độc quyền kinh doanh của nhà nước ở một số lĩnh vực có
thể làm hạn chế đầu tư cho các bộ phận khác trong xã hội và thường dẫn đến sự
kém hiệu quả của đầu tư.
- Môi trường, sức khỏe và an toàn: Những qui định liên quan đến kiểm soát
chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng có thể làm hạn chế
nhiều dụ án cũng nhu chi phí của dự án.
- Quốc hữu hóa.
2. Rủi ro xây dựng /hoàn thành công trình
 Chi phí xây dựng vượt quá dự toán
 Công trình xậy dựng không đảm bảo các yêu cầu của dự án
 Hoàn thành không đúng thời hạn
 Không giải tỏa được dân, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dụ án
3. Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh toán
 Cầu không đủ: Q < Công suất của dự án
 Giá bán thấp
Dẫn tới việc không có khả năng trả nợ
4. Rủi ro về cung cấp đầu vào
Đầu vào của dụ án: nguyên vật liệu, vốn, lao đông, máy móc thiết bị,
 Không đảm bảo được các đầu vào quan trọng theo số lượng, giá cả, chất
lượng đã dự kiến gây khó khăn trong việc vận hành, thanh toán các
khoản nợ
5. Rủi ro về kĩ thuật và vận hành
 Khi các tiện ích ( dây chuyền, thiết bị, hệ thống điều hành ) của dự án
không thể vận hành và bảo dưỡng ở mức độ phù hợp với thiết kế ban đầu
của dự án
6. Rủi ro về môi trường và xã hội
Môi trường: bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nhưng không bị chi
phối bởi người đưa ra quyết định
 Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người
dân xung quanh
7. Rủi ro kinh tế vĩ mô
 Bao gồm: tỷ giá hối đoái, lạm phát, lại suất.
III. Quá trình quản lí rủi ro
Quản lý rủi ro đối với các dự án là một quá trình từ nhận diện, phân tích và
định lượng rủi ro, xử lý rủi ro và kiểm soát rủi ro.
1. Nhận diện rủi ro
Nhận diện rủi do là việc xác định các đe dọa hoặc các cơ hội có thể xảy ra
trong suốt thời gian hoạt động của dự án đi kèm với sự bất định của chúng. Thời
gian hoạt động của dự án là thời gian trong suốt chu kỳ dự án, không phải thời gian
hoạt động của đội quản lý dự án, thời gian này tính đến khi khách hàng chấp nhận
sản phẩm của dự án, thậm chí có dự án tính cả đến giai đoạn bảo hành. Các rủi ro
còn cần tính đến khi sản phẩm hoặc dịch vụ của dự án phát huy tác dụng. Các rủi
ro do sự rò gỉ của sản phẩm do lỗi khi chúng ta thiết kế và sản xuất phải được tính
đến để ngăn chặn chúng không xảy ra. Có thể nhận diện các rủi ro bằng nhiều cách
khác nhau nhưng những các nào có thể xác định nhanh (productive) và hiệu quả
(economical) thì cần được sử dụng.
Công việc đầu tiên cần tính đến khi nhận diện rủi ro là xác định các lĩnh vực
của dự án có thể xảy ra rủi ro. Điều này thể hiện ở những lĩnh vực sau:
- Phạm vi: chúng ta cần quan tâm đến công việc của dự án. Cơ cấu phân tách
công việc (WBS) nên được sử dụng lúc này. Phạm vi dự án cần được xác định rõ
ràng cả về các kết quả cần tạo ra cả về các công việc cần được tiến hành. Các lỗi
hoặc bỏ sót của đội dự án và các bên có liên quan cần được giảm thiểu và như vậy
WBS là rất hữu dụng trong kho thực hiên các công việc này.
- Thời gian: Việc xác định ( dự toán) thời gian của dự án và khoảng thời gian
của từng công việc cần cụ thể và hiện thực. Trình tự các công việc cần được xác
định và mối quan hệ giữa các công việc cần được làm rõ.
- Chi phí: Dự toán cho từng công việc cần tiến hành cụ thể và hiện thực. Mọi
chi phí liên quan cần được tính đến và báo cụ thể. Các chi phí trong suốt chu kì
sống của dự án cần được tính đến như duy tu, bảo dưỡng, bảo hành, lạm phát, và
bất cứ chi phí nào có thể nảy sinh.
- Kỳ vọng vào khách hàng: Dự tính cho sự thành công của dự án cần tính đến
các nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Khả năng dự án tạo ra các số lượng,
công dụng sản phẩm, kích cỡ sản phẩm khác nhau cũng cần được tính tới.
- Các nguồn lực: Điều này liên quan đến chất lượng, số lượng và mức độ sẵn
có của các nguồn lực mà dự án cần đến. Các kỹ năng của người lao động
- Tổ chức: Đây là khả năng quan hề với tổ chức của các bên liên quan trong
các điều kiện thông tin và kiến thức
Việc nhận diện rủi ro có nhiều người tham gia và vì vậy các kỹ thuật phân tích
nhóm cần được sủ dụng:
- Kỹ thuật tập kích não( Brainstorming Technique):
- Kỹ thuật Delphi:
- Kỹ thuật nhóm định danh (Nominal Group Technique):
- Phỏng vấn chuyên gia:
- Lược đồ Ishikawa hay xương cá (Ishikawa or Fishbone Diagarams)
2. Định lượng rủi ro
Định lượng rủi ro là một quá trình đánh giá các rủi ro đã được nhận diện và
tiếp tục sử lý các số liệu cần thiết để đưa ra quyết định phù hợp.Quản lý rủi ro
được tiến hành từ lúc dự án bắt đầu cho đến khi dự án kết thúc, phân tích định
lượng cũng được tiến hành ở nhiều thời điểm của dự án vì vậy các kĩ thuật phân
định lượng cũng được sử dụng như khi phân tích rủi ro.
Mục đích của phân tích định lượng là xây dựng trình tự ưu tiên theo tầm
quan trọng của các rủi ro. Với nhiều dự án, chúng ta không có đủ thời gian và kinh
phí để xử lý tất cả các rủi ro đã nhận diện.
Giá trị kỳ vọng được coi là thước đo của công cụ định hướng. Giá trị kì
vọng là sự kết hợp xác suất và tác động của rủi ro.Ở dạng đơn giản nhất, rủi ro
được phân loại ỏ giá trị kì vọng cao hay thấp hoắc cao, trung bình,thấp. Xác suất
rủi ro được xác định bàng tỉ lệ phần trăm hoặc giá trị thập phân từ 0 đến 1 và tác
động của rủi ro thường được tính bằng giá trị tiền. Khi nhân xác suất với tiền
chúng ta được giá trị kì vọng rủi ro.
Nhiều kỹ thuật thống kê được sử dụng khi rủi ro như: PERT, thống kê chọn
mẫu, phân tích độ nhạy, phân tích cây quyết định, các chỉ số tài chính, Monto
Carlo và đường găng.
2.1. Số đo rủi ro:
Số rủi ro đước đánh giá trên cơ sở tiêu chuẩn cơ bản:
a, Giá trị kì vọng:
được xác định theo công thức

• EV là giá trị kỳ vọng
• Pi là xác suất của biến cố i
• Xi là giá trị của biến cố i
• n là số biến cố
b, Độ lệch tiêu chuẩn
Độ lệch tiêu chuẩn xác định mức độ giao động xung quang giá trị trung bình
( giá trị kỳ vọng- giá trị kỳ vọng) của một kết quả nào đó.
Để hiểu độ lệch tiêu chuẩn trước hết chúng ta nghiên cứu khái niệm phương
sai. Phương sai- Bình phương sai số: là một số đo cho biết kết quả mà chúng ta thu
được khác với giá trị mong đợi như thế nào, nó được đo bằng giá trị trung bình của
bình phương sai số.
Phương sai:
Hay
Từ đó độ lệch chuẩn được xác định theo công thức:
c, Hệ số beta:
Đo lường sự biến động của dự án so với mức biến động chung của thị trường
đầu tư. Théo đó, hệ số xác định mối quan hệ giữa chênh lệch thu nhập quá khứ
của công ty và thu nhập không đổi với chênh lệch quá khứ của toàn bộ thì trường
và thu nhập không đổi.
Nếu: <1: Sự biến động của dự án nhỏ hơn sự biến động của thị trường đầu
tư.
Sự biến động của dự án lớn hơn sự biến động của thị trường
đầu tư.
= 1 : Sự biến động của dự bằng với sự biến động của thị trường đầu tư.
Hệ số đo lường tính tuong quan giữa mức sinh lời của dụ án ( hoặc chứng
khoán) với mức sinh lời chung của toàn bộ thị trường.
Nhà đầu tư chỉ chấp nhận đầu tư khi có rủi ro nếu họ nhận được khoản thu
nhập xứng đáng.
Cách xác định mức sinh lời kỳ vọng của một dụ án( chứng khoán)
(Mức bù rủi ro quá khứ của thị trường)
r- mức lãi suất chưa có rủi ro
(Mức bù rủi ro)= p+b+f+m+o
p- mức bù rủi ro sức mua
f- mức bù rủi ro tài chính
m- mức bù rủi ro thị trường
o- mức bù rủi ro khác
2.2. Phân tích rủi ro
Vòng đời của một dự án đầu tư thường rất dài, có khi hàng chục năm. Khi
đưa ra các quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liêu giả định.
Những số liệu này đôi khi không thể lường trước được những tình huống bất trắc
sẽ nảy sinh trong tương lai, dẫn đến tình trạng là khi lập dự án thì dự án rất khả thi
nhưng khi thực hiện thì dự án gặp rất nhiều khó khăn, nhiều dự án do bị thua lỗ
quá nhiều nên phải chấm dứt hoạt động trước thời hạn. Chính vì vậy khi xây dựng
một dự án các doanh nghiệp cần phân tích đầy đủ, cần lường trước được những
tình huống bất trắc sẽ nảy sinh trong tương lai, trên cơ sở đó tính toán lại hiệu quả
đầu tư. Nếu trong trường hợp bất trắc nảy sinh mà dự án vẫn có hiệu quả thì đó là
một dự án vũng chắc, có thể chấp nhận được. Ngước lại, doanh nghiệp hoặc phải
có các biện pháp phòng chống rủi ro hoặc phải khước từ dự án đó.
a, Phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu
Phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu dựa vào mức độ rủi ro dự kiến. Đây
là phương pháp đơn gian nhất và được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn. Nguyên
tắc cơ bản của phương pháp này là điều chỉnh mức tỷ lệ cơ sở chiết khấu cơ sở
được xem là không có rủi ro, hoặc có thể chấp nhận ở mức rủi ro tối thiểu. Việc
điều chỉnh được thực hiện bằng cách cộng thêm vào lãi suất một mức bù cần thiết
cho rủi ro( mức bù rủi ro), sau đó thực hiện tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR theo
mức lãi suất mới nhận được, sau khi đã điều chỉnh thep mức rủi ro, quyết định đầu
tư sẽ được thực hiện theo nguyên tắc của chỉ tiêu được chon.
Nếu rủi ro gắn với dự án càng lớn thì mức bù rủi ro càng phải cao.
Ưu điểm của phương pháp này là dễ tính toán, dễ hiểu và dễ thực hiện.
Nhược điểm:
- Chỉ tăng lãi suất để qui đổi mà không xét đến các rủi ro thực tế.
- Coi rủi ro tăng thời gian với một tỷ lệ không đổi.
- Không tính đến xác suất các trường hợp rủi ro
- Khó mô hình hóa các phương án khác nhau.
b, Phương pháp hệ số tin cậy
Phương pháp này điều chỉnh các giá trị của dòng tiền dự kiến ( C ) bằng
cách đưa vào các hệ số điều chỉnh đặc biệt đối với từng thời kỳ thực hiện dự án.
Nếu coi dòng tiền ban đầu ( dòng tiền chưa tính đến rủi ro) là RC thì dong tiền
được điều chỉnh theo rủi ro CC sẽ bằng:
CC =
Với < 1. Hệ số điều chỉnh được xác định trên cơ sở mức độ dự đoán về
rủi ro trong tương lai. Nếu mức độ rủi ro trong tương lai càng lớn thì hệ số càng
nhỏ. Hệ số được xác định cho từng năm của dự án. Sau khi có dòng tiền điều
chỉnh chúng ta xác định các chỉ tiêu hiệu quả của dự án. Nếu dự án vẫn có hiệu quả
thì nó được chấp nhận
Phương pháp này cũng có ưu điểm đơn giản là đơn giản, dễ tiếp cận, có tính
đến sự thay đổi mức độ rủi ro trong các năm nên có ưu điểm hơn phương pháp
trên.
Nhược điểm:
- Khó khăn trong xác định
- Không tính đến xác suất của các biến cố chủ chốt.
c, Phân tích độ nhạy cảm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét