Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta hiện nay


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta hiện nay": http://123doc.vn/document/1036016-moi-quan-he-bien-chung-giua-chinh-sach-kinh-te-va-chinh-sach-xa-hoi-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-o-nuoc-ta-hien-nay.htm




5
nước ta, giải quyết bài toán phát triển kinh tế với bài toán chính sách
xã hội rất cần thiết, tất yếu phải giải quyết trong sự nghiệp cải cách,
đổi mới kinh tế, xoá bỏ sức ỳ và sự trì trệ xã hội, mâu thuẫn và hạn
chế chính sách xã hội do những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung
quan liêu bao cấp ở nước ta, đặc biệt trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Chính vì lý do trên em chọn đề tài
tiểu luận: “Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và
chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở
nước ta hiện nay


6
B. nội dung
I. những vấn đề lý luận cơ bản
1. Mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
1.1.Khái niệm chính sách kinh tế, chính sách xã hội .
1.1.1.Khái niệm chính sách kinh tế .
Chính sách kinh tế là những chủ trương, chính sách cụ thể, những
quy định của nhà nước nhằm điều tiết nền kinh tế với mục đích tăng
trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tăng phúc lợi xã hội.
Chính sách kinh tế bao gồm một số loại chính sách chủ yếu: Chính
sách kinh tế vĩ mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách
kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế .
Các chính sách kinh tế đều nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng hay tăng thêm về sản lượng (thu nhập)
tính cho toàn bộ nền kinh tế hay bình quân đầu người trong một thời
kỳ nhất định.
1.1.2 Khái niệm chính sách xã hội .
Chính sách xã hội là những chủ trương, những chính sách cụ thể,
những quy định của nhà nước duy trì hoặc làm thay đổi những điều
kiện sống của các tầng lớp dân cư, hướng đến sự thịnh vượng của các
tầng lớp dân cư trong xã hội; biểu hiện cụ thể dưới dạng vốn con
người và vốn xã hội.
Chính sách kinh tế tốt là tiền đề cho sự tăng trưởng bền vững về
các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục , sức khỏe và
bảo vệ môi trường vv
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của
hiện tại mà không làm thương tổn khả năng đáp ứng các nhu cầu tương
lai.
Có nhiều quan điểm trong chính sách phát triển kinh tế
Theo P.Todako: Chính sách phát triển kinh tế cần được hiểu như
một quá trình nhiều mặt có liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu


7
, trong thái độ và thể chế cũng như việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
, giảm bớt mức độ bất bình đẳng và xoá bỏ chế độ nghèo đói.
Chúng ta hiểu chính sách phát triển kinh tế là một quá trình tăng
tiến về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm sự gia tăng về sản lượng hay
thu nhập và những biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và xã hội.
1.2. Các chỉ tiêu phản ánh.
1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế thể hiện chính
sách kinh tế đúng dắn .
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP):
Tổng sản phẩm quốc nội là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới tạo ra
trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP):
Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà
tất cả công dân một nước tạo ra và có thu nhập trong năm, không phân
biệt sản xuất được thực hiện ở trong nước hay ngoài nước .
- GDP/người:
+Theo phương pháp quy đổi ngoại tệ trực tiếp:
GDP(đô la)/ P P: quy mô dân số
GDP: quy mô thu nhập
+Theo ngang giá sức mua :
GDP thực tế bình quân đầu người đã được điều chỉnh theo ngang
giá sức mua(1 $ sẽ mua được bao nhiêu GDP của nước đó so với 1 $ sẽ
mua được bao nhiêu GDP tại Mĩ ).
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển xã hội thể hiện chính sách
xã hội đúng đắn.
Để phản ánh sự đúng đắn của chính sách xã hội thể hiển ở sự
phát triển xã hội người ta sử dụng các chỉ tiêu như sau: tuổi thọ bình
quân, tỉ lệ biết chữ , tỉ lệ chết yểu, lượng tiêu dùng Calo/người /ngày,
chi tiêu cho giáo dục , % dân số được hưởng các phương tiện vệ sinh,
hệ số Gini v.v
-Chỉ số phát triển con người (HDI):


8
Là chỉ số để tính trung bình các thành tựu trong phát triển con
người, đó là những thành tựu về những năng lực cơ bản nhất của con
người.
Các bộ phận cấu thành bao gồm:
*Tuổi thọ bình quân.
*Trình độ văn hóa-giáo dục.
*Thu nhập thực tế bình quân đầu người tính theo ngang giá sức
mua(PPP).
-Chỉ số nghèo khổ (HPI).
Là thước đo để đánh giá nghèo đói đa chiều , chỉ số tổng hợp về
sự thiệt thòi của con người được đánh giá trên các khía cạnh : cuộc
sống lâu dài, khoẻ mạnh, tri thức , sự bảo đảm về kinh tế và sự hội
nhập xã hội.
Các bộ phận cấu thành bao gồm:
+ Đối với những nước đang phát triển (HPI 1):
*Tỉ lệ người dự kiến không sống đến 40 tuổi.
*Tỉ lệ mù chữ .
*Tỉ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ y tế , nước
sạch.
*Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.
+ Đối với những nước phát triển (HPI 2):
*Tỉ lệ người dự kiến không sống đến 60 tuổi.
*Tỉ lệ những người chưa đạt được yêu cầu chuẩn về đọc và viết.
*Chỉ số nghèo về thu nhập.
*Sự thiệt thòi trong hòa nhập xã hội.
1.3. Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội nhằm
nâng cao đời sống vật chất và phúc lợi xã hội .
1.3.1 Đặt vấn đề về sự hạn chế của chính sách kinh tế chú trọng tăng
trưởng .
Sau chiến tranh thế giới II vào 1960s các quốc gia đều nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của chính sách kinh tế hướng đến tăng


9
trưởng kinh tế . Họ cho rằng tăng trưởng kinh tế là mục tiêu cơ bản
của mọi xã hội. Kết quả là nhiều nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng
cao, nhưng sự tăng trưởng cao đó mang lại rất ít lợi ích cho người
nghèo . Thể hiện là mức sống của hàng trăm triệu người ở châu Phi,
châu á, Trung Đông dường như không tăng thậm chí còn giảm đi; tỉ lệ
thất nghiệp và bán thất nghiệp tăng cả ở nông thôn và thành thị ; phân
phối bất bình đẳng trong thu nhập tăng dẫn đến tình trạng nghèo tuyệt
đối còn phổ biến.
Những nguyên nhân đó là: Thứ nhất, trong một số trường hợp
Chính phủ muốn tăng thêm sức mạnh quân sự , hoặc danh tiếng của đất
nước và danh tiếng của các tập đoàn cai trị mà đã đầu tư vào hệ thống
quân sự , hoặc các dự án to lớn trong rừng rậm, trên sa mạc , đây là
những đầu tư đưa lại ít ích lợi trực tiếp cho những người dân(tăng
trưởng cao nhờ tăng đầu tư vào những dự án quân sự như trường hợp
của ấn Độ , Pakixtan ; những dự án để xây dựng những thành phố hiện
đại mang tính thí điểm như thành phố Thượng Hải của Trung Quốc.
Thứ hai, do các nguồn lực khan hiếm để tạo ra sự tăng trưởng tiếp
theo, do vậy một bộ phận lớn thu nhập được dùng để tái đầu tư. Nếu
quá trình này tiếp tục trong một thời gian dài thì không những không
nâng cao được đời sống nhân dân mà trái lại còn làm cho mọi tiêu
dùng giảm sút, mặc dù vẫn tạo ra được sự tăng trưởng kinh tế . Thứ
ba, khi thu nhập và tổng quỹ tiêu dùng tăng lên nhưng những người
giàu có lại nhận được toàn bộ hoặc phần lớn phần tăng thêm này, dẫn
đến tình trạng người giàu sẽ giàu thêm, còn người nghèo lại nghèo đi.
Điều đó thể hiện chính sách xã hội đã không được quan tâm đúng mức.
1.3.2. Sự chuyển hướng trong nhận thức (sau năm 1970)
- Những nước phát triển :
Nhấn mạnh trọng tâm vào chất lượng cuộc sống, đặc biệt quan
tâm đến môi trường.
- Những nước đang phát triển:


10
Mục tiêu chính của hoạt động kinh tế là xóa bỏ nạn nghèo đói
phổ biến và sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong phân phối
thu nhập. Đây là những vấn đề cốt lõi của phát triển kinh tế .


11
1.3.3. Quan hệ khách quan, biện chứng giữa chính sách kinh tế và
chính sách xã hội .
Chính sách kinh tế và chính sách xã hội ngoài những mục tiêu
riêng còn có mục tiêu chung là nhằm phát triển con người , đảm bảo
công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, thúc đẩy sự phát triển
của xã hội.
Chính sách kinh tế trước hết nhằm giúp tăng trưởng kinh tế là
điều kiện trước tiên để cải thiện chính sách xã hội, nâng cao phúc lợi
xã hội , khắc phục tình trạng đói nghèo của một quốc gia. Nguyên
nhân đầu tiên của đói nghèo là kinh tế không tăng trưởng . Trong các
xã hội tiền Tư bản chủ nghĩa, kinh tế tăng trưởng rất chậm, vì vậy tình
trạng đói nghèo rất phổ biến .
Chính sách xã hội tất yếu phải dựa trên sự phát triển kinh tế .
Phát triển kinh tế tạo ra cơ sở vật chất để giải quyết vấn đề phúc lợi và
thực hiện tốt các chính sách xã hội. Kinh tế phát triển sẽ nâng cao đời
sống của từng cá nhân và toàn xã hội , tạo điều kiện cho cá nhân tham
gia tích cực vào các hoạt động của cộng đồng, trong đó có hoạt động
phúc lợi xã hội . Kinh tế phát triển, Nhà nước sẽ có nguồn thu để thực
hiện các chương trình phúc lợi xã hội, thự hiện chính sách xã hội. Do
đó , phát triển kinh tế là điều kiện và tiền đề để phát triển và đa dạng
hóa các hoạt động của chính sách xã hội . Chính phủ các nước thường
dành một tỉ lệ nhất định của GNP để chi cho việc giải quyết các chính
sách xã hội nên thu nhập quốc dân càng lớn thì khả năng ngân sách chi
cho chính sách xã hội càng lớn. Nói cách khác , sự quan tâm và mức
chi phí dành cho chính sách xã hội tỉ lệ thuận với phát triển kinh tế .
Điều đó có nghĩa là kinh tế phát triển càng mạnh thì chi tiêu cho thực
hiện chính sách xã hội càng tăng . Chỉ khi tạo ra được một khối lượng
vật chất đáng kể thì mới có thể thực hiện và đáp ứng được các nhu cầu
xã hội ngày một tăng và đa dạng, có thể điều chỉnh , hoàn thiện và
thay đổi các chính sách xã hội .


12
Thực tế cho thấy , về tổng thể , hệ thống chính sách xã hội, phúc
lợi xã hội của các nước có nền kinh tế phát triển tốt hơn hẳn so với hệ
thống chính sách xã hội, phúc lợi xã hội của các nước kinh tế kém
phát triển . Người ta có thể phê phán hệ thống chính sách xã hội, phúc
lợi xã hội của một nước kinh tế phát triển nhưng điều đó chỉ muốn nói
là chính sách xã hội của nước đó chưa tương xứng với tiềm lực kinh tế
có thể đáp ứng được . Ngược lại người ta thường khen hệ thống chính
sách xã hội và phúc lợi xã hội của một nước đang phát triển nào đó là
muốn nói rằng chính sách xã hội và phúc lợi xã hội của nước đó tốt so
với điều kiện nền kinh tế nước đó có thể đáp ứng. Một tỉ lệ nhỏ GNP
của các nước giàu cũng lớn hơn rất nhiều tỉ lệ cao GNP của các nước
nghèo vì GNP của hai nhóm nước quá chênh lệch. Không ai dám khẳng
định rằng chính sách xã hội và phúc lợi xã hội của một nước nghèo về
tổng thể lại hơn được chính sách xã hội và phúc lợi xã hội của một
nước giàu mặc dù có thể phê phán nước giàu hơn về mặt nào đó. Để
phản ánh chính sách xã hội và phúc lợi xã hội của một nước , bao giờ
người ta cũng nhìn đến khả năng kinh tế của nước đó rồi đưa ra những
đánh giá mức độ tương xứng. Như vậy chính sách kinh tế tạo điều kiện
cho tăng trưởng kinh tế là nhân tố khách quan quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp đến chính sách xã hội và phúc lợi xã hội .
Chính sách kinh tế hướng tới sự tăng trưởng kinh tế là một trong
những nhân tố quyết định nhất để đảm bảo phát triển và hoàn thiện các
chính sách xã hội và phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế tạo ra ngày
càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, cơ sở để nâng cao mức sống
người dân, ổn định chính sách hiện tại, đảm bảo cuộc sống tương lai.
Nhờ tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có điều kiện xây dựng những
cơ sở phúc lợi như nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, cơ sở phúc lợi danh
cho người tàn tật, các khu vui chơi giải trí, các bệnh viện mới và hiện
đại, mở mang hệ thống giáo dục, y tế
Nhưng phải chăng cứ có có chính sách kinh tế tốt, nền kinh tế
phát triển thì chính sách xã hội và phúc lợi xã hội sẽ được cải thiện?


13
Tăng trưởng kinh tế không tự nó giải quyết được các vấn đề chính
sách xã hội và phúc lợi xã hội mặc dù Nhà nước vẫn chú ý đến việc
giải quyết việc giải quyết các vấn đề chính sách xã hội và phúc lợi xã
hội như xây dựng mạng lưới y tế đến tận cơ sở , phòng bệnh , chữa
bệnh cho nhân dân, chăm lo đời sống cho các gia đình bộ đội, thương
binh , liệt sĩ, mở mang giáo dục nhằm ổn định xã hội.
Thực tế những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành một số chính
sách chính sách xã hội và phúc lợi xã hội trên tinh thần đổi mới và cố
gắng thực hiện đồng thời cả chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế
và chính sách xã hội . Các chính sách xã hội không tồn tại độc lập mà
nằm trong tổng thể hệ thống chính sách của Nhà nước nên Nhà nước
có vai trò to lớn trong việc quản lý, thực hiện các chính sách xã hội,
tạo ra sự liên kết , thống nhất giữa các chính sách kinh tế và chính
sách xã hội để định hướng và thúc đẩy phát triển kinh tế phục vụ các
mục tiêu chính sách xã hội và nâng cao phúc lợi xã hội , từ việc đảm
bảo lợi ích của các tầng lớp nhân dân đến việc phát triển con người và
hoàn thiện cơ cấu xã hội .
2. Một vài sự lựa chọn giữa chính sách tăng trưởng kinh tế với việc
giải quyết chính sách xã hội trong quá trình phát triển kinh tế của
các nước.
2.1. Quan điểm tăng trưởng trước, bình đẳng sau.
Quan điểm này nhấn mạnh vào chính sách kinh tế thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, coi tăng trưởng kinh tế là đầu tàu để kéo theo sự biến
đổi về cơ cấu kinh tế và xã hội. Thực tế cho thấy, những nước theo
quan điểm này đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao , không ngừng tăng
thu nhập cho nền kinh tế song cũng cho thấy những hạn chế cơ bản của
việc lựa chọn này(nguồn tài nguyên bị kiệt quệ và môi trường sinh thái
bị huỷ hoại nặng nề, cùng với tăng trưởng là những bất bình đẳng về
kinh tế và chính trị xuất hiện tạo ra những mâu thuẫn và xung đột gay
gắt, phá huỷ và hạ thấp một số giá trị truyền thống tốt đẹp như nền
giáo dục gia đình, các giá trị tinh thần , thuần phong mĩ tục , các


14
chuẩn mực dân tộc , sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng đưa đến
những diễn biến khó lường trước làm đời sống kinh tế xã hội bị đảo
lộn , mất ổn định, v.v )
Điển hình theo quan điểm này là Braxin. Braxin phát triển nhanh
nhưng chính sách xã hội và phúc lợi xã hội với con người lại không
được giải quyết tốt. Braxin là một nước lớn, giàu tài nguyên và đã có
những tiến bộ đáng kể trong việc tạo ra một nền kinh tế hiện đại. Một
vài ngành công nghiệp và thành phố có thể sánh được với các nước
phát triển. Ngoài sự nổi tiếng về một số ngành công nghiệp và đô thị ,
Braxin cũng tạo được những tiến bộ quan trọng trong nông nghiệp ,
như sự phát triển của đậu tương , một loại cây xuất khẩu chính b ên
cạnh cà phê và các sản phẩm truyền thống khác. Nhưng sự tăng trưởng
kinh tế của Braxin là không vững chắc và không đồng đều. Tất cả
những người dân Braxin ở phía Đông-Bắc hầu như không được hưởng
thụ lợi ích từ tăng trưởng . Ngay cả những thành phố lớn , hiện đại ở
phía Nam cũng có những khu ổ chuột đáng kinh sợ , đôi khi liền kề
ngay với những khu kiến trúc mới, xa hoa. Nguyên nhân là ở Braxin
quyền sở hữu tài sản được tập trung cao, không có cải cách ruộng đất,
giáo dục chịu tác động nhiều của các yếu tố kinh tế thị trường, trong
công nghiệp và nông nghiệp đều nhấn mạnh đến các cơ sở sản xuất có
quy mô lớn, khuyến khích công nghiệp sử dụng nhiều vốn. Kết quả là
mức độ bất bình đẳng của Braxin là rất cao và có ít tiến bộ trong việc
giảm bớt nghèo khổ mặc dù mức tăng trưởng kinh tế nhanh.
2.2.Quan điểm ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng .
2.2.1 Phân phối trước , tăng trưởng sau.
Đây là quan điểm chủ đạo của các nước đi theo Chủ nghĩa xã hội
sau thế chiến thứ hai. Họ cho rằng , việc tập trung tài sản vào một
nhóm người là trở ngại cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Bất bình
đẳng không chỉ là sự tha hoá phát triển mà còn là trở ngại cho sự phát
triển . Vì vậy phân phối lại là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng , cụ
thể là đoạt từ người giàu chia cho người nghèo . Cơ chế phân phối

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét