Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
v
3.4.3. Thí nghiệm đánh giá sự khác biệt của 3 quần thể rầy
nâu thông qua một số chỉ tiêu sinh học (tỷ lệ sống sót,
thời gian các pha phát triển, tỷ lệ rầy cái/rầy tổng
số, ) 31
3.4.4. Thí nghiệm đánh giá phản ứng của 3 quần thể rầy
nâu đối với 3 giống lúa thí nghiệm thông qua chỉ tiêu
hình thái (cánh ngắn, cánh dài và khối lợng) 34
3.4.5. Phơng pháp xử lý số liệu 35
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36
4.1. Đặc điểm hình thái và đặc điểm gây hại của rầy nâu
Nilaparvata lugens Stal. 36
4.1.1. Đặc điểm hình thái 36
4.1.2. Đặc điểm gây hại 44
4.2. Một số chỉ số sinh học của 3 quần thể rầy nâu (Nilaparvata
lugens Stal.) Hà Nội, Hà Tây và Thái Bình 45
4.2.1. Thời gian các pha phát triển 45
4.2.2. Tỷ lệ rầy cánh ngắn, cánh dài 50
4.2.3. Khối lợng cơ thể của các quần thể rầy nâu 55
4.2.4. Khả năng sinh sản của 3 quần thể rầy nâu 57
4.2.5. Tỷ lệ rầy cái và tỷ lệ sống sót của từng quần thể rầy
nghiên cứu trên giống lúa kháng, nhiễm 59
5. Kết luận và đề nghị 68
5.1. Kết luận 68
5.2. Đề nghị 68
Tài liệu tham khảo 69
Tài liệu tiếng Việt 69
Tài liệu tiếng Anh 72
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
1
1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal.) đ đợc ghi nhận là loài sâu hại quan
trọng hàng đầu ở các vùng trồng lúa không chỉ của Việt Nam mà còn gây hại
hầu khắp các n
ớc
Đông và Đông Nam châu á. Đối với Việt Nam rầy nâu
đợc coi là sâu hại nghiêm trọng từ năm 1931 (L. Caresh, 1932) [10]. ở các
tỉnh phía Nam, hàng năm rầy nâu phá hại khoảng 200.000 ha lúa của đồng
bằng sông Cửu Long, gây cháy rầy ở nhiều nơi và là môi giới truyền bệnh lúa
lùn xoắn lá - Rice ragged stunt virus (Bùi Văn ích, 1980) [10]. Cũng theo báo
cáo của Cục Bảo vệ thực vật, từ năm 1985 - 2000 rầy nâu gây hại mỗi năm
khoảng 650.000 ha lúa, đặc biệt trong năm 1991 rầy nâu phá hại 1.394.910 ha
và gây cháy rầy ở hầu khắp các vùng trồng lúa trong cả nớc [10].
Trong dân d hiện nay, bà con nông dân thờng nôm na rằng:" Hiện nay
trên đồng ruộng có 3 sâu, 3 bệnh, đó là: rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu đục thân;
bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá".
Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trởng của sản xuất lúa
gạo, phát triển thâm canh và những chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một số sâu
bệnh chính hại lúa đ diễn biến theo chiều hớng đáng lo ngại. Diện tích lúa bị
nhiễm rầy nâu tăng nhanh do nhiều giống lúa kháng rầy đ mất tính chống
chịu.
Sự thay đổi Biotype rầy nâu (ở đồng bằng, trung du Bắc bộ) theo dự đoán
còn là một vấn đề cần đợc theo dõi thờng xuyên để đối phó kịp thời, nhanh
chóng, tránh tổn thất tới năng suất và sản lợng lúa trong sản xuất lơng thực
hiện nay.
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
2
Sự thay đổi độc tính của các quần thể rầy nâu dẫn đến hình thành các
Biotype mới đ làm cho nhiều giống lúa kháng rầy đa ra trớc đây trở nên
nhiễm (N. C. Thuật và L. Đ. Khánh, 1984; N. C. Thuật và ctv., 1993) [15].
Loài dịch hại rầy nâu, bởi sự thay đổi Biotype liên tục sinh ra những
chủng nòi rầy nâu mới, đ và đang là mối đe dọa cho sản xuất lúa gạo nớc ta
nói riêng và các nớc trồng lúa ở châu á nói chung.
Rầy nâu là một trong những loài sâu hại nguy hiểm nhất đối với cây
lúa ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu á (Dyck và Thomas, 1979) [11].
Trong 5 năm (1999 - 2003), rầy nâu cùng với rầy lng trắng vẫn là một
trong 3 nhóm dịch hại gây hại nguy hiểm nhất trên cây lúa (sau sâu cuốn lá
nhỏ và bệnh khô vằn). Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu và rầy lng trắng từ
gần 570.000 ha năm 1999, có chiều hớng giảm trong các năm tiếp theo và
đến năm 2003 diện tích bị nhiễm còn khoảng 260.000 ha. Diện tích lúa bị
nhiễm, nhiễm nặng và mất trắng do rầy nâu trung bình 5 năm qua tơng
ứng là 409.000 ha; 34.000 ha và 179 ha. Theo Nagata (1999) thì từ năm
1994 đến nay sự gây hại của rầy nâu ở Việt Nam đ giảm dần và có chiều
hớng ổn định. Tuy nhiên, từ những năm 1970 trở lại đây, độc tính của rầy
nâu ở các nớc nh Philippines, Indonesia và ở miền Nam nớc ta đ
chuyển đổi mạnh mẽ khi có mặt các giống lúa kháng mang gen bph1 và
bph2 đợc gieo trồng [11].
Vào những năm 1996 - 1999, theo Nguyễn Công Thuật và ctv., 2000 ở
đồng bằng và trung du Bắc bộ, một số giống lúa kháng rầy nâu biotype2 nh
ASD7, CR84 - 1, CR84 - 2 đ bị nhiễm ở mức độ cao [17].
Do vậy việc nghiên cứu xác định về sự thay đổi độc tính của rầy nâu ở
vùng lúa đồng bằng Bắc bộ nói riêng và ở nớc ta là rất cần thiết.
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
3
Nhận thức đợc điều đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Phản ứng
của 3 quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens Stal. (Hà Nội, Hà Tây, Thái
Bình) trên một số giống lúa chuẩn nhiễm, chuẩn kháng vụ mùa 2004 và vụ
xuân 2005".
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học cơ bản của rầy
nâu trên một số giống lúa chuẩn kháng và chuẩn nhiễm từ đó xác định chỉ tiêu
liên quan nhất đến biểu hiện phản ứng thích nghi của chúng.
1.2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khối lợng cơ thể trung bình của 3 quần
thể rầy nâu Hà Nội, Hà Tây và Thái Bình khi sống trên giống lúa nhiễm và
giống lúa kháng.
- Đặc tính sinh vật học cơ bản (Tỷ lệ nở của trứng; thời gian các pha phát
triển; tỷ lệ cái/rầy tổng số; tỷ lệ cánh ngắn/cánh ngắn + cánh dài; tỷ lệ sống sót
của 3 quần thể rầy nêu trên khi sống trên giống lúa kháng và nhiễm rầy nâu).
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
4
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo
2.1.1. Vị trí của lúa gạo trong nguồn lơng thực thế giới
Các loại lơng thực chính đợc sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao
gồm: Lúa gạo, lúa mỳ, ngô, kê và lúa mạch. Trong số 5 loại lơng thực kể
trên, lúa mỳ và lúa gạo là 2 loại lơng thực cơ bản nhất dùng cho con ngời,
các loại còn lại chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi gia súc và công nghiệp chế
biến thực phẩm. Thóc chiếm gần 1/3 sản lợng lơng thực thế giới, riêng châu
á lúa chiếm đến 55% sản lợng lơng thực.
Hiện nay, theo thống kê của FAO, sản xuất lúa gạo và lúa mỳ trên thế
giới đạt mức tơng đơng nhau. Năm 2000 sản lợng lúa gạo đạt 598,8 triệu
tấn, còn lúa mỳ đạt 591 triệu tấn. Nếu quy đổi từ lúa sang gạo thì năm 2000
sản lợng lúa thế giới đạt 409 triệu tấn gạo. Với mức nhu cầu tiêu dùng lúa
gạo hiện nay 130 kg/ngời/năm, sản lợng gạo đó có thể duy trì sự sống cho
gần 3,2 tỷ ngời, chiếm gần 53% dân số thế giới [9]. Nh vậy lúa gạo có vai
trò rất quan trọng trong việc nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới, số còn lại
đợc đảm bảo bằng lúa mỳ và các loại lơng thực khác.
2.1.2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Đối với Việt Nam cây lúa có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giải
quyết nhu cầu lơng thực cho nhân dân. Gắn liền với quá trình phát triển của
lịch sử, cây lúa đợc coi là ngời bạn gần gũi nhất đối với đồng ruộng và
ngời nông dân Việt Nam. Với tập quán canh tác và tiêu dùng lúa gạo, hàng
năm lúa gạo đáp ứng trên 80% nhu cầu lơng thực của cả nớc. Chính vì vậy,
sự thành bại của mùa màng nông nghiệp đ ảnh hởng trực tiếp đến sự no ấm
hay đói nghèo của đại bộ phận dân c nớc ta trong những năm vừa qua. Thực
tế cho thấy sản lợng thóc hàng năm tăng hay giảm, ổn định hay không ổn
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
5
định trong các năm qua có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đến việc ổn định đời
sống kinh tế, chính trị, x hội và an ninh quốc phòng ở nớc ta.
Thời kỳ sau thống nhất đất nớc đến những năm đổi mới (1976 - 1988),
nớc ta bớc vào giai đoạn xây dựng x hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nớc. Đặc
trng cơ bản của thời kỳ này là: phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển
mạnh ở cả hai miền Nam, Bắc với mô hình tập thể hóa, tập trung hóa và chuyên
môn hóa cao. Nông nghiệp Việt Nam đợc thống nhất thành một mối, tiềm năng
và thế mạnh của hai miền Nam, Bắc bổ sung cho nhau. Quản lý kinh tế theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, huy động lơng thực theo nghĩa vụ.
Sản xuất lúa trong thời kỳ đầu của giai đoạn này (1976 - 1980) luôn
không ổn định và nhiều mặt diễn biến theo chiều hớng xấu, lơng thực, thực
phẩm mất cân đối lớn giữa sản xuất và tiêu dùng, thiếu nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến và nông sản xuất khẩu giảm xuống. Nông nghiệp và nông
thôn bị khủng hoảng toàn diện cả về quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất và
kết quả sản xuất. Sức sản xuất bị kìm hm, sản xuất nông nghiệp bị giảm sút,
thu nhập và đời sống nông dân sau chiến tranh vốn đ thấp lại không ổn định
trên từng vùng cũng nh trên cả nớc.
Nói chung ở thời kỳ này (1976 - 1980) sản xuất lơng thực tăng chậm và
rất không ổn định, tỷ lệ tăng bình quân 1,1 - 1,2%/năm, trong khi đó tốc độ tăng
dân số là 2,08%/năm. Riêng sản xuất lúa trong giai đoạn này tình hình còn "bi
đát" hơn. Sản lợng lúa cả nớc giảm từ 11,8 triệu tấn năm 1976 xuống 9,8 triệu
tấn năm 1978 và 11,6 triệu tấn năm 1980. Trong khi, diện tích gieo trồng lúa cả
năm vẫn tăng tơng ứng từ 5,29 triệu ha lên 5,43 triệu ha và 5,60 triệu ha trong
thời kỳ này, năng suất lúa lúc đó đ thấp lại ngày càng giảm xuống, cụ thể nh
năm 1978 chỉ đạt 17,9 tạ/ha, năm 1980 là 20,8 tạ/ha [9].
Đây là thời kỳ sản xuất lơng thực bấp bênh, mất mùa thờng hay xảy ra,
năng suất lúa giảm. Sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nớc
và không đạt chỉ tiêu đặt ra. Lơng thực trở thành nỗi lo lớn của Nhà nớc và
nhiều địa phơng.
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
6
Sau một thời gian dài sản xuất nông nghiệp sút kém ở thời kỳ trớc,
Đảng và Nhà nớc đ kịp thời nghiên cứu, rút kinh nghiệm và thử nghiệm
nhiều phơng thức quản lý mới, đúc kết những kinh nghiệm đạt đợc để ban
hành nhiều chính sách mới và đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với quy
luật khách quan. Chỉ thị 100 (năm 1981) của Ban Bí th Trung ơng Đảng
Khóa IV về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và
ngời kinh doanh trong hợp tác x sản xuất nông nghiệp đợc ban hành, với
mục đích phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn
mọi ngời hăng hái lao động.
Nhờ vậy sản xuất lúa đ có bớc tiến đáng kể. Sản lợng thóc tăng thêm
4,59 triệu tấn. Năm 1983 lần đầu tiên mức lơng thực vợt qua chỉ tiêu 300 kg
mỗi ngời một năm. Kể từ năm 1981 đến năm 1988, sản lợng lúa tăng liên
tục, mức tăng chủ yếu do thâm canh tăng vụ và tăng năng suất lúa. Tuy nhiên
trong những năm cuối của giai đoạn này sản xuất nông nghiệp có phần chững
lại, nông dân không yên tâm đầu t cho sản xuất do hiện tợng khoán trắng
tràn lan, các địa phơng tăng mức khoán. Hậu quả là đ để xảy ra nạn đói
lơng thực trầm trọng vào năm 1987 (sản lợng lơng thực giảm gần 80 vạn
tấn, trong khi đó dân số tăng thêm 1,5 triệu ngời). Sự sa sút này một phần do
thiên tai nên mất mùa, nhng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do động lực ban
đầu của cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 đ hết tác dụng.
Kết quả sản xuất lúa nớc ta trong giai đoạn 1975 - 1988 đợc thể hiện ở
bảng sau:
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
7
Bảng. Sản xuất lúa ở Việt Nam từ 1975 - 1988
Năm
Diện tích
lúa (1000
ha)
Năng suất
lúa (tạ/ha)
Sản lợng
lúa
(1000tấn)
Sản lợng
lơng thực
(1000tấn)
Mức lơng
thực bình
quân
(kg/ngời)
Riêng thóc
(kg/ngời)
1975 4855,9 21,2 10293,6 11464,2 240,6 216,0
1976 5297,3 22,3 11827,1 11893,1 274,4 240,6
1977 5487,7 19,4 10597,1 12621,8 250,1 209,7
1978 5426,5 17,9 9789,9 12265,3 238,5 190,4
1979 5458,2 20,7 11362,9 13983,8 266,5 216,5
1980 5600,2 20,8 11647,4 14406,4 268,2 216,8
1981 5651,9 22,0 12415,2 15005,3 272,8 225,8
1982 5711,4 25,2 14390,1 16828,8 299,6 256,2
1983 5611,0 26,3 14743,3 16958,8 296,1 256,9
1984 5675,0 27,3 15505,6 17800,0 302,9 264,3
1985 5703,9 27,8 15874,8 18200,0 304,0 265,1
1986 5688,6 28,1 16002,9 18379,1 300,8 261,8
1987 5588,5 27,0 15102,6 17562,6 280,8 241,8
1988 5726,4 29,7 17000,0 19583,1 307,3 266,8
88/75 117,9 140,5 165,2 170,1 127,7 123,5
Nguồn: Số liệu Nông nghiệp Việt Nam 35 năm (1956 - 1990).
Trong khi đó, ở miền Nam sau khi căn bản hoàn thành phong trào hợp
tác hóa nông nghiệp vào năm 1985, hàng loạt mâu thuẫn ở nông thôn phát
sinh, nhất là mâu thuẫn trong quan hệ ruộng đất. Tình trạng tranh chấp ruộng
đất diễn ra gay gắt ở Nam bộ, đ biến các hợp tác x, tập đoàn sản xuất nông
nghiệp mới đợc thành lập trở thành hình thức. Sản xuất nông nghiệp cả nớc
tiếp tục trì trệ và khủng hoảng do chính sách quản lý cha phù hợp với sự phát
triển theo quy luật khách quan, cha đáp ứng đợc nguyện vọng chính đáng
của ngời nông dân.
Sau thời kỳ đổi mới (từ năm 1989 đến nay), trớc tình hình sản xuất nông
nghiệp chững lại ở thời kỳ trớc, liều thuốc "khoán theo Chỉ thị 100" tỏ ra
kém hiệu lực do toàn bộ cơ chế quản lý vĩ mô vẫn cha chuyển biến kịp, Bộ
Chính trị đ nghiên cứu rút kinh nghiệm và ban hành Nghị quyết 10 vào tháng
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
8
4 năm 1988. Nghị quyết 10 đ tạo ra sự biến đổi lớn về quan hệ sở hữu, quan
hệ quản lý và quan hệ phân phối cho phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất.
Sau Nghị quyết 10 Chính phủ đ ban hành hàng loạt chính sách quan
trọng nh: chính sách một giá, lu thông tự do, xuất khẩu gạo, phát triển kinh
tế nhiều thành phần, đầu t cho nông nghiệp, tín dụng nông thôn, đổi mới
doanh nghiệp Nhà nớc đ có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp và
hỗ trợ kinh tế hộ phát triển, làm cho nó trở thành đơn vị sản xuất cơ bản của
nông thôn trong cơ chế mới.
Nhờ đó, sản xuất lơng thực trong giai đoạn này ngày càng phát triển
vợt bậc. Năm 1989 đánh dấu bớc tiến lớn trong lịch sử sản xuất lơng thực
nớc ta, chuyển từ nớc nhập khẩu sang nớc xuất khẩu gạo lớn và ổn định
trên thế giới.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đ tạo ra rất nhiều thành công đáng ghi
nhận trong sản xuất và đời sống. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn nảy
sinh những khó khăn và mâu thuẫn mới. Đứng trớc tình hình đó Ban chấp
hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam Khóa VII họp hội nghị lần thứ 5
(tháng 6 năm 1993) với nội dung tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế x hội
nông thôn. Luật Đất đai mới (năm 1993) ra đời đ mở rộng quyền của ngời
sử dụng đất làm cho nông dân yên tâm đầu t khai hoang, phục hóa, tăng vụ,
cải tạo đất. Nhờ đó sản xuất lơng thực lại có bớc tiến hơn nữa, lơng thực
bình quân nhân khẩu đạt trên 350 kg. Vụ mùa 1994, tuy miền Bắc bị mất mùa,
giảm khoảng 1 triệu tấn lúa do ma lụt nhng nạn thiếu đói giáp hạt đ không
xảy ra [9].
Kết quả sản xuất lơng thực giai đoạn 1989 - 2000 đợc trình bày ở
bảng sau:
Trng i hc Nụng nghip 1 - Lun vn Thc s khoa hc Nụng nghip
9
Bảng. Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1989 - 2000)
Năm
Diện tích
lúa
(1000ha)
Năng suất
lúa
(tạ/ha)
Sản lợng
lúa
(1000tấn)
Sản lợng
lơng thực
(1000tấn)
Mức lơng thực
bình quân
(kg/ngời)
Riêng thóc
(kg/ngời)
1989 5895,8 32,2 18996,3 21524,8 332 293
1990 6027,7 31,9 19225,2 21459,5 354 291
1991 6302,7 31,1 19261,9 22026,5 325 292
1992 6475,4 33,3 21590,3 24238,7 349 315
1993 6559,4 34,8 22836,6 25580,9 359 328
1994 6598,5 35,6 23528,3 26175,9 361 332
1995 6765,6 36,9 24963,7 27587,9 373 347
1996 7003,8 37,7 26396,7 28849,8 388 361
1997 7099,7 38,8 27523,9 29736,3 398 370
1998 7362,7 39,6 29145,5 30786,1 408 386
1999 7653,6 41,0 31393,8 34008,9 444 409
2000 7654,9 42,5 32554,0 34851,5 455 419
2000/1989 129,8 132,0 171,3 161,9 137,0 143,0
Nguồn: Niên giám thống kê 1990, 1996, 2000.
Trong suốt thời kỳ đổi mới sản xuất lúa cả nớc đạt mức tăng trởng khá
cả về diện tích và năng suất. Diện tích gieo trồng lúa tăng từ 6,89 triệu ha năm
1989 lên 7,65 triệu ha năm 2000 - tăng gần 30% [9]. Bình quân mỗi năm diện
tích lúa tăng 2,5% chủ yếu do tăng vụ và chuyển dịch cơ cấu mùa vụ gieo
trồng lúa trên cả nớc, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long.
Xu hớng tăng năng suất lúa cả năm trong thời kỳ này cao hơn chút ít so
với mức tăng của diện tích gieo trồng lúa. Tính chung cho cả thời kỳ (1989 -
2000) năng suất tăng 32%, bình quân mỗi năm tăng 2,7%. Năm 2000, năng
suất lúa cả nớc đạt 42,4 tạ/ha. Năm có mức tăng cao nhất là năm 1992 đạt
7,1%. Đến nay, năng suất lúa của ta cao hơn năng suất bình quân của thế giới
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét