Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Tài liệu Đề tài " WTO và những vấn đề Việt Nam cần giải quyết để trở thành thành viên của WTO" ppt


4

Một trong những thành tựu khác nữa của vòng đàm phán Urugoay là
việc thành lập WTO, AGTT, khuôn khổ các cuộc đàm phán này, đã không
còn là một tổ chức riêng biệt nữa mà được nhập vào WTO.
1.3. Hệ thống WTO
Hệ thống WTO hình thành từ vòng đàm phán Urugoay giờ đây bao
gồm các hiệp định chính sau đây.
* Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hóa bao gồm cả Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (AGTT 1994) và các Hiệp định kèm theo.
* Hiệp định chung về mục tiêu dịch vụ (AGTT)
* Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ (TRIPS).
WTO chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các Hiệp định này. Tổ
chức này cũng đóng vai trò là diễn đàn đàm phán giữa các nước nhằm tự do
hóa hơn nữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Nó cũng đưa ra
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên. Bất cứ
nước thành viên nào cho rằng thương mại của mình bị ảnh hưởng bất lợi vì
một nước khác không tuân thủ các quy tắc, nếu không đi đến một giải pháp
thỏa đáng thông qua tham vấn song phương, có thể đưa ra WTO để giải
quyết.
Mọi vấn đề quan trọng cuộc thẩm quyền của WTO được quyết định tại
Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên. Hội nghị hai năm họp ít nhất 1 lần.
1.4. WTO và kinh tế toàn cầu
Hệ thống tồn tại trước WTO, cụ thể là AGTT, trước đây đôi khi được
coi là một câu lạc bộ của những người giàu vì người ta có cảm giác rằng
nhiệm vụ của nó trước hết là để phục vụ cho lợi ích của các nước phát triển
giàu có. Vào thời điểm khởi động vòng đàm phán thương mại Urugoay
(1986), chỉ có một nhóm nhỏ các nước đang phát triển tỏ ra quan tâm đến
công việc của AGTT thông qua việc đặt các phái đoàn đại diện thường trú ở
Giơnevơ. Tuy vậy, tình hình đã thay đổi cơ bản sau khi vòng đàm phán được

5

khởi động. Vào thời gian vòng đàm phán kết thúc và AGTT chuyển đổi thành
tổ chức thương mại thế giới, ngày càng nhiều quốc gia đang phát triển và
đang tham gia vào cuộc đàm phán và thảo luận, đa phần các nước này đã thiết
lập các phái đoàn đại diện thường trú tại Giơnevơ. Ngoài ra, tiếp theo sự sụp
đổ của khối cộng sản, nhiều nền kinh tế đang chuyển đổi đã bắt đầu xin gia
nhập WTO. Hiện tại 134 nước là thành viên của WTO. Ngoài ra, 30 nước
đang phát triển và có kinh doanh chuyển đổi đang đàm phán xin gia nhập.
Điều gì đã dẫn đến thay đổi về thái độ đối với tư cách thành viên WTO
và tại sao các nước lại tỏ ra quan tâm hơn đến hệ thống thương mại dựa trên
qui tắc xuất hiện sau vòng đàm phán Urugoay như vậy? có 3 lý do chính sau:
Lý do trước hết liên quan đến tốc độ toàn cầu hóa của nền kinh tế thế
giới thông qua thế giới quốc tế và luồng lưu chuyển vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Những sự thay đổi mang tính cách mạng diễn ra trong giao thông vận
tải và thông tin liên lạc ngày nay thậm chí đã giúp cả các nhà sản xuất nhỏ ở
các nước đang phát triển có thể tìm kiếm tt cho các sản phẩm của mình ở
những nước cách xa hàng nghìn dặm. Như một số nhà quan sát nhận xét, các
phương tiện vận tải hàng hóa đã biến toàn bộ thế giới thành một "làng toàn
cầu".
Lý do thứ hai là quá trình toàn cầu hóa này đã làm tăng sự lệ thuộc của
các nước vào thương mại quốc tế lại càng được đẩy nhanh hơn nữa do việc
chuyển đổi các chính sách kinh tế, thương mại được ghi nhận ở hầu hết các
nước. Sự sụp đổ của khối cộng sản đã dẫn tới việc áp dụng dần dần các chính
sách mang định hướng thị trường ở hầu hết các nước trước đây nhằm kiểm
soát nền sản xuất và thương mại quốc tế. Những nước này, trước đây chủ yếu
buôn bán với nhau, nay đang càng ngày tăng cường buôn bán rộng rãi hơn với
thế giới.
Nhiều nước đang phát triển đã từ bỏ chính sách thay thế nhập khẩu và
giờ đây đang theo đuổi các chính sách hướng về xã hội, theo các chính sách

6

đó các nước này tìm cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các xã hội ngày
càng nhiều các sản phẩm của mình.
Thứ ba, là những chính sách thương mại tự do và thông thoáng và các
biện pháp các nước đang áp dụng để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã khích lệ các công ty đã quốc gia tìm mua linh kiện và các sản phẩm trung
gian từ các nước có giá thành thấp hơn và thiết lập và cơ sở sản xuất ở nước
đó. Do vậy, các sản phẩm có trên thị trường hiện nay dù đó là các sản phẩm
tiêu dùng như quần áo may sẵn, hay các sản phẩm tiêu dùng lâu bền như tủ
lạnh và điều hòa không khí, hay cả hàng tư liệu sản xuất, ngày càng được sản
xuất , ngày càng được sản xuất thông qua các công đoạn thực hiện không chỉ
ở phạm vi một quốc gia, chứng cứ cụ thể của toàn cầu hóa kinh tế thế giới và
tính lệ thuộc ngày càng tăng của các nước vào ngoại thương đã được đưa ra
trong một quảng cáo gần đây của một công ty đa quốc gia chuyên sản xuất đồ
điện gia dụng; doanh nghiệp này tự hào tuyên bố là sản phẩm của họ được chế
tạo từ các cấu kiện sản xuất ở năm đến sáu quốc gia khác nhau.
Sự lệ thuộc ngày càng tăng này vào ngoại thương, dù là nhà xuất khẩu
hay nhập khẩu của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đã làm cho các Chính
phủ và các doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống
thương mại đa biên trong việc bảo vệ các lợi ích thương mại của họ. Hệ thống
dựa trên quy tắc này đảm bảo cho sản phẩm của họ tiếp cận thị trường nước
ngoài sẽ không đột nhiên bị gián đoạn bởi các biện pháp của các Chính phủ
như tang thuế nhập khẩu hay áp đặt các quy định cấm nhập hay hạn chế nhập
khẩu. Hệ thống này tạo điều kiện cho hàng hóa tiếp cận thị trường nước ngoài
ổn định và an toàn làm cho các doanh nghiệp có thể đặt kế hoạch và phát triển
sản xuất xuất khẩu mà không phải lo sợ sẽ mất thị trường nước ngoài do các
hàng đóng hạn chế của các chi phí. Ngoài ra, điều còn ít người biết đến là hệ
thống này còn tạo những quyền nhất định cho các doanh nghiệp. Hầu hết
những quyền này là đối với Chính phủ nước mình, một số quyền của họ có
thể sử dụng đối với các Chính phủ nước ngoài.

7

Vì vậy, khuôn khổ các quyền và nghĩa vụ mà hệ thống WTO đã tạo ra
đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại trong bối cảnh
kinh tế thế giới đang nhanh chóng toàn cầu hóa.
Khả năng của các Chính phủ và các doanh nghiệp tận dụng lợi ích của
hệ thống này tùy thuộc rất lớn và kiến thức và hiểu biết về các quy tắc của hệ
thống và về những thuận lợi và những thách thức mà hệ thống này tạo ra.
1.5. Mục tiêu và nguyên tắc WTO
* Mục tiêu cơ bản của GATT, tổ chức đề ra các nguyên tắc đa phương
về thương mại hàng hóa là nhằm để tạo ra một hệ thống thương mại tự do và
thông thoáng nhờ đó các doanh nghiệp từ các nước thành viên có thể buôn
bán với nhau trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh. Mặc dù các quy tắc chi
tiết của GATT và các hiệp định kèm theo xem có vẻ phức tạp và các thuật
ngữ pháp lý của chúng thường khó hiểu, chúng thường được dựa trên một số
ít nguyên tắc và quy tắc đơn giản. Trong thực tế khuôn khổ của GATT được
dựa trên bốn quy tắc cơ bản.
- Bảo hộ ngành sản xuất trong nước thông qua thuế quan
Mặc dù GATT được tạo ra là nhằm để dần dần tự do hóa thương mại,
GATT thừa nhận rằng các nước thành viên có thể sẽ phải bảo vệ sản xuất
trong nước chống lại cạnh tranh nước ngoài. Tuy vậy GATT yêu cầu các
nước tiến hành việc bảo hộ đó thông qua hệ thống thuế quan. Việc sử dụng
các biện pháp hạn chế định lượng đều bị cấm trừ trong một số trường hợp hạn
chế.
- Ràng buộc thuế quan
Các nước đều được thúc giục cắt giảm, và ở đâu có thể, thì loại bỏ bảo
hộ các rào cản thương mại khác trong đàm phán thương mại đa biên. Thuế
quan được cắt giảm như vậy bị buộc không được tăng lên nữa bằng cách bị
liệt kê vào trong danh mục cam kết quốc gia của mỗi nước. Các danh mục này
là một bộ phận không tách rời hệ thống pháp lý của GATT.
- Đãi ngộ tối huệ quốc

8

Quy tắc quan trọng này của GAT đặt ra nguyên tắc không phân biệt đối
xử. Quy tắc này đòi hỏi là thuế quan và cách quy định khác sẽ được áp dụng
đối với hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu mà không được phân biệt đối xử
giữa các nước. Như vậy quy tắc này không để cho một nước đánh thuế quan
vào hàng hóa nhập khẩu từ một nước này với thuế suất cao hơn thuế suất
được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác. Tuy vậy, có những
ngoại lệ đối với quy tắc này. Thương mại giữa các nước thành viên của các
thỏa thuận thương mại khu vực, được hưởng thuế suất ưu đãi hay được miễn
thuế, là một ngoại lệ. Một ngoại lệ khác tạo ra qua hệ thống ưu đãi thuế quan
phổ cập, theo hệ thống này, các nước phát triển áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc
miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, nhưng lại áp
dụng thuế suất MFN cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác.
- Quy tắc đãi ngộ quốc gia:
Trong khi quy tắc MFN cấm các nước phân biệt đối xử đối với hàng
hóa có xuất xứ từ các nước khác nhau, thì quy tắc đãi ngộ quốc gia lại cấm
các nước phân biệt đối xử giữa các sản phẩm nhập khẩu và các sản phẩm
được tự sản xuất trong nước cả trong việc đánh các loại thuế nội địa áp dụng
các quy định trong nước.
Như vậy quy tắc này không để cho một nước, khi một sản phẩm đã vào
thị trường nước đó sau khi đã trả thuế nhập khẩu, được phép đánh một loại
thuế nội địa. Ví dụ như thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng (VAT) với
mức thuế cao hơn mức thuế đánh vào một sản phẩm có xuất xứ của chính
nước đó.
* Các quy tắc áp dụng chung
Bốn quy tắc cơ bản được miêu tả ở trên được bổ sung thêm bằng các
quy tắc áp dụng chung để điều tiết hàng hóa thâm nhập vào lãnh thổ hải quan
của một nước nhập khẩu. Những quy tắc này bao gồm những quy tắc sau mà
các nước phải tuân thủ:

9

- Trong việc xác định trị giá chịu thuế của hàng hóa nhập khẩu thì thuế
quan được thu trên cơ sở đánh theo giá trị hàng hóa.
Trong việc áp dụng các tiêu chuẩn sản phẩm bắt buộc và quy định về
vệ sinh dịch tễ với hàng hóa nhập khẩu.
- Trong việc cấp giấy phép nhập khẩu
* Các quy tắc khác:
Việc trợ cấp của Chính phủ
Các biện pháp mà Chính phủ thông thường được phép áp dụng nếu
được một số ngành sản xuất yêu cầu và các biện pháp đầu tư có thể ảnh
hưởng có hại cho thương mại.
II. WTO MỤC TIÊU, CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU
2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ
WTO là một nhân tố bao trùm, chịu trách nhiệm giám sát việc thực
hiện tất cả các. Hiệp định đa biên và nhiều bên đã được đàm phán ở vòng
Urugoay và những Hiệp định sẽ được đàm phán trong tương lai. Những mục
tiêu cơ bản của WTO cũng tương tự như những mục tiêu của GATT, và
GATT nay đã chuyển thành WTO. Đó là:
Nâng cao mức sống, thu nhập, đảm bảo đầy đủ việc làm mở rộng sản
phẩm và thương mại và tạo điều kiện để sử dụng tối ưu các nguồn lực của thế
giới (GATT) và:
- Thương mại dịch vụ
- Nhu cầu thúc đẩy sự "phát triển bền vững" bảo vệ giữ gìn môi trường
phù hợp với các nước phát triển khác nhau và mỗi quốc gia.
- Nhu cầu phải có những nỗ lực tích cực để đảm bảo rằng các nước
đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất, có được tỷ trọng
tăng trưởng lớn hơn trong thương mại quốc tế.
2.2. Chức năng

10
- WTO tạo điều kiện cho việc thực thi, điều hành và hoạt động của các
công cụ pháp lý của vòng đàm phán Urugoay và của bất kỳ Hiệp định mới
nào được đàm phán trong tương lai.
- WTO là diễn đàn để các nước thành viên tiếp tục đàm phán về các
vấn đề nêu trong các hiệp định, về các vấn đề mới phát sinh trong quyền hạn
của mình và về việc mở rộng tự do hóa thương mại.
- WTO có trách nhiệm giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các quốc
gia thành viên.
- WTO có trách nhiệm thực hiện việc rà soát thường kỳ chính sách
thương mại của các quốc gia thành viên.
2.3. Cơ cấu của WTO:
* Cơ quan đầu não của WTO, có trách nhiệm đưa ra các quyết định là
hội nghị bộ trưởng họp 2 năm một lần . Kể từ khi thành lập WTO đến nay đã
có 3 cuộc họp hội nghị Bộ trưởng: cuộc họp đầu tiên được tổ chức tại
Singapore tháng 12/1996, cuộc họp thứ hai tại Cnoneva tháng 5/1998 và cuộc
họp thứ ba tại Seatle 30/11 đến 3/12/1999.
- Trong thời gian 2 năm giữa hai hội nghị, đại hội đồng sẽ thực hiện các
chức năng của hội nghị.
- Khi xem xét các khiếu kiện, đại hội đồng sẽ họp với tư cách là cơ
quan giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Đại hội đồng cũng
có trách nhiệm thực hiện việc rò soát chính sách thương mại của từng quốc
gia trên cơ sở các báo cáo do ban thư ký của WTO soạn thảo.
Hoạt động của đại hội đồng được hỗ trợ bởi các tổ chức sau:
- Hội đồng thương mại hàng hóa, giám sát việc thực thi và hoạt động
của GATT 1994. ủy ban về:
+ Tiếp cận thị trường.
+ Nông nghiệp
+ Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch
+ Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại

11
+ Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
+ Hành vi chống phá giá
+ Trị giá hải quan
+Quy tắc xuất xứ
+ Cấp phép nhập khẩu
+ Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
+ Các biện pháp tự vệ
- Hội đồng về các khía cạnh đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
- Hội đồng thương mại hàng hóa
ủy ban về:
+ Thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
+ Những cam kết cụ thể
* Quá trình ra quyết định:
Hiệp định quy định là WTO sẽ tiếp nối tập quán ra quyết định của
GATT, tức là theo phương pháp đồng thuận. Điều này có nghĩa là khi một
quyết định được đưa ra, không có nước nào bỏ phiếu trống.
Khi không đạt được sự đồng thuận, hiệp định WTO cho phép quyết
định được thông qua bằng đa số phiếu. Mỗi quốc gia có quyền bỏ 1 phiếu.
Mặc dù có điều kiện này song những quyết định về tất cả các vấn đề
chính sách quan trọng (như vậy bắt đầu đàm phán về một lĩnh vực chưa được
các công cụ pháp lý của WTO điều chỉnh) nói chung đều phải được thông qua
bằng đồng thuận. Quy tắc đồng thuận này nhằm ngăn chặn "sự chuyển biến
của đa số", đặc biệt khi có một nhóm đồng ý kiến phản đối mạnh mẽ quyết
định được đưa ra.
Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp quy định yêu cầu bỏ phiếu đặc
biệt.
* Ban thư ký của WTO
WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ. Đứng đầu WTO là Tổng giám
đốc. Giúp việc cho Tổng giám đốc là ba phó Tổng giám đốc, các phó tổng

12
giám đốc do Tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến của các quốc
gia thành viên.
Ban thư ký của WTO gồm 500 người thuộc các quốc tịch khác nhau.
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, Tổng giám đốc và nhân viên của WTO
không được "xin hay chấp thuận sự chỉ đạo của bất kỳ Chính phủ hay tổ chức
nào ngoài WTO" và do đó, duy trì được đặc trưng quốc tế của ban thư ký.
* Tư cách thành viên:
Cho đến 31/5/1999, WTO có 134 thành viên:
Các nước chưa phải là thành viên của WTO có thể trở thành thành viên
thông qua đàm phán để gia nhập. Trong các cuộc đàm phán này, các nước
phải đồng ý thực hiện các bước để đưa hệ thống luật pháp của mình phù hợp
với các quy tắc của các hiệp định đa biên. Hơn nữa, họ phải cam kết giảm
thuế quan và sửa đổi luật pháp để tăng khả năng thâm nhập thị trường của
hàng hóa và dịch vụ nước ngoài. Các cam kết này thường được coi là cái giá
của "vé vào cửa" cho phép nước gia nhập được hưởng lợi trên cơ sở chí tối
huệ quốc, từ toàn bộ cam kết cắt giảm thuế quan và các cam kết của các nước
thành viên trong quá khứ. Hiện đang có 30 nước tiến hành đàm phán gia nhập
WTO.
* Phân loại các thành viên WTO:
Hệ thống WTO có phân biệt 4 nhóm các nước thành viên: phát triển,
đang phát triển, kém phát triển nhất là các nền kinh tế chuyển đổi tại hội nghị
Bộ trưởng Giơnevơ năm 1998, lần đầu tiên đề cập tới "một số nền kinh tế nhỏ
bé" trong khuôn khổ nhóm các nước đang phát triển".
Tất cả chính sách nước do Liên hiệp quốc xếp hạng là "kém phát triển
nhất" được đối xử như các nước kém phát triển nhất là trong hệ thống WTO.
Hiện tại có 48 nước thuộc nhóm này. Tuy nhiên chưa có định nghĩa thống
nhất và chính xác xem các nước còn lại thuộc nhóm nào. Việc xác định một
quốc gia "đang phát triển" được thực hiện theo nguyên tắc "tự nhân". Những
nước trong quá khứ có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chủ yếu thuộc

13
Đông và Trung Âu và Liên Bang Xô viết cũ) và hiện nay đang từng bước
chuyển sang kinh tế thị trường và dân chủ hóa được đối xử như những nền
kinh tế chuyển đổi. Những thành viên còn lại được coi là những nước phát
triển.
- Các điều khoản về đối xử đặc biệt và các khác biệt đối với các nước
đang phát triển và các nước kém phát triển nhất.
Các hiệp định đa biên nhận thấy các nước đang phát triển kể cả các
nước kém phát triển nhất, có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận tất cả
hoặc một số nghĩa vụ và quy định đề ra các Hiệp định này đã quy định dành
đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước trên. Các điều khoản đó có thể sơ
bộ chia làm 3 loại:
- Các điều khoản yêu cầu các nước (phát triển và đang phát triển) thực
hiện các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại của các nước đang phát triển
và kém phát triển.
- Sự linh hoạt của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất trong
việc chấp nhận các nghĩa vụ do các Hiệp định WTO.
- Cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát
triển nhất để xây dựng năng lực cho các nước này thực hiện các hiệp định.
* Các thủ tục giải quyết tranh chấp
Hệ thống WTO đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp khi một nước phát
triển một nước khác vi phạm các quy tắc và sau khi mọi nỗ lực tìm kiếm các
giải pháp thoải đáng thông qua tham vấn song phương thất bại tranh chấp
trong khuôn khổ WTO thông thường là kết quả các thông tin về những khó
khăn gặp phải khi tiếp thị sản phẩm tại các thị trường nước ngoài do các
ngành sản xuất hay hiệp hội ngành cung cấp cho Chính phủ.
Mặc dù trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp - tham vấn song
phương, kiểm tra của Ban hội thẩm và sau đó là cơ quan phúc thẩm. Các đại
diện Chính phủ là người tham gia vào các quá trình này, nhưng các cơ quan
này chủ yếu dựa vào tư vấn và sự ủng hộ từ ngành sản xuất và các hiệp hội có

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét