Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó cần
phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó. Có như
vậy mới đánh giá đúng giá trị và hạn chế của lý luận đó.
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến điều
kiện cụ thể của nơi được vận dụng.
II. ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM CHÍNH LÀ QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
1. Sự đổi mới kinh tế ở Việt Nam
1.1. Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI của Đảng được đánh dấu như một cái mốc quan trọng
trong việc chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà nguồn gốc từ kinh
tế hiện vật và những hậu quả của nó. Nhất quán chuyển sang kinh tế thị trường.
Tổng kết hai năm thực hiện đại hội VI nền kinh tế phát triển, khắc phục được
suy thoái, nền kinh tế xã hội đã có những thay đổi căn bản, đó là những căn cứ
để đẩy tới một bước cao hơn. Đại hội lần thứ VII của Đảng nhất quán chuyển
sang kinh tế thị trường (KTTT) với những quan điểm khá triệt để: chấp nhận thị
trường một cách cơ bản, tổng thể lâu dài, một thị trường thống thông suốt hoà
nhập với thị trường thế giới. Thị trường là đối tượng quản lý của Nhà nước.
Thực tế hơn mười năm qua ở nước ta đã chứng tỏ quá trình chuyển kinh tế
thị trường theo địng hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình phức tạp lâu dài. Đó là
quá trình cách mạng khởi đầu bằng ý nguyện của quần chúng được Đảng nắm
bắt tổng kết, định hướng bằng cơ chế, chính sách.là sự dũng cảm nhìn thẳng
vào những sai lầm,khuyết điểm từ mô hình cũvới những quan điểm giản đơn từ
đó quyết tâm đổi mới, coi đổi mới là vấn đề sống còn của dân tộc, chấp nhận
KTTT bằng lý trí,tình cảm, bằng sự tìm tòi thử nghiệm từ cuộc sống mà cách
đấy vài trục năm trong tư duy kinh tế còn là cuộc đấu tranh gay gắt.
5
Những chuyển đổi đó thực sứ tạo ra bước ngo ặt kinh tế. Chính một thời
gian ngắn, đất nước có nhiều thay đổi. Bước đầu tình trạng suy thoái dần được
khắc phục. Cuôc khủng hoảng kéo dài từ cuối thập kỷ 70 và gay gắt vào những
năm 80 khi lạm phát ở mức phí và kéo dài. Song nhờ có sự cố gắng của toàn
đảng, toàn dân nền kinh tế không những đứng vững mà còn tạo được những tiến
bộ vượt bậc đatt tốc đọ tăng trưởng khá liên tục. Tổng sản phẩm trong nước năm
1994tăng 8,5% năm,trong đó sản xuất công nghiệp tăng13%, sản xuất nông
nghiệp tăng 45%, kim ngạch xuất khẩu tăng20,8% lạmphát giảm dần thu hút
được vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 10tỉ USD. Nền kinh tế bước đầu
đã có tích luỹ nội bộ, xuất khuẩu tăng và nhập khẩu đã lấy lại cân băng dần dần
biết phát huy và tận dụng được lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Thành tựu nổi bật nhất trong thời gian qua là sản phẩm nông nghiệp phát triển từ
chõ thiếu lương thực triền miên đến nay chúng ta đã có khả năng tự túc phần nào
dự trữ và xuất khẩu. Năm 1998 mặc dù một số vùng gặp thiên tai nhưng sản
lượng lương thực đạt tới mức kỷ lục 25 triệu tấn. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần và phát huy tác dụng.
1.2 Đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam thành nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do nước ta là nước XHCN nền khi đổi mới nền kinh tế thì đi theo nền
KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa. KTTT theo định hướng XHCN là một
khái niệm kép. Định hướng theo nghĩa danh từ là nền kinh tế thị trường vận
động và trong nó hàm chứa và bị chi phối bởi tính chất XHCN. Và theo nghĩa
động từ là tiến trình chế định nền KTTT theo nguyên tắc XHCN nhằm phục vụ
CNXH.
Tổng hoà các nghĩa đó, KTTT theo định XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ
chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và qui luật của KTTT vừa dựa
trên và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất CNXG, thể hiện
trên ba mặt sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.
6
2. Thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi mô
hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch
sử cụ thể. Nghiên cứu một cách nghiêm túc các mô hình đó, cùng với thời gian
và kinh nghiệm thực tế chúng ta đã rút ra cho mình một cách nhìn đúng đắn hơn
và một sự lựa chọn thực tế hơn. Đó là chúng ta đã kịp thời chuyển sang nền
KTTT định hướng XHCN.
Trước tiên cần phải tìm hiểu khái niệm KTTT, KTTT được hiểu là một kiểu
kinh tế xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với thị
trường, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá, tiền tệ với quan hệ cung - cầu.
Trong nền KTTT nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan
hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá hay ít
nhất thì cùng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như là mắt, khâu trung gian.
Nền KTTT từ khi mới ra đời cho đến nay đã trải qua các giai đoạn khác
nhau, mỗi giai đoạn đều có đặc điểm riêng. Trong các giai đoạn đó đã từng có
các nền KTTT theo định hướng này hay theo định hướng khác. Đến bây giờ khi
nước ta đổi mới, nền kinh tế nước ta đã xác định được một định hướng đúng
đắn cho nền KTTT đó là định hướng XHCN.
KTTT định hướng XHCN theo quan điểm của Đảng ta là nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN. Về bản chất khác với KTTT tư bản chủ nghĩa,
nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế vì nhân dân, phục vụ nhân
dân, lấy đời sống nhân dân, công bằng xã hội làm mục tiêu để tăng trưởng kinh
tế.
2.1. Ưu điểm của nền kinh tế thị trường.
Đến đại hội lần thứ VIII (6/1996) trên cơ sở kế thừa những đường lối, chủ
trương đúng đắn về việc sử dụng KTTT do các đại hội trước đề ra, Đảng ta đã
xác định rõ hơn vai trò của KTTT: cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích
7
cực to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, nó chẳng những không đối lập mà
còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất
nước theo con đường XHCN.
2.2. Những hạn chế và khuyết điểm của kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường tuy có nhiều điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có
những giới hạn, những khuyết tật mang tính tự phát hết sức bướng bỉnh, hơn
thếnữa quan hệ thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhiều tiêu
cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy, tuy mới áp dụng KTTT
chưa được bao lâu mà bên cạnh những thành tựu như làm ăn thuần tuý chạy theo
lợi nhuận dẫn đến các hình thức lừa đảo, hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả,
thương mại hoá một cách tràn lan, xâm nhập vào các lĩnh vực dễ thương tổn như
y tế, giáo dục, văn hoá làm cho giá trị đạo đức, tinh thần bị băng hoại và
xuống cấp, đồng thời đã chi phối nhiều quan hệ giữa người với người, sự phân
hoá giàu nghèo và bất công xã hội có chiều hướng tăng lên, bởi sống ích kỷ thực
dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: "Vận dụng các hình thức và phương pháp quản lý
nền KTTT là để sử dụng mặt tích cực của nó, phục vụ mục didchj xây dựng
XHCN chứ không phải đi theo con đường TBCN"
(Tạp chí triết học số 4 (110), tháng 8 năm 1999).
2.3. Có thể thực hiện được kinh tế thị trường dưới chủ nghĩa xã hội hay
không?
Kinh tế thị trường là thể hiện kinh tế vận hành, nó có thể được thực hiện
dưới CNTD cũng như CNXH. Không nên đồng nhất KTTT với CNTB bởi
những lý do sau đây:
Một là: KTTT không phải là sản phẩm của TBCN, KTTT là hình thức phát
triển cao của kinh tế hàng hoá và các trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá,
kinh tế hàng hoá không phải là cái do CNTB tạo ra mà là thành tựu văn minh mà
loài người đã đạt được trong quá trình phát triển sản xuất của mình.
8
Hai là: KTTT là thể chế kinh tế vận hành, nó không phải là cơ sở kinh tế
của một chế độ xã hội. Cơ sở kinh tế của một chế độ xã hội là hệ thống quan hệ
sản xuất thống trị, trước hết là chế độ sở hữu quyết định. Cơ sở kinh tế của
CNXH là hệ thống quan hệ sản xuất XHCN dựa trên chế độ công hữu XHCN về
tư liệu sản xuất.
Ba là: KTTT và chủ nghĩa xã hội có thể dung hoà, vấn đề căn bản để hình
thành KTTT là sự tồn tại những chủ thể kinh tế độc lập tự chủ trong sản xuất
kinh doanh, có lợi ích riêng để họ có quyền ra quyết định phi tập trung hoá. Vì
vậy, trong đặc điểm chế động công hữu XHCN cũng có thể thực hiện được chế
độ KTTT.
Tuy nhiên, trong việc phát triển nền KTTT theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, làm thế nào đề có thể giải quyết tốt mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách phân hoá giàu
nghèo, giảm bớt thất nghiệp [Tạp chí cộng sản số 4 (2- 2000)].
3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Trước tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hướng XHCN cũng là một
dạng vật chất, nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật chất xã hội theo sự phân
loại của triết học Mác - Lênin, mà cụ thể là trong những điều kiện không gian và
thời gian theo quan điểm lịch sử cụ thể.
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hơn 10 năm qua
đã góp phần thay đổi bộ mặt đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên
đó chưa phải là cái đích cuối cùng của Đảng ta, bởi nền kinh tế nước ta vẫn còn
chậm phát triển. Khi chúng ta vừa chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp, từ một nền kinh tế yếu kém lạc hậu với hệ thống sản xuất, hệ thống quản lý
kinh tế với những cán bộ mang nặng tư tưởng ỷ lại sang nền KTTT năng động,
do đó khó có thể tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Thêm nữa, thời điểm chúng
ta bắt đầu đổi mới, chuyển sang nền KTTT quá muộn so với các nước trên thế
9
giới và khu vực khi mà các nước tư bản như Mỹ, Nhật, Tây Âu đã tiến hành cơ
chế thị trường và phát triển vượt xa ta mấy trăm năm. Nhờ sử dụng triệt để
KTTT, CNTB đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội, phát triển lực
lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, quản lý xã hội đã đạt được những
thành tựu về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con người nhạy cảm
tinh tế với khả năng sáng tạo và có cả những tiêu cực sự gay gắt dẫn đến tình
trạng "cá lớn nuốt cá bé" sự phân cách giàu nghèo ngày càng lớn, ô nhiễm môi
trường, tài nguyên cạn kệt, tệ nạn xã hội là nước đi sau và theo CNXH, chúng
ta có cơ hội kế thừa và phát triển những thành tựu của nhân loại trước hết là sử
dụng văn minh của KTTT, loại bỏ những khuyết tật của nó để xây dựng CNXH
có hiệu quả.
Chính vì những lẽ đó, chúng ta cần phải vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể
vào việc nghiên cứu quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam.
III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DƯỚI GÓC NHÌN CỦA QUAN ĐIỂM
LỊCH SỬ CỤ THỂ.
1. Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1. Những điều kiện trong nước.
Đầu tiên chúng ta tìm hiểu xuất phát điểm về kinh tế của nước ta khi bắt
đầu đổi mới. Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam năm trứoc đổi mới là tăng
trưởng thấp 3,7% /năm, làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng
lớn. Thu nhập quốc dân trong nước, sản xuất chỉ đáp ứng được 80 - 90% thu
nhập quốc dân sử dụng đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên ngoài chiếm 10,2% thu
nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Cũng
vào các năm đó nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng siêu
10
lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986 kéo theo giá cả leo thang và vô phương
kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài đã để
lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém vơía nền KH - CH, kỹ thuật
lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí nghiệp đều do Liên Xô cũ
giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất lượng kém. Hệ thống giao
thông vận tải vốn không được tốt lại thêm bom đạn của chiến tranh nên ngày
càng xuống cấp. Công nghiệp, dịch vụ hầu như không phát triển, chiếm tỷ trọng
chưa đến 50% GDP còn chủ yếu là nông nghiệp. Bên cạnh đó còn có một hậu
quả nặng nề khác là với cơ chế bao cấp phân phối bình quân, lợi ích của mọi
người đều như nhau dẫn đến việc không phát huy hết năng lực sáng tạo của con
người, lực lượng nhân tài ngày càng giảm sút, trình độ dân trí thấp và đặc biệt
nghiêm trọng là tư tưởng thụ động ỷ lại, thiếu tính năng động quyết đoán ăn sâu
trong người dân và tất cả các cán bộ trong hệ thống quản lý kinh tế.
Thứ hai: Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh
mẽ đến nền kinh tế. Về địa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề ngang
hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự dị sâu sắc về điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội. Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao động xã hội theo
lãnh thổ và chiếm được phát triển các vùng. Ta cũng có thuận lợi là nằm ở Tây
Thái Bình Dương và Đông Nam Á, khu vực phát triển cao, ổn định nơi cửa ngõ
của giao lưu quốc tế. Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển nhiều loại hình
kinh tế khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển, dịch vụ viễn thông du
lịch. Tài nguyên khoáng sản phân bố không đều trên các vùng, ngay ở mỗi vùng
cũng phân tán và thiếu đồng bộ không gắn với nhau gây khó khăn cho việc khai
thác sử dụng chúng và ảnh hưởng đến việc bố chí kinh tế của các vùng. Về dân
số, nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào nhưng phân bố cũng không
đồng đều. Đặc điểm ở cấp vĩ mô, do đất nước bị chia cắt lâu dài, giữa hai miền
11
Nam - Bắc còn có sự khác biệt không nhỏ hoặc khác biệt giữa các vùng, các
khu vực xa xôi hẻo lãnh với những vùng có đô thị tập trung.
Thứ ba: Về chế độ chính trị quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong
những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế quyết định chính trị - chính trị là sự
biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị không phải là mục đích mà chỉ là
phương tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Trong tác phẩm Lutuch Phviobac và
sự các cung của triết học cổ điển Đức F.Enghon đã chỉ rõ: "để thoã mãn những
lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm phương tiện đơn
thuần". Khẳng định đó của Lênin không có nghĩa là phủ nhận vai trò quyết định
của kinh tế đối với chính trị mà muốn nhấn mạnh tác động của chính trị đối với
kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem dét
giải quyết theo một trật lập trường chính trị thống nhất biện chứng với nhau trên
nền tảng quyết định của kinh tế. Sau khi miền Bắc giải phóng và từ sau năm
1975 thống nhất đất nước, cả nước ta đã kiên quyết đi theo con đường XHCN -
đây là lựa chọn tất yếu và đúng đắn. Vì không qua giai đoạn TBCN, chúng ta đã
gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ trong công cuộc xây dựng một hệ thống chính trị
vững mạnh. Thêm vào đó, khi ta đang trong tình trạng đầu của công cuộc đổi
mới, một giai đoạn quan trọng mà chính trị là yếu tố định hướng dẫn đường thì
CNXH ở Liên Xô cũ và các những Đông Âu sụp đổ hàng loạt đã gây nhiều
hoang mang cho Đảng ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng đang có rất nhiều thế lực
phản động không ngừng tìn cách phá hoại, lật đổ chế độ CNXN ở nước ta.
Thứ tư: về văn hoá xã hội. Nói đến văn hoá xã hội của một dân tốc là nói
đến bản sắc cốt cách riêng thể hiện trong những yếu tố cầu thành văn hoá của
dân tộc đó. Theo định nghĩa được thừa nhận khá rộng rãi của UNESCO thì văn
hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người diễn ra trong
quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Qua hàng thế kỷ, các hoạt động
sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền tống, thị hiếu, thẩm
12
mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tốc khẳng định bản sắc riêng của mình,
với chiều dài mấy ngàn năm lịch sử, nước ta có một nền văn hoá lâu dài với các
giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp. Các giá trị đạo đức truyền thống vừa là kết
quả vừa là cơ sở, động lực của quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và giao
lưu văn hoá lâu dài của dân tốc góp phần tạo dựng bản lĩnh dân tộc và nhân cách
con người Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước, lòng thương người, tinh thần đoàn kết
cộng đồng, đức tính cần kiệm, khiêm tốn, giản dị, thủy chung trong đó chủ
nghĩa yêu nước là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, là giá trị cao nhất trong hệ
thống giá trị đạo đức của dân tộc, là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân
ta với bề dày văn hoá cùng với chế độ chính trị đúng đắn là CNXH, chúng ta
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN tiên tiến. Bên cạnh đó nền KTTT năng động và khắc nghiệt rất cần
những nhà quản lý kinh tế tài giỏi sáng tạo, năng động thì chúng ta lại chưa có
được. Nhân dân ta yêu nước, sẵn sàng xả thân hy sinh vì tổ quốc nhưng trong
hoạt động kinh tế thì nhân dân ta vẫn còn thiếu tính năng động, thiếu tính quyết
đoán, thiếu những phẩm chất rất quan trọng của một nhà quản lý ktt.
1.2. Những điều kiện thế giới và khu vực.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc mặc dù thế giới còn nhiều diễn biến phức
tạp nhưng hoà bình và hợp tác là xu thế chủ đạo, là đòi hỏi bức xúc của các dân
tộc và các quốc gia. Các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đạt được
những bước tiến vượt bậc đặc biệt trong lĩnh vực tin học, viễn thông, sinh học,
vật liệu mới và năng lượng mới đang đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá cao độ các
lực lượng sản xuất dẫn đến sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc,
như vậy có nghĩa là ngày nay, không một nền kinh tế nào có thể đứng tách ra
khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình đó đòi hỏi một sự hợp tác ngày càng rộng tạo
nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang
phát triển. Trong lịch sử phát triển của xã hội có lẽ chưa bao giờ có một sự hợp
tác để phát triển rộng rất đan xen lồng ghép và nhiều tầng lớp như hiện nay với
13
sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế như ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam
Á), WTO (tổ chức thương mại thế giới) AFTA, EU
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á. Châu Á
Thái Bình Dương, một khu vực được coi là có nền kinh tế năng động và có tốc
độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm gần đây. Hầu hết các nước
trong khu vực như Singapore, Thái Lan, đều đã tiến hành nền KTTT được mấy
thập kỷ và một số nước đã trở thành các nước công nghiệp mới (NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt ta khác xa về mọi mặt đặc
biệt là về kinh tế, vì thế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức trong quá trình
phấn đấu xây dựng và cải tiến nền KTTT định hướng XHCN.
2. Thực trạng quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam dưới tác động của những điều kiện cụ thể.
2.1. Giai đoạn 1986 - 1991.
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT, do chưa nhận thức
được đầy đủ những yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nên ta đã có một số
chính sách sai lầm.
Một chính sách sai lầm trong giai đoạn hiện nay là tập trung công nghiệp
hoá - hiện đại hoá theo hướng ưu tiên cho công nghiệp nặng. Đây là một sai lầm
nghiêm trọng đã làm mất rất nhiều thời gian, tốn rất nhiều tiền bạc bởi lúc này
với xuất phát điểm và kinh tế rất thấp, cơ sở vật chất, công nghệ còn quá lạc hậu
thêm vào đó là thiếu vốn và thiếu đội ngũ các nhà khoa học tài giỏi.
Trong khi đó ta có đẩy đủ điều kiện để phát triển công nghiệp nhẹ. Sự khéo
léo cần cù của người dân Việt Nam, sự ưu đãi của thiên nhiên khí hậu tạo nền
một nông sản đa dạng phong phú với những điều kiện đó ta hoàn toàn có thể
phát triển những ngành công nghiệp nhẹ mà chỉ cần ít vốn như công nghiệp chế
biến thực phẩm, đồ mỹ nghệ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét