Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính của DN phục vụ hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Đông Hà Nội. Thực trạng và giải pháp

- Tín dụng sản xuất và lu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các nhà DN.
Các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lu thông hàng hoá
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng.
1.1.2.3 Theo thời hạn tín dụng:
Chia làm 2 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dới 1 năm.
- Tín dụng trung và dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
1.1.3 Tín dụng trung và dài hạn.
1.1.3.1 Khái niệm:
Là loại tín dụng mà Ngân Hàng cung cấp cho DN nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn
thờng xuyên của DN. Nh nhu cầu tài trợ cho TSCĐ và một phần cho TSLĐ thờng
xuyên của DN.
Tín dụng trung và dài hạn luôn đợc các DN quan tâm, nhất là trong giai đoạn
hiện tại khi các DN đang cần nhu cầu vốn lớn để đầu t hiện đại hoá công nghệ và
tăng cờng cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm. Tín dụng trung và dài
hạn phù hợp với mọi DN, nhất là các DN vừa và nhỏ vì nó phù hợp với điều kiện thực
tế của loại DN này. Bên cạnh đó thì các DN lớn cũng thích vay trung và dài hạn để
tránh phát hành cổ phiếu, trái phiếu vì đây là những hình thức huy động vốn có thể
dẫn đến sự phân chia quyền lợi và sự kiểm soát DN.
1.1.3.2 Đặc trng của tín dụng trung và dài hạn.
- Thời gian dài.
Xuất phát từ tính phức tạp của hoạt động đầu t là dài hạn, các công cuộc đầu t
phải trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn lại phải tiến hành qua nhiều bớc, để hoàn
thành các bớc và các giai đoạn đó thì cần phải có thời gian. Tổng thời gian để thực
hiện các bớc và các giai đoạn đó sẽ làm cho việc đầu t phải kéo dài. Từ những đặc
điểm của đối tợng tài sản đầu t là những dự án lớn, thời gian dài nên tín dụng trung
dài hạn có đặc điểm là thời gian thu hồi vốn kéo dài để phù hợp cho đối tợng đầu t.
5
Thời hạn cho vay của tín dụng trung và dài hạn đợc chia làm 2 trờng hợp:
+ Trờng hợp khoản vay phát huy hiệu quả ngay sau khi số tiền vay đựơc phát ra
thì thời hạn vay chính là thời hạn thu hồi vốn.
+ Trờng hợp khoản vay sau khi số tiền vay đợc phát ra, phải trải qua một thời
gian mới phát huy hiệu quả, thì thời hạn cho vay ngoài thời hạn thu hồi còn phải tính
thêm thời gian này đây chính là thời gian ân hạn mà Ngân Hàng dành cho các DN.
- Vốn đầu t lớn.
Trong nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ là công cụ kinh tế phục vụ các hoạt động
kinh tế xã hội trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Mọi chu kỳ kinh tế đều
bắt đầu từ tiền tệ và kết thúc chu kỳ với giá trị tiền tệ lớn hơn. Vì vậy, việc tăng
nhanh vòng quay vốn có ý nghĩa rất lớn. Để rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng
quay vốn, các đơn vị phải chủ động cải tiến quy trình công nghệ, hợp lý hoá sản xuất,
hạ giá thành sản phẩmNhng để thực hiện đợc điều đó đòi hỏi phải có một nguồn
vốn lớn vì các trang thiết bị hiện nay có giá bán rất cao.
- Lãi suất cao.
Lãi suất của tín dụng trung và dài hạn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Mức lãi suất chung trên thị trờng: Lãi suất trên thị trờng cũng ảnh hởng lớn
đến lãi suất của tín dụng trung và dài hạn, nếu lãi suất trên thị trờng tăng lên thì Ngân
Hàng cũng phải điều chỉnh lãi suất trung dài hạn tăng lên và ngợc lại.
+ Số tiền mà các DN xin vay: đối với các khoản vay trung và dài hạn có quy mô
lớn thì các NH thờng cho vay với lãi suất thấp hơn so với các khoản vay cùng kỳ hạn
nhng có quy mô vay nhỏ hơn, đây là một chính sách u đãi của các NH để khuyến
khích các DN vay vốn. Lý do thứ 2 nữa đó là khi cho vay với quy mô lớn thì sẽ tiết
kiệm đợc một khoản chi phí để thẩm định và quản lý.
+Thời hạn vay: Các khoản vay có thời gian càng dài thì lãi suất sẽ cao hơn. Nh
vậy so với lãi suất của các khoản vay ngắn hạn thì lãi suất trung và dài hạn cao hơn.
Sở dĩ có việc nh vậy là do khi Ngân Hàng cho vay với thời hạn càng dài thì tính thanh
6
khoản càng thấp, chi phí nguồn vốn cho vay cao và chứa đựng nhiều khả năng xuất
hiện rủi ro hơn.
1.1.3.3 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
- đối với nền kinh tế.
Đối với bất kỳ một quốc gia nào cho dù quốc gia đó là quốc gia phát triển, đang
phát triển hay là mới phát triển thì hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn có tác
động tích cực đến hoạt động của nền kinh tế. Mục tiêu của các quốc gia đó là có một
nền kinh tế phát triển với cơ sở hạ tầng phát triển, vững chắc. Muốn có đợc nh vậy thì
các NHTM phải đẩy mạnh cho vay tín dụng trung dài hạn theo dự án, phát triển cơ sở
hạ tầng. Hoạt động cho vay trung dài hạn thực chất là hoạt động cho vay theo dự án,
là quá trình xem xét cấp vốn tín dụng trên cơ sở những dự án khả thi.
Vai trò chủ yếu của tín dụng trung và dài hạn đợc thể hiện ở chỗ góp phần tăng
cờng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy và bảo đảm sự tăng trởng kinh
tế lâu dài và vững chắc. Trong nền kinh tế thị trờng các DN luôn tìm cách đa dạng
hoá sản phẩm, mở rộng sản xuất để chiếm lĩnh thị trờng. Các DN buộc phải đổi mới
trang thiết bị công nghệ để năng cao chất lợng, hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng c-
ờng sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và trên thế giới với mục đích thu đợc lợi
nhuận ngày càng cao.
Tín dụng trung dài hạn là tiền đề để đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nếu không có hoặc thiếu vốn đầu t, đặc biệt là vốn trung và dài hạn thì sẽ khó có
thể thực hiện đợc. Không có vốn đầu t sẽ không thể lập đợc các vùng kinh tế mới, các
khu công nghiệp mà nhà nớc đã quy hoạchKhông có sản phẩm cạnh tranh cao, nh
vậy thì nền kinh tế khó có thể chuyển dịch đợc cơ cấu kinh tế là cha có thể nói đến
CNH - HĐH.
- Đối với NHTM
Tín dụng trung và dài hạn góp phần phát triển hoạt động của NHTM. Nhờ có
hoạt động tín dụng của ngân hàng mà các nguồn tài chính nhàn rỗi ngắn hạn và dài
7
hạn trong nền kinh tế đợc khai thác và sử dụng có hiệu quả. Hoạt động tín dụng của
ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời cha sử dụng để cho các đơn vị, tổ chức
kinh tế vay nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Qua đố có thể thấy rằng
việc mở rộng và nâng cao chất lợng cho vay trung và dài hạn của NHTM là hết sức
cần thiết vì nó sẽ mở rộng phạm vi kinh doanh, tăng trởng nguồn vốn cho vay của
Ngân Hàng.
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn phát triển, vì khi
cho vay trung dài hạn đầu t vào nhà xởng, máy móc thiết bị, công nghệlàm kích
thích mở rộng sản xuất. Do sản xuất phát triển, các DN càng cần thêm nhiều vốn lu
động hơn và nh vậy thị trờng tiền tệ sẽ đợc mở rộng theo tốc độ phát triển của sản
xuất.
- Đối với các DN.
Tín dụng trung và dài hạn là công cụ hỗ trợ quan trọng cho sự hình thành và
phát triển các DN. Nhất là đối với nớc ta một nớc đang phát triển, nh ta biết thì nớc ta
từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu đi lên XHCN không qua giai đoạn phát triển t
bản chủ nghĩa cho nên các DN giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Hiện nay các DN
đang đứng trong nền kinh tế thị trờng nên có sự cạnh tranh gay gắt, vì vậy nhờ có
nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn để sử dụng cho việc mua sắm nhà xởng, máy
móc thiết bị, công nghệ sản xuấtChất lợng của sản phẩm đợc nâng lên, chiếm lĩnh
đợc thị trợng tiêu thụ.

1.1.3.4 Các hình thức tín dụng trung và dài hạn đối với DN.
- Cho vay mua sắm máy móc thiết bị trả góp: Là loại khoản vay mà mục đích là
tài trợ cho nhu cầu mua sắm máy móc thiết bị của DN, có thời hạn trên một năm, tiền
vay đợc thanh toán dần cho Ngân Hàng từng kỳ theo thoả thuận.
8
- Tín dụng tuần hoàn: Là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết
chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng rong một thời hạn nhất định,
cam kết này có thể dài từ 1 đến 5 năm, song thời hạn của khế ớc nợ trong thời hạn đ-
ợc cam kết thờng là ngắn chỉ khoảng 90 ngày và nếu khách hàng thực hiện tốt các
điềt khoản của hợp đồng tín dụng thì cam kết hạn mức sẽ đợc ngân hàng gia hạn
thêm một kỳ hạn bằng kỳ hạn gốc. Tín dụng tuần hoàn thờng đợc dùng tài trợ cho
nhu cầu tăng trởng tài sản lu động hoặc thay thế cho các khoản nợ ngắn hạn tới kỳ
thanh toán.
- Cho vay đồng tài trợ (hay là cho vay hợp vốn): Là hình thức cho vay trong đó
một nhóm các tổ chức tài chính cùng liên kết lại để tập hợp vốn cho một khách hàng
vay. Hình thức cho vay hợp vốn rất hiệu quả khi nhu cầu vốn vay của DN vợt quá khả
năng cho vay của một Ngân Hàng, đồng thời Ngân Hàng dễ dàng phân tán rủi ro khi
DN đó gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Với hình
thức này thì nhu cầu vay vốn của DN đợc thoã mãn và đồng thời DN sẽ tiết kiệm đợc
thời gian lẫn chi phí cho việc tìm kiếm nguồn vốn lớn. Hình thức này đợc thực hiên
qua 2 hình thức đó là: cho vay hợp vốn trực tiếp và cho vay hợp vốn gián tiếp. Cho
vay hợp vốn trực tiếp là hình thức cho vay trong đó từng Ngân Hàng tham gia sẽ ký
kết một hợp đồng tín dụng riêng đối với DN xin vay, mỗi ngân hàng và DN chỉ có
trách nhiệm và nghĩa vụ với hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Còn phơng thức cho vay
hợp vốn gián tiếp là phơng thức cho vay mà có nhiều ngân hàng cùng tài trợ vốn cho
DN nhng chỉ thông qua một hợp đồng tín dụng duy nhất giữa một Ngân Hàng làm đại
diện với DN.
- Cho vay theo dự án: Là hình hức cho vay trong đó các chủ dự án sẽ thiết lập dự
án để trình lên ngân hàng thẩm định. Sau khi thẩm định, Ngân Hàng sẽ ra quyết định
cho vay hay không.
- Cho thuê tài chính: Đây là một hình thức vay tài sản thông qua một hợp đồng
tín dụng thuê mua. Bên cho vay lấy một hợp đồng tín dụng để mua lại tài sản cố định
9
và giữ quyền sở hữu. Bên vay ký một hợp đồng thuê tài sản và trả góp giá trị tài sản
cả gốc và lãi cho đến khi hết giá trị tài sản hoặc là cho đến khi hết thời hạn hợp đồng
và thanh lý tài sản.
1.2 Vai trò của hoạt động phân tích TCDN trong hoạt động tín dụng của
NHTM.
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính DN trong hoạt động tín dụng của
NHTM.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phơng pháp và công cụ cho
phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong DN từ đó
đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của DN. Qua đó cũng sẽ đánh giá
đợc chất lợng, hiệu quả và độ rủi ro của DN.
Mục tiêu của việc phân tích tài chính của DN: nhằm đạt tới 2 mục tiêu chính.
- Giúp cán bộ tín dụng am hiểu đợc thực trạng và tình hình tài chính của DN,
xác định xem sản xuất kinh doanh của DN hiện tại là nh thế nào: tăng trởng, suy
giảm, ổn định hay là không ổn định. Từ đó đa ra những nhận định, dự báo trong tơng
lai về tình hình sản xuất kinh doanh của DN.
- Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng thu nhập và khả năng trả nợ của DN trong
thời gian lâu dài từ đó có thể ra quyết định đúng đắn và kịp thời khi cung cấp sản
phẩm ngân hàng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
1.2.2 Vai trò của công việc phân tích tình hình tài chính đối với hoạt động
tín dụng của NHNTM.
Tín dụng là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận.
Khi nền kinh tế càng phát triển, thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng ngày càng
gia tăng về cả cách thức và loại hình. Nhất là đối với tín dụng trung và dài hạn khi mà
nền kinh tế càng phát triển thì tín dụng trung và dài hạn càng đợc các ngân hàng chú
trọng vì tín dụng trung và dài hạn đem lại nguồn lợi rất lớn mà một trong các mục
10
tiêu hoạt động của các NHTM chính là tối đa hoá lợi nhuận. Trong hoạt động kinh
doanh của NHTM thì có vô số rủi ro xẩy ra nh là: rủi ro về lãi suất, rủi ro về tỷ giá,
rủi ro tín dụngvà các rủi ro này có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Do đó, để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, các NHTM đã áp dụng nhiều giải pháp,
trong đó giải pháp cơ bản nhất và có vị trí quan trọng là phân tích tình hình tài chính
của của khách hàng trớc khi ra quyết định cho vay. Khi phân tích tài chính của DN
thì sẽ tác động đến NHTM những mặt tích cực sau đây:
1.2.2.1 Việc phân tích tài chính doanh nghiêp là cơ sở để giúp cho ngân hàng
sàng lọc đợc những DN có tình hình tài chính không ổn định có nhiều rủi ro từ đó để có
quyết định đầu t đúng đắn và từ đó có thể tối đa hoá lợi nhuận.
Đối với các NHTM trớc khi tiến hành quyết định tín dụng, cùng với việc thẩm
định hồ sơ khách hàng, thẩm định phi tài chính thì phân tích tài chính của khách hàng
là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong quy trình tín dụng. Khi cho vay
ngân hàng đóng vai trò là nhà tài trợ vốn hay là một chủ nợ vì vậy điều quan tâm nhất
của NHTM đó chính là lợi nhuận mà ngân hàng thu đợc và việc bảo toàn nguồn vốn
của mình. Chính vì thế khi phân tích tình hình tài chính của một DN thì sẽ cho
NHTM biết đợc hiện tại DN đó có sức mạnh tài chính đến đâu, năng lực kinh doanh
và điều kiện kinh doanh nh thế nào. Và NHTM cũng sẽ có đợc những dự báo về tài
chính trong tơng lai của DN qua đó thì có thể tiên liệu đợc những rủi ro có thể xẩy ra
làm giảm khả năng trả nợ của DN.
Trong quá trình phân tích tài chính của khách hàng thì ngân hàng đã thay thế
các cảm nhận chủ quan, cảm tính của mình về DN bằng các chỉ tiêu, chỉ số khoa học
dựa trên những nghiên cứu cẩn trọng các mặt mạnh mắt yếu của khách hàng để từ đó
có đợc quyết định tín dụng đúng đắn. Quyết định đầu t đúng đắn của NHTM đợc thể
hiện:
- NHTM có nên đầu t hay không.
- Nếu mà có đầu t thì phải đầu t nh thế nào? Khối lợng đầu t là bao nhiêu?
- Thời gian cho vay vốn.
11
- Quá trình thu hồi vốn là nh thế nào.
Hơn nữa khi phân tích tài chính của khách hàng thì NHTM sẽ xây dựng đợc cho
mình một kế hoạch cho vay hợp lý, trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh
doanh của và tài chính của DN thì ngân hàng có thể đánh giá đợc nhu cầu vốn trung
và dài hạn của các DN Từ đó NHTM cũng sẽ xây dựng đợc một chiến lợc huy
động vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.2.2 Qua việc phân tích tài chính của DN thì NHTM có thể xác định đợc
khả năng hoàn trả nợ của DN và cũng sẽ xác định đựơc mức độ rủi ro mà NHTM
có thể phải gánh chịu khi chấp nhận cho DN vay vốn từ đó giúp cho NHTM dễ
dàng xếp loại tín dụng và có các biện pháp trích lập phòng ngừa rủi ro một cách
hợp lý.
Cùng với quyết định cấp tín dụng thì NHTM luôn luôn phải theo dõi, đánh giá
xếp loại DN và xếp loại các khoản vay một cách có định kỳ để có những biện pháp
phòng ngừa hợp lý. Hơn nữa việc xếp loại, xếp hạng còn có một ý nghĩa nữa, đó là
nguồn thông tin bổ sung cho NHTM trong việc xem xét cấp tín dụng cho DN sau này
khi DN lại có nhu cầu vay vốn.
1.2.2.3 Phân tích tài chính DN cũng sẽ giúp cho các NHTM dễ dàng kiểm
soát tình hình hoạt động của DN trong quá trình sử dụng vốn.
Khi phân tích tài chính của DN thì các nhà NHTM có thể thấy rõ đợc mặt mạnh
mặt yếu, thực trạng cũng nh tiềm năng của DN, xác định đúng đắn cũng nh đầy đủ
nguyên nhân, mức độ ảnh hởng của các nhân tố đến tình hình tài chính qua đó thì
giúp cho các nhà ngân hàng có thể kiểm soát kịp thời mọi hoạt động của DN. Trong
quá trình sử dụng vốn thì NHTM sẽ trực tiếp khảo sát thực tế tình hình sử dụng vốn
của DN để xem DN vay vốn có sử dụng đúng mục đích hay không, đồng thời ngân
hàng cũng yêu cầu DN định kỳ phải nộp các kết quả mà DN thực hiện đợc xem là DN
sử dụng vốn nh thế nào có khả thi hay không để từ đó có các biện pháp điều chỉnh
thích hợp.
12
1.2.2.4 phân tích tài chính DN sẽ cho thấy những lợi ích mà ngân hàng và DN
có thể có đợc sau khi thiết lập mối quan hệ giữa hai bên.
Thông qua việc phân tích tài chính thì ngân hàng có thể t vấn kịp thời cho các
DN về quyết định tài chính nhằm tháo gỡ những khó khăn, ổn định và phát triển DN.
Nh vậy việc phân tích tài chính của ngân hàng sẽ có lợi ích to lớn cho cả hai bên cả
DN lẫn NHTM mà hai bên đạt đợc trong việc thiết lập mối quan hệ tín dụng. Lợi ích
chủ yếu mà hai bên đạt đợc chủ yếu là lợi ích về tài chính và uy tín. Đối với NHTM
thì lợi ích có đợc chính là: gia tăng thu nhập từ đó tăng lợi nhuận, mở rộng đợc thị
phần, nâng cao đợc vị thế , uy tín của NHTM thu hút đợc nhiều khách hàng hơn. Còn
về phía DN, lợi ích có thể thấy rõ nhất đó là DN đã tận dụng đợc cơ hội kinh doanh
nhờ có nguồn vốn của Ngân Hàng từ đó có thể gia tăng đợc lợi nhuận.
Nh vậy, công tác phân tích tài chính của khách hàng là một khâu cực kỳ quan
trọng không thể thiếu trong quy trình tín dụng trung và dài hạn của các NHTM. Nếu
không có khâu này thì quan hệ tín dụng khó có thể đợc thiết lập hoặc nếu có thể đợc
thiết lập thì NHTM sẽ gặp rủi ro rất lớn.
1.3 Nội dung công tác phân tích tài chính DN đối với hoạt động tín dụng
trung và dài hạn của NHTM.
1.3.1 Nguồn thông tin và tài liệu đợc sử dụng làm cơ sở cho việc phân tích tài
chính của DN.
Các nguồn thông tin mà Ngân Hàng thu thập đợc bao gồm:
1.2.1.1 Thông tin do các DN cung cấp:
Trong quá trình thực hiện công tác phân tích tài chính của DN thì các nhà ngân
hàng sẽ yêu cầu DN cung cấp toàn bộ các thông tin mà mình yêu cầu, trong đó một
thông tin quan trọng nhất không thể thiếu đợc trong phân tích tài chính đó là hệ
thống các báo cáo tài chính DN nh:
- Bảng cân đối kế toán: BCĐKT là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
tổng quát toàn bộ tình hình tài sản của DN theo hai cách đánh giá đó là vốn và nguồn
vốn. Đây là một tài liệu quan trọng sử dụng cho việc phân tích tài chính của DN vì
13
qua đó cán bộ tín dụng sẽ biết đợc tình hình vốn và việc sử dụng vốn của DN tại thời
điểm hiện tại là nh thế nào?
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: BCKQHĐKD chính là báo cáo tài
chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng
nh tình hình thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của nhà nớc trong một kỳ kế toán. Thông
qua việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu trên báo cáo hoạt động kinh doanh của
DN thì NHTM có thể biết đợc kết quả hoạt độngcủa DN đó là nh thế nào lãi hay là lỗ
để có kết luận chính xác về khả năng trả nợ của DN. Cũng thông qua báo cáo hoạt
động kinh doanh thì có thể biết đợc việc thực hiện nghĩa vụ của DN đối với nhà nớc.
Qua đó thì cũng có thể đánh giá đợc xu hớng phát triển của DN qua các kỳ khác.
- Báo cáo lu chuyển tiền tệ: BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
việc hình thành và sử dụng lợng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN. Báo cáo lu
chuyển tiền tệ cho biết đợc thông tin về nguồn tiền hình thành từ các hoạt động kinh
doanh, các hoạt động đầu t và các hoạt động tài chính. Sẽ giúp cho nhà phân tích có
thể tính toán và xác định đợc một cách sơ bộ về nhu cầu về tiền của DN trong các kỳ
tiếp theo.
Ngoài những tài liệu trên thì Ngân Hàng còn có thể yêu cầu DN cung cấp một
số tài liệu nữa liên quan đến các hoạt động kinh doanh của DN nh: báo cáo kiểm toán
(nếu có), các bảng kê chi tiết số liệu của một số tài khoản.
1.2.1.2 Thông tin từ việc điều tra trực tiếp đối với DN.
Ngoài những thông tin tài liệu mà DN cung cấp cho NHTM thì NHTM còn phải
trực tiếp kiểm tra và thu thập số liệu tại DN. Đây cũng là nguồn thông tin hết sức
quan trọng đối với NHTM, qua đó sẽ xác định đợc là những thông tin mà DN cung
cấp cho mình có chính xác, trung thực và đầy đủ hay không. Có nhiều DN do mục
đích riêng của mình nên có thể là khai khống số liệu, những số liệu mà DN cung cấp
cho Ngân Hàng là không đúng với thực tế. Để xác định đợc điều này thì đòi hỏi các
cán bộ tín dụng của ngân hàng phải có sự am hiểu về các DN.
1.2.1.3. Thông tin khác:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét