Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

Chính sách tỷ giá & tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế ở việt nam

1.1.2. Xác định tỷ giá hối đoái
Do tiền của một nước được trao đổi với tiền của nước khác trên thị trường
ngoại hối nên cầu về ngoại tệ chính là cung về đồng nội tệ và cung về ngoại tệ
là cầu nội tệ. Do đó khi xác định tỷ giá giữa ngoại tệ và nội tệ ta có thể xem xét
hoặc là cầu và cung về ngoại tệ hoặc là cung và cầu về nội tệ. Để tiện phân tích
ta sẽ xem xét cầu và cung về USD và tỷ giá của USD tính theo số VND.
Cung về USD bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế tạo ra thu nhập về đô la.
Nguồn cung quan trọng về đô la trên thị trường ngoại hối là người nước ngoài
hiện tại không có tiền Việt Nam nhưng muốn mua hàng hoá dịch vụ của Việt
Nam. Cầu về USD trên thị trường bắt nguồn từ các giao dịch quốc tế. Ngược
với cung về đô la các công dân và công ty Việt Nam có nhu cầu mua hàng nước
ngoài sẽ có cung nội tệ để chuyển đổi sang đô la.
Khi không có sự can thiệp của NHTW vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái
được xác định bởi sự cân bằng giữa cung và cầu về đô la phát sinh từ các tài
khoản vãng lai và tài khoản vốn của cán cân thanh toán quốc tế, chính là điểm
E
0
ở đồ thị trên. Đó chính là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.
Khi NHTW can thiệp bằng cách thay đổi dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá ở một
mức nhất định đã được công bố trước, ta có chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Muốn cố định tỷ giá hối đoái thấp hơn mức cân bằng thị trường (điểm E
1
) thì
NHTW phải dùng dự trữ ngoại tệ để bán ra thị trường, điều này làm giảm dự
trữ ngoại tệ của NHTW và tăng cung ngoại tệ trong nền kinh tế.
1.2. Chính sách tỷ giá
1.2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà nước
điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục
tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu
sau:
- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suất
trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy
vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung
ngoại hối do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại.
- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trường kéo
tỷ giá tụt xuống và ngược lại. Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối đủ
lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối
thực hiện phương pháp này.
- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhà
nước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh xuất
khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng
thẳng.
- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước
mình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống.
1.2.2. Các công cụ của Chính sách tỷ giá
1.2.2.1. Nhóm công cụ trực tiếp
NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố
định hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục
tiêu đã đề ra. Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra
hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát không
mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can thiệp này của NHTW
thì phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng dư cung hay
bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông.
Nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ được thực hiện thông qua việc NHTW
tham gia mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ. Một nghiệp vụ mua ngoại
tệ trên thị trường của NHTW làm giảm cung ngoại tệ do đó làm tăng tỷ giá hối
đoái và ngược lại. Do đó đây là công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở nội tệ là việc NHTW mua bán có chứng từ có
giá. Tuy nhiên nó chỉ tác động gián tiếp đến tỷ giá mà lại có tác động trực tiếp
đến các biến số kinh tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả). Nó được dùng phối hợp
với nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ để khử đi sự tăng, giảm cung nội tệ do
nghiệp vụ thị trường mở gây ra.
Ngoài ra Chính phủ có thể sử dụng biện pháp can thiệp hành chính như
biện pháp kết hối, quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn
chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy
định hạn chế thời gian mua ngoại tệ, nhằm giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ
và giữ cho tỷ giá ổn định.
1.2.2.2 Nhóm công cụ gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất. Cơ chế tác động đến tỷ
giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay
đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó tác động đến xu hướng dịch
chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho
người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có
lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi vốn của mình sang đồng tiền có lãi
suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể lãi suất tăng dẫn
đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào
trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển
đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm
(nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế quan
cao, quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu
chiến lược. Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều
chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ vớiNHTW, quy định mức lãi suất trần
kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ. Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ
giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân
đối.
1.2.3. Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế
1.2.3.1. Đối với cán cân thanh toán
Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì
trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng xuất nhập khẩu của chính quốc
gia đó. Khi TGHĐ tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước của
hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó, cải
thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Các nguồn lực sẽ được thu
hút vào những ngành sản xuất mà giờ đây có thể cạnh tranh hiệu quả hơn so với
hàng nhâp khẩu và cũng vào ngành xuất khẩu mà giờ đây có thể có hiệu quả
hơn trên các thị trường quốc tế. Kết quả là xuất khẩu tăng nhập khẩu giảm làm
cán cân thanh toán được cải thiện.
1.2.3.2. Với lạm phát và lãi xuất
Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập
khẩu tính bằng nội tệ. Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập
khẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ phá giá. Kết
quả mức giá chung trong nền kinh tế trở nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế
nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao
so với GDP. Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm có nghĩa là
lạm phát đã tăng. Nếu lãi xuất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ kích
thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi xuất
tăng làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế giảm sút.
1.2.3.3. Với sản lượng và việc làm
Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi
TGHĐ tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho
các lĩnh vực này giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm
thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên và ngược lại.
1.2.3.4. Đối với đầu tư quốc tế
- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh. Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được
đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính
thức. Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các
hoạt động đầu tư nước ngoài. Do đó sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất định
tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào
nước sở tại hay không.
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua hoạt động tín dụng quốc tế
cũng như việc mua bán các loại chứng khoán có giá trên thị trường.
Trong một thế giới có sự luân chuyển vốn quốc tế tự do khi TGHĐ tăng tổng
lợi tức từ khoản vay bằng ngoại tệ lớn hơn lãi suất trong nước sẽ xảy ra hiện
tượng luồng vốn chảy ra nước ngoài và ngược lại TGHĐ giảm luồng vốn sẽ đổ
vào trong nước.
Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi
các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp lý giảm
mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.3.5 . Với nợ nước ngoài
Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó
hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự
tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc
tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang phát triển càng cần phải
thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo tăng trưởng và khả năng trả
nợ nước ngoài.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
1.2.4.1. Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ
Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và nguyên tắc
một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá giảm xuống và
ngược lại
1.2.4.2. Cán cân thanh toán quốc tế
Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong những yếu tố kinh tế tác động đến tỷ
giá. Đánh giá chung có tính chất truyền thống đối với sự biến động của TGHĐ,
các nhà kinh tế đều cho rằng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ quốc
gia là những nhân tố cơ bản đứng sau lưng tăng giá TGHĐ.
Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối do vậy,
tác động trực tiếp đến TGHĐ.
1.2.4.3. Yếu tố tâm lý
Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước và tình
hình thế giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh ngoại hối
bao gồm các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và kể cả người đầu cơ
tùy theo sự phán đoán đó mà hành động.
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường tài
chính, trong đó có thị trường hối đoái. Tuy nhiên những biến động này bao giờ
cũng mang tính chất ngắn hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn.
1.2.4.4. Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương
Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do đó vai
trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng. NHTW tự biến mình thành một
bộ phận của thị trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người mua
lúc khác là tư cách người bán, nhằm tác động về phía cung hay cầu của quỹ
ngoại hối thị trường nhằm cho ra một tỷ giá phù hợp như ý đồ của chính sách
tiền tệ. Tuy nhiên điều kiện vật chất để có thể can thiệp là thực lực về tiềm
năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự trữ
quốc gia.
1.2.4.5. Năng suất lao động
Nếu năng suất lao động trong nước có sự gia tăng sẽ làm cho mức giá tương đối
có xu hướng sụt giảm làm đồng ngoại tệ có xu hướng giảm hay đồng nội tệ lên
giá làm tỷ giá giảm xuống.
1.3. Kinh nghiệm của một số quốc gia về chính sách tỷ giá
Hiện nay trên thế giới, các quốc gia nhìn chung đều sử dụng chính sách thả
nổi có quản lý nhưng mức độ quản lý hay thả nổi là khác nhau ở các quốc gia
khác nhau.
1.3.1. Nhóm các nước có đồng tiền mạnh
Những nước này gần như tự do ngoại hối và thống nhất một tỷ giá duy nhất cho
tất cả các hoạt động có liên quan. Các nước này có khả năng dự trữ ngoại tệ của
NHTW dồi dào, có thị trường ngoại hối phát triển ở mức độ cao, các công cụ
gián tiếp mà NHTW sử dụng rất phong phú, đa dạng và có tính chất hỗ trợ
nhau. Điển hình ở nhóm này là Mỹ.
Thị trường tiền tệ, ngoại hối của Mỹ là thị trường phát triển và hoàn chỉnh
vào loại nhất thế giới, nghệ thuật điều chỉnh tỷ giá của họ cũng đạt đến độ hoàn
hảo và có ảnh hưởng toàn cầu. Chính sách đồng đô-la yếu, rơi tự do chính là
yếu tố kích thích xuất khẩu của Mỹ, thúc đẩy tăng trưởng tạo ra nhiều nhu cầu
việc làm, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp vốn vẫn lơ lửng như một mối đe
doạ với siêu cường quốc kinh tế thế giới. Về dài hạn, chính sách này ít nguy cơ
gây tăng mạnh lạm phát và sẽ làm tăng lãi suất và kích thích các nhà đầu tư
nước ngoài tạo ra hàng tỷ đô-la cho Mỹ trang trải các thâm hụt trong ngân sách
và tài khoản vãng lai.
1.3.2. Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan, Nga,
Séc…)
Các nước trong nhóm này đều gắn đồng tiền với một số ngoại tệ nhất định (Ba
Lan với 5 đồng tiền USD, DEN, GBP, FRF, CHF; CH Séc với 2 đồng tiền
DEM, USD) tỷ giá được công bố hàng ngày với mức dao động cho phép.
NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá ra ngoài biên độ dao động. Trong giai đoạn
chuyển sang nền kinh tế thị trường, dự trữ ngoại tệ thấp, thị trường hối đoái và
nội tệ chưa phát triển thì cơ chế trên tỏ ra là một điểm tựa tương đối chắc chắn
cho NHTW trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá. Chúng ta sẽ xem xét trường
hợp của nước Nga.
Trước cuộc khủng hoảng T8/1998, chủ trương thực hiện liệu pháp ‘sốc’ để
cải tổ nền kinh tế, Chính phủ Nga đã áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn
cùng với khá nhiều chính sách tự do hoá trong giai đoạn 91-95. Những đợt phá
giá vô căn cứ đã góp phần tạo ra sự tụt dốc tới 3000 lần của đồng Rúp so với
USD, làm tăng lạm phát trong nước. Ước tính đến năm 1995, tổng giá trị USD
bằng tiền mặt lưu hành quy đổi giá trị so với đồng Rúp đã vượt quá 3 lần, Nga
là quốc gia tầm cỡ duy nhất trong lịch sử phụ thuộc quá nhiều vào đồng tiền
của một quốc gia khác. Ngày 6-7-1995, Chính phủ Nga đưa ra hệ thống ‘hành
lang hối đoái’ nhằm tạo tiền đề cho quá trình cố định tỷ giá đồng tiền này.
Năm 1998, sau khi thay đổi mệnh giá đồng Rúp theo tỷ lệ mới 1/1000 tỷ giá
đồng Rúp giảm xuống còn một con số, Chính Phủ Nga đã quyết định thực hiện
chính sách cố định tỷ giá ở mức 6.2 R/USD. Song với những biến động quá lớn
về giá cả một số mặt hàng chủ chốt trên thị trường quốc tế đã gây nờn khủng
hoảng tiền tệ T8/1998, hệ thống Ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng
thanh toán, khoảng 1/3 ngân hàng bị phá sản, gần 160 tỷ USD nợ nước ngoài
không có khả năng trả Ngày 9/9/1998, Nga đã buộc phải từ bỏ mục tiêu biên
độ tỷ giá và chuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, do thị trường quyết
định, NHTW chỉ có nhiệm vụ ngăn chặn sự dao động quá nhiều của tỷ gía.
T7/2004, NHTW Nga đã quyết định chuyển sang hệ thống mới, tỷ gía được xác
định trên cơ sở tỷ giá bình quân của đồng Rúp so với USD và € .
Ta rút ra những bài học:
+ Cơ chế điều hành TGHĐ cần được đặt trong mối quan hệ với lãi suất và
lạm phát, phù hợp với từng thời kỳ nhất định, phối hợp song song với chính
sách kinh tế trên tất cả ngành lĩnh vực khác.
+ Sự phá giá vô căn cứ đồng tiền quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi và
chính sách thả nổi khiến đồng tiền nội tệ bị mất giá nghiêm trọng, lạm phát gia
tăng khó kiểm soát làm tháo chạy dòng vốn đầu tư nước ngoài, giảm tốc độ
tăng trưởng.
+ Cơ chế TGHĐ thả nổi nếu được đặt trong biên độ dao động nhất định có
thể thành công và thích hợp với công cuộc cải cách kinh tế- xã hội.
1.3.3. Nhóm các nước Châu Á và khu vực ASEAN
Các nước ASEAN đa số đều thả nổi TGHĐ, không quy định giới hạn với các
NHTM. Đa số các nước này có thị trường hối đoái phát triển, thị trường chứng
khoán có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới, mức dự trữ ngoại tệ lớn đủ
điều kiện để tiến tới tự do hoàn toàn, NHTW có đủ sức cũng như các công cụ
để can thiệp trong trường hợp cần thiết.
Trung Quốc là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh và hàng đầu ở Châu
Á, T4/1994 Chính Phủ nước này đã chính thức công bố thực hiện chính sách
TGHĐ “thả nổi có quản lý”: tỷ giá đồng NDT được dao động trong một biên độ
hẹp và NHTW có thể điều chỉnh tỷ giá mục tiêu trên cơ sở các biện pháp kiểm
soát chặt chẽ vốn vào ra của Chính phủ. Điều này không những làm ổn định
tiền tệ mà còn tạo được lòng tin của nhõn dõn thông qua việc đưa đồng tiền đến
gần giá trị thực của nó. T12/1996, NDT được chính thức chuyển đổi trong các
giao dịch trên tài khoản vãng lai sau khi đựơc ấn định ở mức 8.27
NDT/USD( biên độ dao động 0.125% ). Chế độ tỷ giá mới này đã biến Trung
Quốc thành khu vực an toàn, thu hút đầu tư rất mạnh kể cả trong thời kỳ khủng
hoảng khu vực, thay thế Mỹ trở thành nước thu hút FDI lớn nhất thế giới, dự
trữ ngoại tệ chỉ xếp sau Nhật Bản. Vai trò của đồng NDT ngày càng được củng
cố và nâng cao trên khu vực và thế giới.
Ngày 31/7/2005, Trung Quốc tuyên bố TGHĐ đồng NDT căn cứ vào “giỏ”
ngoại tệ gồm USD, €, Ơ và đồng won Hàn Quốc. NHTW Trung Quốc mới đây
đã tăng giá NDT 2% nhằm làm dịu tình trạng mất cân bằng trong mậu dịch đối
ngoại của Trung Quốc, mở rộng kích cầu trong nước cũng như nâng cao mức
cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường quốc tế, nâng cao hiệu quả tận dụng
vốn nước ngoài…Người phát ngôn NHTW Trung Quốc cho biết: hiện nay khâu
quản lý ngoại tệ của nước này đã được nới lỏng dần dần, việc xây dựng thị
trường ngoại tệ không ngừng tăng cường, các cuộc cải cách tiền tệ đã thu được
tiến triển thực chất, kiểm soát vĩ mô thu được thành quả nổi bật, kinh tế quốc
dân tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ồn định.Vì vậy Trung Quốc chọn thời điểm
này để thực hiện cải cách tỷ giá.
Kết luận: Khi có một thị trường hối đoái và nội tệ phát triển ở mức cao có
đầy đủ công cụ gián tiếp giúp NHTW linh hoạt trong can thiệp và trung hoà
giữa các chỉ tiêu của chính sách tiền tệ.Bản thân nền kinh tế đó cũng phải phát
triển mạnh, có dự trữ đồng tiền có sức mạnh và có khả năng chuyển đổi, ổn
định tương đối.
có xu hướng tăng giá.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM
Tiêu chí phân chia giai đoạn: dựa vào cách xác định tỷ giá và chính sách tỷ giá
qua các thời kỳ.
2.1. Giai đoạn trước 1989: Cố định và đa tỷ giá
2.1.1. Bối cảnh kinh tế
• Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và hướng
nội. Đây là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
• Các bạn hàng chủ yếu là các nước XHCN trong hội đồng tương trợ kinh tế.
Hình thức trao đổi thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các nước theo
một tỷ giá đã được thoả thuận trong hiệp định ký kết song phương hay đa
phương.
2.1.2. Chính sách tỷ giá (phương pháp xác định, chính sách quản lý)
• Tỷ giá trong giai đoạn này được xác định dựa trên việc so sánh sức mua giữa
hai đồng tiền, sau đó được qui định trong các hiệp định thanh toán được ký kết
giữa các nước XHCN.
- Tỷ giá của Việt Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955
là tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ (CNY) và VND. 1CNY=1470VND. (Tỷ giá
này được xác định bằng cách chọn ra 34 đơn vị hàng hóa cùng loại, thông dụng
nhất, tại cùng một thời điểm tại thủ đô và có tham khảo thêm giá cả ở một số
tỉnh khác để qui đổi ra tổng giá cả của 34 mặt hàng đó theo hai loại tiền của 2
nước.)
- Sau đó, khi Việt Nam có quan hệ ngoại thương với Liên Xô, tỷ giá
giữa VND và đồng Rúp (SUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa CNY và SUR đã
có từ trước. 1 SUR = 0.5 CNY ⇒ 1 SUR = 735 VND.
• Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này được giữ cố định trong một thời gian
dài.
• Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là “đa tỷ giá” tức là việc
tồn tại song song nhiều loại tỷ giá: tỷ giá chính thức, phi mậu dịch, kết toán nội
bộ.
- Tỷ giá chính thức: (còn gọi là tỷ giá mậu dịch) là tỷ giá do ngân hàng
nhà nước công bố và dùng để thanh toán mậu dịch với Liên Xô và các nước
XHCN khác. Đây là tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán
hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước trong phe XHCN.
- Tỷ giá phi mậu dịch: là tỷ giá dùng trong thanh toán chi trả hàng hóa
hoặc dịch vụ vật chất không mang tính thương mại . Như: chi về ngoại giao,
đào tạo, hội thảo, hội nghị …
- Tỷ giá kết toán nội bộ: được tính trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng
thêm hệ số phần trăm nhằm bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu. Tỷ giá này không
công bố ra ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ. Nó thoát ly tỷ giá
mậu dịch nhằm bù đắp những khoản thua lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp nhà nước. Đây thực chất là một hình thức bù lỗ có tính
chất bao cấp thông qua tỷ giá.
2.1.3. Tác động đến nền kinh tế
• Thực ra trong giai đoạn này do quan hệ thương mại đầu tư của Việt Nam và
khối SEV là quan hệ hàng đổi hàng, mang nặng tính chất viện trợ, việc di
chuyển, chuyển giao về ngoại tệ là không có nên việc quy định tỷ giá hối đoái
giữa VND và các ngoại tệ khác chỉ mang tính hạch toán.
• Quan hệ về cung cầu ngoại hối trên thị trường đã không được phản ánh đúng
đắn trong tỷ giá. Biểu hiện rõ nhất của tình trạng này là việc tồn tại một thị
trường “chợ đen” với một tỷ giá khác xa tỷ giá chính thức. (Tham khảo bảng xx
trong phần phụ lục.)
• Do đồng tiền Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền tự do
chuyển đổi nên:
- Cán cân thương mại bị thâm hụt nặng, xuất khẩu gặp nhiều bất lợi
trong khi nhập khẩu thì có lợi và thường xuyên tăng lên. Hậu quả là hàng nội bị
hàng ngoại chèn ép, sản xuất trong nước bị đình đốn.
- Nhà nước phải áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ để bù lỗ cho các đơn vị
sản xuất hàng xuất khẩt nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa đủ bù đắp
chi phí sản xuất.
- Cán cân thanh toán bị bội chi, dự trữ ngoại tệ bị giảm sút, phản ứng
của chính phủ lúc này là tăng cường quản lý ngoại hối, bảo hộ mậu dịch và
kiểm soát hàng nhập khẩu. Nhưng từ đó nảy sinh tình trạng khan hiếm vật tư,
hàng hóa, nguyên vật liệu cần thiết khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, sản
xuất trong nước trì trệ, đình đốn lại càng trở nên tồi tệ, sức ép lạm phát tăng
vọt.
2.2. Thời kỳ 1989-1991 : “Thả nổi” tỷ giá hối đoái
2.2.1. Bối cảnh kinh tế.
• Đông Âu, Liên Xô sụp đổ.
• Quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường truyền thống bị gián
đoạn, khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng
đồng Đô-la Mỹ.
• Quá trình đổi mới kinh tế thực sự diễn ra mạnh mẽ bắt đầu từ năm 1989.
Chính phủ cam kết và thực thi chiến lược ổn định hóa nền kinh tế - tài chính –

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét